Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Bài thơ dâng mẹ



Những giọt nước mắt còn sót lại
mười năm lưu lạc giữ gìn
cuối cùng cũng phải …buông rơi
câu thơ… lạc lõng… chơi vơi…
dối gian… mặn đắng… xé lòng…
chấm câu.

Tình như sợi khói
cháy từ xác thân
kiếp người có bấy nhiêu năm
dời người có mấy nhiêu năm sống thừa?

Nhớ ngày xưa mẹ bảo
con ơi đừng mộng mơ
con ơi đừng làm thơ
con ơi đừng mơ làm thi sĩ...

Mang trong thân dòng máu nghệ sĩ
tôi đi tìm Chân- Thiện – Mỹ nơi em
như một mảnh đời lưu lạc
thượng đế lấy đi khi tôi mới sinh thành.

Tôi nhặt từng cô đơn trên con đường tìm kiếm
qua những đau thương vỡ vụn tin yêu
đủ cho nước mắt đổi dòng
thấm mặn trái tim
trầm tích

Em cũng như tôi
mang sự bình yên cô độc
trong tâm hồn nghệ sĩ mong manh
lội ngược dòng tìm hạnh phúc

Tôi va vào em trong bóng đêm mờ mịt
tim bỗng cuộn trào ngọn sóng khát khao
để nhận ra nhau trong nỗi đau muộn màng
đâu đủ đầy cho xích xiềng bình yên nơi em tan vỡ

Tôi bước vào cơn mơ muôn thuở
một bình nguyên bát ngát tận chân trời
và bật khóc sau bao năm gìn giữ
để hạnh phúc vỡ òa theo mỗi bước chân đi…

Tôi tự lừa dối mình
lừa dối em
để có được niềm cô đơn trọn vẹn
bùng nổ ngục tù tỏa sáng thăng hoa.

Nhớ ngày xưa mẹ bảo
con ơi đừng làm thơ
con ơi đừng mơ làm thi sĩ…

Một mai mẹ đi…
con sẽ không còn nước mắt khóc mẹ
chỉ có dòng thơ
treo giữa trời mơ…

mê tín dị đoan và tín ngưỡng


Nguyễn Nhân Trí





Đại Ý:

– Mê tín dị đoan là những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức – nhất là khi những niềm tin hay ý niệm nầy không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ.

– Nếu so sánh về nguồn gốc và bản chất thì sẽ thấy mê tín dị đoan và tín ngưỡng khác nhau rất ít.

– Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép mầu”. Nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”.

– Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của họ. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ.

Nói về “mê tín dị đoan” là người ta nghĩ ngay đến thầy pháp, đồng cốt, bùa ngãi, bói toán, xin xâm, xủ quẻ, coi tướng số, cúng sao, đốt giấy tiền vàng bạc, v.v. và v.v.

Định nghĩa

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “mê tín dị đoan”. Chỉ cần google “mê tín dị đoan” hay “superstition” là sẽ thấy hàng trăm cách nhìn về mê tín dị đoan. Phần đông các cách nhìn nầy đều có những điểm tương tự với nhau nhất là khi diễn giải chữ “mê tín dị đoan” theo nghĩa từng từ đơn của nó: từ Hán âm Việt “mê” có nghĩa là “thiếu sáng suốt” hay “lầm lẫn”; từ “tín” có nghĩa là “tin” hay “không ngờ vực”.

Theo Wikipedia thì “mê tín dị đoan là những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức – nhất là khi những niềm tin hay ý niệm nầy không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ”.

Collins Discovery Encyclopedia, 1st edition HarperCollins Publishers 2005 đi vào chi tiết kỹ càng hơn và định nghĩa mê tín dị đoan là:
1. “Những niềm tin vô căn cứ dựa trên sự thiếu hiểu biết hay sự sợ hãi và tiêu biểu như sự sùng bái cực đoan các điềm gỡ, bùa phép, v.v.”
2. “Những ý niệm, hành động hay nghi lễ phát xuất từ các niềm tin kể trên”.
3. “Bất cứ những niềm tin vô căn cứ nào, nhất là niềm tin về vấn đề huyền bí”.

Theo một định nghĩa khác, mà tôi thường dùng, thì “mê tín dị đoan là niềm tin cho rằng một hiện tượng xảy ra vì là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệ nguyên nhân hậu quả gì giữa những hiện tượng nầy”.

Nguồn gốc và bản chất

Mê tín dị đoan sinh ra và tích lũy lại từ sự thiếu hiểu biết của con người trong những niên đại mà khoa học chưa được lập thành hay phát triển.

Bản năng tự nhiên, và nhu cầu sinh tồn, của con người thúc đẩy họ phải tìm ra những giải thích “thỏa đáng” cho chính họ về những hiện tượng xảy ra chung quanh. Tại sao khi thì săn bắt được nhiều thú rừng, khi thì không? Tại sao năm nay cây trái mùa màng lại thấp kém hơn những năm trước? Tại sao nếu sáng nào bà X vào mua hàng đầu tiên ở cửa tiệm của mình rồi thì suốt ngày đó sẽ buôn bán ế ẩm? Tại sao cái computer trong văn phòng của mình lại hay bị hư khi mình mặc áo màu đen đi làm?

Sự sợ hãi về các hiện tượng thiên nhiên và “siêu nhiên” vẫn còn tác động mãnh liệt trong tiềm thức con người ngày nay không khác gì trong ông cha họ lúc còn ăn lông ở lỗ. Những người có nghề nghiệp càng nguy hiểm, càng bấp bênh, càng tùy thuộc vào thiên nhiên thì thường càng có nhiều thủ tục mê tín gắn liền vào cách thức, lề lối sinh sống hàng ngày của họ.

Khi một đứa trẻ mới sinh ra, trong người của nó không có sẵn một chút mê tín dị đoan nào cả. Nhưng khi lớn lên, đứa trẻ dần dần học được những hành động, những phản ứng, những cách suy nghĩ nầy qua gia đình và xã hội chung quanh. Đại đa số những tập tục mê tín trong gia đình của cha mẹ sẽ được truyền qua gia đình của con cái trong tương lai, cộng thêm (hay trừ bớt) một số những mê tín khác mà những đứa con nầy thu lượm từ bạn bè, thân quyến chung quanh.

Phân loại và thí dụ

Nói chung các mê tín dị đoan có thể được chia ra làm bốn dạng sau đây.

Dạng thứ nhất là những nghi thức, cử chỉ xuất phát từ truyền thống hay thói quen. Thí dụ như đi xin xâm, hái lộc trong ngày Tết, bói bài, xem chỉ tay, xem tướng, tử vi, cúng sao giải hạn, đốt giấy tiền vàng bạc trong tang lễ, nấu cơm canh mời ông bà tổ tiên về dùng, v.v. Tất cả những điều nầy đều được truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, cha mẹ dạy con cháu làm theo, người nầy bắt chước người khác và được thực hành một cách máy móc không có sự suy nghĩ chính đáng. Đa số những mê tín dị đoan dưới dạng nầy thường được ẩn núp sau danh nghĩa “phong tục cổ truyền” hay ngay cả “tín ngưỡng dân gian”.

Dạng thứ hai là những điều tốt lành cũng như những điều kiêng cử. Nhiều người tin rằng nếu họ làm (hay không làm) những điều nầy thì sẽ có ảnh hưởng đến sự thành công (hay thất bại) của những chuyện khác (mặc dù những chuyện nầy không hề có một liên quan gì đến những đìều trên cả). Thí dụ như nếu cử hành cưới hỏi, khai trương tiệm quán, xuất hành đi xa, v.v. trong những ngày “xấu” (mùng năm hay mười bốn hay hăm ba âm lịch) thì cuộc hôn nhân sẽ lận đận, tiệm quán sẽ ế ẩm, cuộc du hành sẽ gặp trắc trở, v.v. Trái lại nếu lựa ngày “hạp” và giờ “tốt” (như “giờ hoàng đạo”) thì vợ chồng sẽ hạnh phúc, làm ăn phát đạt, chuyến đi sẽ an toàn dễ dàng, v.v. Những thí dụ tương tự khác như cất nhà phải theo đúng phép phong thủy, lựa người “mở hàng” buổi sáng, vợ chồng cần phải “hạp” tuổi, không được mở dù trong nhà, v.v.

Dạng thứ ba là những điềm tiên báo: điềm gở cũng như điềm tốt. Thí dụ nhiều người tin rằng có chim cú đến nhà là điềm sắp có người chết, gương vỡ sẽ xui xẻo 7 năm, mắt trái giựt là sắp có chuyện đáng lo, gặp mèo đen đi ngang trước mặt sẽ gặp tai nạn, nằm mộng thấy quan tài là sắp có tiền, chó lạ đến nhà là điều thành lợi trong khi mèo đến nhà là điềm thua mất (“mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”), v.v.

Và dạng thứ tư là sự tôn thờ sùng bái những cá thể siêu hình vì họ tin rằng những cá thể nầy có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe hay diễn tiến sự việc hay kết quả thành bại trong đời sống họ hoặc có thể cứu vớt họ vào một thế giới trường cửu nào đó sau khi chết. Thí dụ như thần cây đa, ma xó, ông Địa, Thần Tài, v.v.

Vài thí dụ khác:

Nhiều chủ tiệm, chủ cửa hàng rất tin vào việc "đốt phong long": họ tin rằng nếu đốt giấy tiền vàng bạc (có khi với nhang đèn hay có khi chỉ cần đốt vài mảnh giấy trơn) trước cửa hàng khi buôn bán ế ẩm thì sẽ xua đuổi được sự xui xẻo và khách hàng sẽ đến.



Nhiều vận động viên tin rằng nếu họ mặc một quần áo nào đó trong người hay làm một cử chỉ gì đó trước khi hay trong khi tranh giải hay tham dự cuộc đua thì họ sẽ được may mắn và chiến thắng (Ngôi sao bóng rỗ lừng danh Michael Jordan luôn luôn mặc một chiếc quần lót cũ mà anh đã từng mặc từ khi chơi cho đội banh trường của anh ở North Carolina bên trong đồng phục chính thức để được may mắn; tay quần vợt quốc tế Bjorn Borg không bao giờ cạo râu nếu anh đang trên đà thắng trận trong các cuộc tranh giải). Thí dụ nầy cũng tương tự cho vô số những người lính trong thời kỳ chiến tranh: hiện tượng phổ thông nhất là việc họ đeo đủ loại bùa để hy vọng súng đạn không phạm vào người họ.

Vài tính chất chung

Hầu hết các mê tín dị đoan đều mang một số tính chất chung.

1/ Đặc điểm chung và nổi bật nhất của các loại "mê tín dị đoan" là người ta thường làm (hoặc tránh làm) một hành động gì đó để mong muốn cho một sự việc gì khác xảy ra (hoặc không xảy ra) trong khi thật sự thì hành động đi trước không tạo thành hay gây ra sự việc theo sau.

2/ Mê tín dị đoan được truyền bá sâu rộng trong mọi tầng lớp, mọi chủng tộc, mọi thời điểm trong lịch sử con người.

Không có dân tộc nào, không có xã hội nào không chịu ảnh hưởng bởi mê tín dị đoan. Một số xác suất thống kê cho rằng không dưới khoảng 2/3 dân số của hầu hết bất cứ quốc gia nào trên thế giới từ Đông sang Tây nhìn nhận rằng họ ít nhiều tin và thực hành một số điều được định nghĩa là mê tín dị đoan.

Tôi cho rằng số người thật sự tin và thực hành những điều mê tín dị đoan lớn hơn 2/3 rất nhiều. Phần lớn những người không nhìn nhận họ mê tín dị đoan vì họ cảm thấy ngượng ngùng khi làm việc nầy. Họ ngượng ngùng vì ngay chính họ cũng nhận thấy rằng những điều họ làm là vô cớ, vô lý và không dựa vào một cơ sở lý luận hay nguyên cớ chính đáng nào cả.

Nhiều người khác không nhìn nhận họ mê tín dị đoan vì một số những gì họ tin và làm đã trở thành một phần quá quen thuộc trong cuộc sống của họ nên họ không thể nào còn có thể phân biệt và nhận thức chúng là mê tín dị đoan nữa.

Tôi tin rằng không ai hoàn toàn không mê tín dị đoan cả. Nhất là khi dựa vào định nghĩa trên: "mê tín dị đoan là niềm tin cho rằng một hiện tượng xảy ra vì là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệ nguyên nhân hậu quả gì giữa những hiện tượng nầy".

3/ Nhiều tập tục mê tín dị đoan bắt nguồn từ các lý do cần thiết thực dụng nhưng dần dần đều biến dạng và mất hết ý nghĩa lẫn mục đích ban đầu.

Thí dụ như nhiều người miền nam Việt Nam cho rằng nếu bị cây "đòn vông" của bất cứ nhà hàng xóm nào xỉa vào nhà họ thì trong gia đình sẽ bị nhiều điều xui xẻo (loại nhà Việt Nam cổ truyền phổ thông thường có một gian hai mái và cây "đòn vông" là cây đà ngang nằm ở trên đỉnh cao nhất của nóc nhà và theo chiều dài căn nhà).

Người ta không hiểu rằng trong các thành thị hay làng xóm thời xưa một trong những cách để giúp cho đường xá nhà cửa được ngay hàng thẳng lối thì nhà cầm quyền ra lệnh khi cất nhà phải cất thế nào mà cây đòn vông không được xỉa vào các nhà lân cận. Nếu thực hiện điều nầy thì tất cả căn nhà lân cận đều nằm tương đối song song với nhau và như vậy xóm làng phố xá sẽ trật tự ngăn nắp và dễ dàng có chỗ giao thông đi lại. Nếu ai cất nhà mà đòn vông không song song với hàng xóm thì sẽ bị láng giềng làng xã phiền hà cho rằng làm như vậy không tốt. Sự kiện nầy được truyền miệng từ người nầy sang người khác, từ địa phương nầy sang địa phương khác, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.

Quan niệm đòn vông xỉa vào nhà từ chỗ "không tốt" vì mất trật tự dần dần trở thành "không tốt" cho công việc buôn bán làm ăn và sức khỏe của gia đình. Ngày nay không còn mấy người nhớ và biết cái tục lệ nầy đã phát xuất từ đâu.

Thí dụ như theo phép phong thủy thì nếu một căn nhà mà cửa trước ăn thông suốt một đường với cửa sau thì “tiền bạc làm ăn được trong gia đình sẽ trôi tuột đi mất cả”. Người ta không thấy rằng các lý do thật sự để tránh lối kiến trúc nầy rất thực tế. Đó là vì nó không an toàn dễ bị kẻ trộm cắp nhòm ngó, là vì gió lạnh dễ thông luồn vào nhà gây ra bệnh hoạn do đó hao tốn tài của, v.v. Tuy vậy, cái quan niệm “cất nhà với cửa trước ăn thông suốt thẳng đường với cửa sau là không tốt" trên dần dần mang thêm những ý nghĩa huyền bí liên quan đến tình trạng tài chính và sức khỏe của gia đình.

4/ Mê tín dị đoan nầy có khuynh hướng sinh sản ra mê tín dị đoan khác.

Thí dụ như từ quan niệm "đòn vông" kể trên, dần dần các thầy địa lý, thầy tướng, thầy bùa lại bày vẻ thêm là nếu bị cây đòn vông của hàng xóm "chiếu" vào nhà thì cần phải "thỉnh" (có nghĩa lả "mua") một tấm kính mang hình bát quái đồ treo trước cửa để "phản chiếu" những chuyện rủi ro ra khỏi nhà! Từ đó sinh ra sự tin tưởng rằng mỗi nhà cần phải có một tấm kính treo trước cửa để tránh chuyện xui xẻo bất kể là nhà có bị đòn vông của hàng xóm xỉa vào hay không.

5/ Khi nói về “mê tín dị đoan” là nhiều người nghĩ rằng “những người mê tín mới làm những chuyện vớ vẩn kể trên chớ tôi thì không bao giờ…”

Voltaire cho rằng một người mê tín cũng như một kẻ nô lệ bị trói buộc bởi những nỗi lo sợ vô cớ do chính mình áp đặt lên cho mình. Theo ông thì trên thế giới có hai nhóm người rõ rệt: một nhóm không mê tín, một nhóm mê tín; và ai cũng nghĩ là mình thuộc về nhóm thứ nhất.

Tùy một người là ai mà họ thấy cái gì là mê tín, cái gì là không.

Một người Pháp chẳng hạn, khi đi qua nước Ý sẽ thấy hầu như mọi thứ chung quanh ông ta đều có dính dáng đến mê tín dị đoan. Như đã thấy ở trên, khi một người Á Đông đọc về những mê tín của Tây Phương chẳng hạn, họ sẽ cười mà cho rằng những dân tộc nầy quả thật là chậm tiến và mê muội. Ngược lại một người Tây Phương cũng có các phản ứng tương tự khi đọc về tín ngưỡng Đông Phương.

6/ Nhiều hiện tượng, nhiều sự kiện trong đời sống hàng ngày thường được người ta dựa trên mê tín dị đoan mà diễn giải khác nhau (có khi hoàn toàn trái ngược hẳn nhau) tùy vào văn hóa, phong tục địa phương.

Theo tập tục Việt Nam thì chim cú mang đến điềm gỡ lớn (gia đình sắp có người chết) trong khi theo người Tây Phương thì con cú mèo biểu tượng cho sự thông thái minh mẫn (vì đôi mắt to lớn kèm với nhãn lực siêu việt có thể nhìn thấy mọi sự việc).

Ảnh hưởng

Vài ảnh hưởng của mê tín dị đoan lên đời sống hàng ngày là:

– Mê tín dị đoan có thể đem đến hy vọng và hỗ trợ tinh thần trong hoàn cảnh khó khăn, bấp bênh.

– Mê tín dị đoan thường tạo ra những sự sợ hãi, lo lắng không cần thiết.

– Mê tín dị đoan có thể làm cho công việc bị đình trệ hay hủy bỏ vô ích.

– Người mê tín dễ bị lạm dụng để làm tiền hay kềm chế, điều khiển.

– Những điều tai hại từ mê tín dị đoan của một người thường làm ảnh hưởng đến những người khác chung quanh họ.

Lý do mà mê tín dị đoan thịnh hành và trường tồn

Đó là vì người ta tin rằng những niềm tin nầy đem lại kết quả họ mong muốn.

Họ cho rằng nhờ tác động A của họ mà sự kiện B xảy ra (bất kể là tác động A và sự kiện B có một liên quan hệ quả gì trên bất cứ phương diện gì hay không).

Thật ra chỉ cần dựa trên nguyên tắc xác suất thống kê cơ bản thì ai cũng có thể thấy rằng trung bình số lần họ đạt được kết quả mong muốn sẽ là 50%. Có nghĩa là bất kể tác động A có xảy ra hay không thì số lần sự kiện B xảy ra thông thường cũng vẫn sẽ ngang ngữa với số lần sự kiện B không xảy ra. Tuy nhiên, bản năng tâm lý tự nhiên của con người làm cho họ chỉ nhớ đến những lần họ thành công, còn số lần còn lại khi thất bại thì họ có khuynh hướng hoặc không kể đến, hoặc tự đỗ thừa cho rằng vì các lý do khác nào đó mà họ không thành công, hoặc chỉ giản dị quên mất chúng đi trong tương lai.

Sẽ có những lần sau khi người chủ tiệm đốt phong long mà vẫn số khách hàng đến cửa hàng vẫn không nhiều hơn. Nhưng cũng có những lần sau khi đốt phong long thì có đông khách hàng hơn (vì lý do gì khác không biết). Người chủ tiệm sẽ có huynh hướng nhớ đến những lần có khách đông nầy và cho rằng việc đốt phong long có hiệu nghiệm trong khi họ sẵn sàng quên mất hay không kể đến những lần không có được thêm khách gì cả.

Dựa trên những lần mà một người cho rằng niềm tin của họ “hiệu nghiệm”, trong tương lai họ lại càng có khuynh hướng tin tưởng thêm nữa. Họ cho rằng ngay cả nếu niềm tin gì đó của họ dù chỉ có hiệu nghiệm một vài lần mà thôi thì cũng vẫn đáng để tiếp tục làm nữa.

Nhiều người tuy không tin tưởng hoàn toàn vào một số điều nằm trong phạm trù “huyền bí” hay “khó giải thích” nhưng họ vẫn thực hành những điều nầy để cho “chắc ăn”. Nếu làm một động tác gì đó tuy không chắc sẽ mang đến kết quả mong muốn nhưng nhiều người cũng vẫn sẽ làm phòng hờ vì họ e ngại “nếu lỡ nó có hiệu nghiệm thật sự lần nầy thì sao!?” Khi vào khách sạn nếu có dịp lựa chọn giữa hai căn phòng y hệt nhau về mọi mặt chỉ trừ việc một trong hai phòng mang số 13 thì đa số sẽ tránh không chọn căn phòng mang số 13.





Mê tín trở thành những thói quen phiền toái, tốn kém. Tuy vậy đây là những thiệt thòi người ta sẵn sàng đánh đổi để cho họ cảm thấy an tâm và “an toàn” hơn. Người ta tin tưởng một cách nghiêm cẩn và chăm chỉ về những hiện tượng huyền bí “nho nhỏ” nầy, tuy rằng không ai thật sự hiểu rõ nguồn gốc hay cách vận hành của chúng ra sao.

Mê tín dị đoan khác tín ngưỡng thế nào?

Nếu so sánh về nguồn gốc và bản chất thì sẽ thấy mê tín dị đoan và tín ngưỡng khác nhau rất ít.

Một số mê tín dị đoan ngày nay rất có thể là dấu tích của những tín ngưỡng tôn giáo trong thời xa xưa.

Thí dụ như nhiều người tin rằng Thứ Sáu mười ba là một ngày rất xui xẻo. Một trong những cách giải thích là theo Kinh Thánh, ngày thứ Sáu là ngày Eva dụ Adam phạm tội, cũng như là ngày trận Hồng Thủy bắt đầu, cũng như là ngày Jê-Su bị đóng đinh; kết hợp với việc trong buổi ăn cuối cùng của Giê-Su có 12 người tham dự, với người thứ 13 là Ju-da, kẻ đã phản bội Giê-Su.

Một thí dụ khác là người Tây Phương ngày nay vẫn thường buột miệng nói “Xin Chúa ban ơn!” (“bless you!”) sau khi thấy một người nhảy mũi. Vào thế kỷ thứ 6, người ta tin rằng khi nhảy mũi thì cánh cửa thông thương giữa linh hồn trong người với thế giới bên ngoài tạm thời mở ra và do đó dễ bị ma quỷ nhập vào ám hại. Về sau, khi có bệnh dịch lan tràn, nhiều người bị nhảy mũi dữ dội khi bị nhiễm bệnh, Đức Giáo Hoàng đương thời ra lệnh phải xin Chúa độ ơn khi thấy một người vừa nhảy mũi (vì với trình độ y khoa sơ đẳng của thời ấy, rất nhiều người sẽ chết khi bị nhiễm dịch).
Theo tôi, nếu nhìn về một phương diện khác thì mê tín dị đoan và tôn giáo đều được bắt đầu từ một nguồn gốc chung. Cả hai đều có những đặc điểm rất tương đồng với nhau như sau:

– Cả hai đều được thành hình từ nhu cầu cần thiết để cố gắng giải thích về những hiện tượng khó hiểu chung quanh con người.

– Cả hai đều gán ghép những liên hệ nguyên nhân hậu quả vào một số hiện tượng mà không hề chứng minh rõ ràng được về những mối liên hệ nầy.

– Cả hai đều dựa lên một nền tảng chung để truyền bá và vận hành, đó là sự sợ hãi.

– Cả hai đều chỉ có giá trị giới hạn trong một tập thể, một địa phương nào đó. Bên ngoài biên giới của những tập thể hay địa phương nầy, cả hai đều có thể bị coi là vô căn cứ, chậm tiến hay thậm chí mê muội, mù quáng.
Một nhận xét khá lý thú là ngay chính tôn giáo cũng nhìn nhận sự hiện hữu của mê tín dị đoan, và phần lớn công khai bài bác những tập tục “mê muội, mù quáng” nầy. Có điều là chữ “mê tín” trong tôn giáo thường được dùng đồng nghĩa với “những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của các tôn giáo khác”.



Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép mầu”. Nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”.

Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của họ. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ. Như đã nói ở trên, với ý niệm “đức tin” thì tín đồ không cần phải giải thích được bằng kiến thức khoa học hiện thời về bất cứ điều gì dù là huyễn hoặc và phản khoa học hay phản thực tế bao nhiêu.

Phương cách nầy rất tiện lợi và hữu dụng, nhưng lại có một khuyết điểm rất lớn. Đó là hầu như mỗi tôn giáo đều có một đức tin khác nhau, và nhiều khi hoàn toàn đối nghịch nhau. Tín đồ Thiên Chúa Giáo nhìn người Ấn độ thờ "Linga" (hoặc Lingam) tức là Dương vật là biểu tượng của thần Shiva, thì cho đó là mê tín. Và người Ấn độ xem người Công Giáo rước bánh thánh chỉ là một mẫu bánh mì chay mà gọi là ăn chính thịt Chúa họ thì cũng cho rằng đó là một hành vi mê tín.

Ngay cả những nhóm phái trong cùng một tôn giáo cũng bất đồng ý kiến với nhau về mê tín dị đoan. Điều nầy gây ra sự chia rẽ trong hàng ngũ của nhiều tôn giáo.
Trong Thiên Chúa Giáo, ngay những nhóm người cùng coi mình là con chiên của Giê-Su cũng luôn có những quan điểm khác nhau khi nói về mê tín. Voltaire viết "mê tín dị đoan phát sinh từ tục lệ trong nhân gian hoặc những đạo đa thần, nhập vào Do Thái giáo rồi lan truyền sang toàn thể Thiên Chúa Giáo ngay từ thời buổi ban đầu. Tòa Thánh luôn luôn chê trách pháp thuật, nhưng lúc nào cũng tin vào phép mầu. Tất cả những linh mục trong Tòa Thánh, không ngoại trừ bất cứ ai, đều tin vào huyền lực của phép mầu".

Voltaire cũng nhận xét thêm rằng ở thời ông ấy thì "Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Canterbury cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Paris là mê tín, nhóm Tin Lành cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của Canterbury là mê tín trong khi chính họ cũng bị những người Quakers cho là mê tín. Trong khi đó, nhóm Quakers lại bị coi là những người mê tín dị đoan nhất bởi mọi nhóm khác trong Thiên Chúa Giáo".

Tình trạng đó cũng vẫn không khác gì mấy ngày nay. Đạo Tin Lành vẫn cho rằng những thánh vật, sự hiện thân của Đức Mẹ Đồng Trinh, sự cầu nguyện cho người chết, nước thánh, v.v. cũng như hầu hết những nghi lễ của Công Giáo đều là mê tín dị đoan. Đối với họ, mê tín là lấy những việc không cần thiết mà thực hành như những việc tối cần thiết.



Ngay trong Công Giáo cũng có những nhóm đã gạt bỏ bớt đi nhiều hình thức rườm rà mà nhiều người Công Giáo khác cho là thiêng liêng và cần thiết. Tuy vậy, nhóm nầy thường không công khai đả kích những người vẫn đeo giữ những thủ tục cổ hủ, vì theo họ thì những lễ nghi nầy "cũng không có gì nguy hại hay tội lỗi cả".

Trong cái gọi là Phật Giáo ngày nay, tôi có một danh sách dài bất tận về những thủ tục, nghi lễ nằm đúng hoàn toàn trong cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên. Tôi sẽ trình bày chi tiết về vấn đề nầy ở một bài tiểu luận khác.

Tôi tin rằng nhận xét trên cũng có thể áp dụng cho tất cả các tôn giáo Đông Phương khác từ Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo cũng như những tôn giáo nhỏ như Cao Đài, Hòa Hảo, v.v. Những tôn giáo nầy (trừ Hồi Giáo) thường không kình chống lẫn nhau công khai và có khi đầy tính cách bạo động như trong trường hợp của Thiên Chúa Giáo. Tuy vậy trong nhóm tôn giáo Đông Phương, các nghi lễ, phương cách tụng niệm, hình tượng của một tôn giáo cũng vẫn thường bị xem là mê tín dị đoan bởi người trong những tôn giáo khác.

Có người cho rằng nhóm phái nào có ít nghi lễ nhất thì có lẽ là ít mê tín nhất. Nhưng theo tôi thì nói như vậy đâu có khác mấy với nói rằng "con mèo nào có đuôi càng ngắn thì càng có ít tính chất ‘mèo’ hơn".
Khi phân tích những thí dụ ở trên, chúng ta thấy rõ ràng là trong tôn giáo, người ta làm (hoặc tránh làm) những hành động gì đó chỉ vì để được tưởng thưởng (hoặc không bị trừng phạt) bởi một đấng Tối Cao. Trong khi đó, người ta thật sự không có cách nào biết rõ về sự hiện hữu của nhân vật Tối Cao nầy, chớ đừng nói gì đến có thể giải nghĩa thích đáng được về sự liên hệ giữa những hành động và sự thưởng phạt nầy. Yếu tố nầy chúng ta đã thấy nằm trong trường hợp của mê tín dị đoan.

Khi áp dụng cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên vào những tính chất đặc thù của tôn giáo và từ những nhận xét trên, nhiều người không khỏi đi đến kết luận rằng tôn giáo chỉ là những tập hợp của một số mê tín đã được hệ thống hóa lại với nhau.

Nói chung, tôn giáo thường là các tổ chức có chính sách truyền bá với kế hoạch và quy củ chặt chẽ trong khi mê tín dị đoan thường chỉ là những “kiến thức” truyền miệng trong dân gian. Yếu tố khác biệt nầy làm cho nhiều người trong chúng ta không thấy được là cả hai đều liên quan rất mật thiết với nhau từ nguồn gốc cho đến cách vận hành.
Tôn giáo thay đổi với thời gian. Những thay đổi trong tôn giáo thường cần thiết để đáp ứng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, với nhu cầu đời sống của xã hội, và có khi với áp lực chính trị bên trong cũng như bên ngoài tổ chức tôn giáo. Nhờ có luật lệ, quy củ rõ rệt, những thay đổi trong tôn giáo thường xảy ra tương đối nhanh chóng.

Thí dụ như sau nhiều thế kỷ truyền dạy theo lời Kinh Thánh rằng địa cầu là trung tâm của vũ trụ, khi phải đối diện với bằng chứng khoa học không thể chối cải được, giữa năm đầu thập niên 1960 đến năm 1979 Tòa Thánh đã phát hành những văn bản mang hàm ý ân xá Galileo. Đến tháng 10 năm 1992 thì Đức Giáo Hoàng John Paul 2 chính thức xin lỗi về vụ Galileo cũng như công nhận quả địa cầu không phải là trung tâm của vũ trụ như lời Thánh Kinh dạy mà chỉ là một hành tinh trong Thái Dương hệ.

Thí dụ như hôn nhân đã từng được coi là một giao kèo bất di bất dịch giữa hai người trước mặt Thiên Chúa; sự ly thân của hai vợ chồng, bất cứ vì lý do gì, là một tội nghiêm trọng không thể tha thứ được. Ngày nay, với lề lối sinh sống và quan niệm tình cảm hiện đại của đa số tín đồ, Tòa Thánh cũng đã phải sửa đổi cái nhìn về vấn đề nầy; nhờ vậy mà ly dị không còn là một tội lỗi đáng bị trừng phạt bởi Thiên Chúa nữa. Một thí dụ gần đây nhất, đầu tháng Mười 2014, Tòa Thánh Vatican sau 2 tuần hội thảo đã phát hành một công văn tuyên bố rằng mối quan hệ giữa những người đàn ông đồng tính luyến ái có các “phẩm chất và giá trị tương tác lẫn nhau” và bày tỏ thái độ chấp nhận sự việc nầy (tuy nhiên vấn đề hôn nhân đồng tính vẫn chưa được đề cập đến); đây là một sự thay đổi giáo điều lớn lao sau 2000 năm cực lực nghiêm cấm và trừng phạt.

Mê tín dị đoan, trên mặt khác, thường ít thay đổi; hoặc nếu có thì cũng chỉ với một tốc độ rất chậm.

Như đã nói, mê tín dị đoan thường chỉ được thực hành ở lãnh vực cá nhân hơn là ở môi trường đoàn thể, công khai, với văn bản, luật lệ hẳn hoi như trong trường hợp tôn giáo. Người ta thường dễ dàng chấp nhận hơn nếu một mê tín không chạy theo kịp kiến thức khoa học kỹ thuật hay quan niệm xã hội. Vì không có tổ chức, cơ cấu, ban điều hành, v.v. như tôn giáo, mê tín dị đoan thường không cần lo lắng đến việc có thể bị chỉ trích công khai bởi báo chí, dư luận, nhà cầm quyền, v.v. Vì không có những áp lực chính trị nầy, mê tín dị đoan tương đối được “bỏ lơ” để tồn tại không thay đổi mấy từ thế kỷ nầy qua thế kỷ nọ.

Mê tín dị đoan có thể gây ra phiền phức, tốn kém cho cá nhân và xã hội. Những phiền phức, tốn kém nầy thường tương đối nhỏ hẹp và giới hạn. Tuy nhiên, vì tôn giáo thường có tổ chức công khai, cơ cấu chặt chẽ, hàng ngũ rõ rệt, tài chính dồi dào, uy quyền to lớn nên ảnh hưởng của tôn giáo có thể nghiêm trọng và sâu rộng rất nhiều cho cá nhân và xã hội.

Có người nói rằng “tôn giáo vô hại cho đến khi có kẻ trở thành mù quáng vì nó”. Rất ít trường hợp một cá nhân hay đoàn thể tàn sát một cá nhân hay đoàn thể khác vì họ bất đồng ý với nhau về ý nghĩa của một điều mê tín gì đó. Tuy nhiên, lịch sử đã có biết bao nhiêu trang đẫm máu chỉ vì những bất đồng ý kiến về cách giảng giải khác nhau về vài chi tiết trong kinh sách tôn giáo.

Nói chung, tùy một người tin vào những gì mà một hành động, một hiện tượng đối với người đó có thể là mê tín dị đoan hay là tín ngưỡng chính đáng. Trình độ giáo dục, bằng cấp văn hóa, kiến thức kỹ thuật không chắc có thể đem đến khả năng chống cự lại ảnh hưởng của mê tín dị đoan. Chúng ta đã từng thấy bác sĩ, kỹ sư, bác học, triết gia, v.v. cũng vui vẻ tuân theo các điều mê tín không khác gì những người buôn bán, chạy xe ôm hay ăn xin ngoài đầu chợ. Viên chức cao cấp trong tổ chức chính trị hay lãnh tụ quốc gia cũng không miễn nhiễm trong vấn đề nầy. Cứ nhìn vào Việt Nam thì sẽ thấy một thí dụ điển hình. Tất cả đều ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp công khai thi hành những thủ tục “cần thiết” của mê tín dị đoan hàng ngày mà không hề thắc mắc.

bầy người hoang tưởng



Huỳnh Lê Nhật Tấn







Tôi tạo hình hài pho tượng lay động
rải từng hạt bụi trôi đi
Rớt xuống mắt phố phủ đôi chân
mỗi bước đi dài vạn dặm

Thời gian hủy diệt lại tái sinh
Tôi đi theo ánh sáng

Nhân loại tạo ra mọi vật. Họ muốn mọi thứ
cái ghế ngồi đến lúc phải đứng lên
giường nằm bỗng thân thể ngồi dậy miệng mở
tự tình nói nhau nghe
dao búa súng ống để đôi tay gây bề tội ác
giết chúng đi
Thụ tinh thành người gỗ để bày điều hoang tưởng

Não căng rêu móc ý nghĩ tàn lụi
Tôi như tờ giấy trắng để gió thổi bay

Phía sau người dân đang sinh sống
Họ đã có mặt mọi nơi
sau lưng chúng ta

Họ mơ ước sẽ đến ở ngôi sao lạ
xa tít trên bầu trời rộng
bay vi vu nói điều mơ tưởng
Xem trời đất mọi hướng đi
Tôi phải yêu đất nước trong cơn tán loạn

Phía trước sợi dây treo hành hình
Buộc nó sáu điều tặc ác
Tôi phải tránh xa mọi giáo điều

Thiên hạ vốn vô phúc (Trích Luận ngữ tân thư)



Bậc Thánh nhân đứng giữa Trời, Đất, hợp với Trời, Đất mà tìm ra lý, rồi làm thành đạo lý, cốt truyền lại cho muôn đời. Về sau, con người ngày càng đông, của cải ngày càng nhiều, mắt mũi ngày càng tối tăm đi, lòng tham cũng theo đó mà tăng mãi không ngừng… Kẻ học giả xét không kĩ, thấy đạo lý của Thánh nhân cứ ngày càng được bàn dài ra đến thiên kinh vạn quyển, thì lại cho đó là sự nâng cao, là đã “phát triển“ thêm được cái đạo lý của Thánh nhân. Tóm lại cho rằng càng đời sau thì đạo lý càng cao hơn đời trước (!). Thật là một sai lầm khủng khiếp. Bởi nếu được như thế thì thiên hạ đã có phúc quá. Đạo lý nếu cứ được nâng cao, cứ được “phát triển“ mãi cho đến tận bây giờ, thì làm gì còn tranh giành, khủng bố, làm gì còn những thế hệ lưu manh cứ nối đời bịp bợm thiên hạ, làm gì phải giết nhiều người đến thế. Giết mấy nghìn năm chưa đủ, lại còn tiếp tục giết mãi đến bao giờ? Than ôi! Thiên hạ vốn vô phúc. Cho nên dẫu của cải ngày càng tăng, hiểu biết ngày càng rộng, chữ nghĩa ngày càng nhiều… song đạo lý của Thánh nhân thì cơ hồ cứ “phát triển“ theo chiều ngược lại…

Vẫn “Lời tựa“ trong Luận ngữ Tân thư. Sau đây xin trích tiếp một phần của bộ sách đó.


Tục ngữ có câu: “Con hơn cha là nhà có phúc“. Thế nếu ngược lại, con kém cha thì nhà… vô phúc hay sao?

Cũng chưa chắc đã đến nỗi như thế, vì đó chẳng qua chỉ là chuyện trong một “nhà“. Khối kẻ bất tài đểu cáng, song nhờ có “lộc“ của ông cha mà xài mãi vẫn không hết của ăn cướp đó sao. Nhưng chuyện của cả thiên hạ thì đúng như thế thật. Thiên hạ có phúc thì đạo lý đời sau cao hơn đời trước. Thiên hạ vô phúc thì ngược lại, càng đời sau càng hạ thấp đạo lý của đời trước xuống.

Hạ thấp như thế nào?

Cách đây hai ngàn rưởi năm, Khổng Tử làm Dịch. Ngài biết rằng khi đặt ra tam tài (Thiên, Địa, Nhân) là ý Thánh nhân xưa muốn nói tới một loại “Người“ (Nhân) đặc biệt nào đó, có đủ phẩm chất xứng được với Trời, Đất, sánh ngang với Trời, Đất, cùng với Trời, Đất mà làm nên mọi lẽ huyền vi trong vũ trụ này. “Nhân“ mà đạt tới mức như thế thì tất phải không giống ai, không “chơi“ nổi với ai, mà Ngài gọi đó là: “Chẳng phải con Truỷ, chẳng phải con Hổ, ở ngoài đồng vắng…“. (Luận ngữ). Chữ “Nhân“ ấy ở trong “Thiên, Địa, Nhân“ chính là cái phần “hồn vía“ của vũ trụ. Nó có “tượng“ là “Người“, thuộc về con Người… Chứ không phải hễ cứ là “người“, hễ cứ mồm ngang mũi dọc, đi đứng bằng hai chân, biết ăn nói leo lẻo thì bất kể thế nào, cũng ứng vào chữ “Nhân“ trong cái “tam tài“ ấy được. Ngài bèn đặt ra đạo “Nhân“, định nghĩa về “Nhân“ mà theo đó, chỉ khi nào đạt / ngộ đến đạo ấy, đúng với định nghĩa ấy thì mới đích thị đóng vai trò là “Nhân“ trong bộ ba Thiên, Địa, Nhân kia. “Nhân“ của Khổng Tử chính là chỉ một trạng thái giác ngộ đã đến bực tuyệt đỉnh của con người. Nó tương đương với chữ “Phật“ trong đạo Phật. Số còn lại tất thảy đều bình đẳng với mọi loài sinh vật khác, thậm chí nếu không cẩn thận thì có lúc, có thời “nhân“ chỉ ngang hàng với những thứ “sô cẩu“ (chó rơm) mà thôi.

Nhưng từ khi Ngài đặt ra đạo ấy, thiên hạ chẳng mấy ai đạt tới. Khối kẻ lừng lẫy, nổi tiếng là “người“ nhất trong tất cả các giống người. Vậy mà khi hỏi như thế đã “Nhân“ chưa, Ngài đều bảo: “Chưa lấy gì làm chắc!“. Môn chữ “Nhân“ vì thế cho đến nay, vẫn là một tuyệt kĩ làm người của riêng trí tuệ Khổng Tử. Sinh thời, học trò có kẻ từng khuyên Ngài nên hạ thấp đi một chút, may ra ở đời có người hiểu mà theo kịp, song Ngài nhất quyết không chịu, đến nỗi suýt mắc họa vào thân.

Hơn một trăm năm sau, nước Lỗ lại sinh ra một Thánh nhân khác là Mạnh Tử. Vị Thầy này nghiên cứu chữ “Nhân“ của Đức Khổng Tử, thấy quả nhiên ghê gớm, người đời khó lòng hiểu nổi, đừng nói là theo đòi tu dưỡng ra làm sao. Bấy giờ thiên hạ đã loạn (vô phúc) lắm rồi, con người chỉ còn biết đâm chém, tranh giành nhau mà thôi, không thể nào thoát ra được nữa. Nhưng đạo “Nhân“ nếu không được thi hành, thì con người rốt cuộc sẽ đi đến đâu? Nhưng oái oăm thay, đó lại là cái mà cả thiên hạ không ai hiểu nổi, thì thi hành thế nào? Thôi thì cố vớt vát được chừng nào hay chừng đó. Thế là cái việc mà Đức Khổng Tử ngày trước nhất quyết không chịu làm, giờ đến lượt Thầy Mạnh Tử đành phải làm thôi. Thầy bèn hạ thấp cái đạo “Nhân“ kia đi một chút.

Hạ thấp như thế nào?

Mạnh Tử thêm vào đằng sau chữ “Nhân“ một chữ “nghĩa“, thành ra “Nhân nghĩa“. Theo đó thì làm người (Nhân), không nhất thiết cứ phải đòi cho bằng được ngang với Trời, Đất. Cốt sao đạt tới “nhân nghĩa“ là được rồi. “Nhân“ là cái thuộc về cả Trời, Đất, vũ trụ… khó lắm! Còn “Nhân nghĩa“ là cái chỉ thuộc về mỗi con người mà thôi. Thế là “thêm“ chữ, mà thực ra đã “bớt“ đi rất nhiều qui mô, tầm vóc. Đó rõ ràng là một sự “tHỏa hiệp“, một bước “lùi“ đấy chứ. Hy vọng con người có thể hiểu được (“nhân nghĩa“) mà thi hành. Đạo “Nhân nghĩa“ này của Thầy Mạnh Tử tuy cũng là một trí khôn trùm thiên hạ đấy, song vẫn chỉ là một phần nhỏ. Nó thấp hơn cái đạo “Nhân“ lồng lộng kia của Đức Khổng Tử nhiều lắm.

Sau đó thì thế nào, có bao giờ thiên hạ trở lại được cái đạo “Nhân“ ấy của Đức Khổng Tử không?

Chưa bao giờ, bởi thiên hạ vẫn ngày càng vô phúc. Cho nên đời sau cứ thế tiếp tục hạ thấp dần những đạo lý của đời trước theo phương châm: “Vớt vát được chừng nào hay chừng đó“.

Tiếp tục hạ thấp như thế nào?

Cứ mỗi đời lại hạ thấp thêm một ít, hạ thấp bằng đủ các kiểu trên đời, kể ra không xuể. Ví dụ hơn một nghìn tám trăm năm sau, ở phương Nam có một vị Thánh nhân, khi xem xét cái đạo “Nhân nghĩa“ của Thầy Mạnh Tử, đem đối chiếu với thời cuộc lúc bấy giờ, vị Thánh nhân này thấy nó vẫn cao quá, xa vời quá, không cách gì thực hiện cho được. Nhân nghĩa nếu được thi hành, được “tưới“ khắp thiên hạ, thì kẻ làm vua không còn cái thú làm vua, kẻ làm quan không mơ màng đến bổng lộc, kẻ làm dân tha hồ tự do, tha hồ ung dung tự tại mà vẫn không ra ngoài phép tắc. Một “thiên hạ“ như thế chẳng phải là điều không tưởng hay sao? Không tưởng, chẳng lẽ lại bỏ qua nhân nghĩa? Thôi thì vẫn thi hành. Nhưng lại phải hạ thấp xuống, chỉ còn: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân…“. mà thôi. Yên được dân, thế cũng coi như “Nhân nghĩa“ rồi, không đòi hỏi phải sướng dân, mới dân, hay sáng dân… gì gì nữa. Muốn “yên dân“, thì trước tiên phải lo “trừ bạo“. Luôn luôn trừ bỏ kẻ hung bạo trong thiên hạ cho dân được yên, thì cái việc nhân nghĩa ấy, so với cả cái đạo “Nhân nghĩa“ kia, tuy có thấp hơn nhiều lắm, song thời bấy giờ, mong đạt được đến đó cũng là tuyệt lắm rồi.

Cứ hạ thấp mãi như thế, vậy chẳng lẽ thiên hạ mấy nghìn năm, chưa bao giờ là “có phúc“ hay sao?

Thỉnh thoảng cũng có đấy, nhưng chỉ là những “phúc“ nhỏ, riêng, ngắn ngủi, nằm trong cái “vô phúc“ lớn, tổng quát, trùm hết mọi đời.

Còn bây giờ thì sao?

Bây giờ, các Thánh nhân đã chìm vào dĩ vãng cùng với đạo lý của các Ngài. Thế giới ngày nay tự hào là văn minh, là giỏi giang lắm. Đã bay vào vũ trụ, lại còn bắn phá được cả sao Chổi… thế mà cái đạo lý “yên dân“ kia, xem chừng vẫn còn quá cao, nói chi đến “nhân nghĩa“ làm gì nữa cho xa vời. Kẻ hung bạo trừ mãi không hết, thậm chí ngày càng hung bạo hơn, chúng lại có bom đạn, súng ống… trong tay. Kẻ lưu manh, bịp bợm giáo hóa mãi không chừa, thậm chí càng đời sau càng đểu cáng hơn đời trước. Chúng lại có sẵn quyền lực, địa vị trong tay, tha hồ mà nhân danh mọi thứ… Yên dân tức là yên được cả thiên hạ, trong khi những kẻ hung bạo, lưu manh đủ các kiểu lớn, bé… vẫn còn nhan nhản, vẫn leo lẻo nhân danh cái sự bịp bợm để ngồi trên đầu, trên cổ thiên hạ giữa thanh thiên bạch nhật như thế, vẫn tự xem dân như những món tài sản riêng trong túi mà muốn sao được vậy, mà bất chấp luật lệ, thi nhau hoành hành. Thậm chí còn coi dân chẳng khác gì những thứ thịt chó, thịt mèo cần phải ướp riềng mẻ, mắm tôm… trước khi làm những món chả, hấp, nhựa mận, tiết canh… Thế thì cái đạo lý “yên dân“ kia xét cho đến đời nay, lại tiếp tục là một điều không tưởng nữa.

Nghĩa là tiếp tục phải hạ thấp?

Tất nhiên, không theo được đạo lý của người xưa thì đành phải hạ thấp xuống chứ còn biết làm thế nào.

Đạo “yên dân“ mà hạ thấp xuống nữa thì thành cái gì?

Thì thành cái đạo… “yên thân“. Bây giờ thì chỉ còn mong: “Việc nhân nghĩa cốt ởyên… thân…“. mà thôi. Không yên được cả thiên hạ, cả thiên hạ không yên thì cốt sao yên lấy cái thân mình, vợ con mình, gia đình mình là tốt lắm rồi. “Đạo“ ấy tóm tắt như sau: mình cố không “động“ đến ai, cũng cố mong đừng ai “động“ đến mình… Tóm lại là “Nhân nghĩa“ kể từ thời Thầy Mạnh Tử cho đến bây giờ, chỉ còn lại… có bấy nhiêu mà thôi.

Thế thì có còn là đạo lý nữa không?

Đạo lý là cái gì? Chẳng phải đến bây giờ, chính nó cũng đã bị “hạ thấp“, đến nỗi chỉ còn là cái “lý“ của kẻ cướp rồi hay sao? Cho nên “yên thân“ cũng không dễ mà đạt cho mĩ mãn đâu. Bạn đang ở giữa châu Nam Cực? Hay đang ngồi trên sao Hoả? Cứ thử thò mặt ra đường xem? Dẫu có tình nguyện làm con giun, con dế, cũng chưa chắc đã “yên“, nếu không biết lối mà tung hô, mà dạ, vâng… cho phải phép.

Vậy thì: “Ngu“ là căn hầm trú ẩn cuối cùng của cái giống động vật có tên (khoa học) là “con người“ đáng thương. “Hèn“ là một đại lượng tỉ lệ thuận với vai vế, địa vị hay (thậm chí) tỉ lệ thuận với tri thức, cũng của cái giống động vật có bốn chi (song chỉ sử dụng hai chi để di chuyển) đó. “Định nghĩa“ như thế “trừu tượng“ lắm phải không?

Đại khái hãy so sánh với ngày hôm qua, không được phép so sánh với bất kì ai, kể từ gã hàng xóm trở đi…

Thiên hạ đang là một bầy cừu có chủ. Tốt hơn hết, hãy là một con cừu. Tối qua trong một đám cưới, có mấy con cừu cứ thi nhau ca ngợi những ông chủ đang chăn dắt chúng. Vậy thì kẻ biết chữ ngồi nghe cần phải biết liệu hồn. Biết đâu đến một lúc nào đó, ngay cả cái đạo “yên thân“ này, cũng vẫn còn là một mơ ước… quá cao. Thì sao?


Phạm Lưu Vũ

NGŨ HÀNH Chương 6. Âm Dương Ngũ Hành với học thuật Trung Hoa



Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành có ảnh hưởng hết sức lớn lao trong học thuật và tư tưởng Trung Hoa: Nho, Y, Lý, Số đều thấm nhuần ảnh hưởng của Âm Dương, Ngũ Hành. Các khoa Tử Vi, Tướng, Số, đều triệt để áp dụng thuyết Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc.

Ví dụ như trong khoa Tử Vi, các sao đều phân thành Âm Dương, Ngũ Hành; con người, và 12 cung Tử Vi cũng được phân thành Âm Dưong, Ngũ Hành.

Như vậy, tùy theo mệnh con người, tùy theo các sao chiếu mệnh, tùy theo các cung vận hạn mà con người đã trải qua trong một đời, hoặc trong từng năm, từng tháng, từng ngày, ta có thể áp dụng lẽ Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc mà đã đoán định được cát hung một phần nào rồi.

Khoa Địa Lý cũng rất chú trọng đến Âm Dương Ngũ Hành. Hoặc cho rằng: Sơn Hà Đại Địa bất kỳ cái gì có hình đều là Âm. Còn cái khí không trông thấy được mới là Dương

Hoặc cho rằng: Nước là Dương, Núi là Âm.
Mạch cũng phân Âm Dương. Tả Ao viết:

Mạch có mạch Âm, mạch Dương
Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh.


Mạch ở dưới đồng bằng phần nhiều đi thấp, được gọi là mạch Dương. Còn mạch ở trên sơn cước, đi theo các núi đồi cao lớn, được gọi là mạch Âm.

Những mạch Âm Dương đó lại được phân chia tùy theo hình, trạng thái hùng vĩ, thanh nhã, linh động, hoặc bất động, thành các mạch cường, nhược, tử, sinh.

- Thế mạch hùng vĩ, cao lớn, thảy đều là mạch cường.

- Thế mạch thanh nhã, nhọn dài được gọi là mạch nhược.

- Thế mạch trông như con thú quay đầu, quẫy đuôi, linh động được gọi là mạch sinh.

- Thế mạch đi đuồn đuộn, ngay đơ, như con cá chết gọi là mạch tử.

Hình thế đất cũng được chia thành 5 loại theo Ngũ Hành. Tả Ao viết:

Kìa như đất có Ngũ tinh,

Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn.

1. Hình tròn là con Kim, hay Kim Tinh

2. Hình dài là con Mộc hay Mộc Tinh

3. Hình vuông là con Thổ hay Thổ Tinh

4. Hình nhọn là con Hỏa hay Hỏa Tinh.

5. Hình sóng gợn là con Thủy hay Thủy Tinh.

Y học Trung Hoa cũng triệt để khai thác thuyết Ngũ Hành. Quan niệm Ngũ Hành soi sáng Y học Trung Hoa về mọi phương diện: Bệnh Lý (Pathogénie), Dược lý (Pharmacologie) và Y Lý Trị Liệu (Thérapeutique.)

Về phương diện Bệnh lý chẳng hạn, Trung Hoa chia năm thành Ngũ Vận.

Các năm Giáp, Kỷ thuộc Thổ

Các năm Ất, Canh thuộc Kim

Các năm Bính, Tân thuộc Thủy

Các năm Đinh, Nhâm thuộc Mộc

Các năm Mậu, Quí thuộc Hỏa

Rồi lại nhân lẽ Âm Dương, sinh khắc, thái quá, bất cập, hay bình khí mà suy xem năm nào khí hậu sẽ ra sao, nóng lạnh, ẩm, khô, mưa gió ra sao để biết những bệnh gì sẽ dễ sinh trong năm ấy.

Họ cho rằng các năm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là những năm Dương. Vận khí những năm ấy sẽ quá vượng, quá thịnh, sẽ thừa nên gọi là thái quá.

Những năm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quí là những năm Âm. Vận khí những năm ấy sẽ suy yếu, sẽ bất cập, mà một hành đã suy, thì khí của hành tương khắc, sẽ thịnh. Ví dụ những năm Giáp (Dương Thổ), thổ khí sẽ thái quá, như vậy sẽ mưa nhiều và sẽ ẩm thấp nhiều, do đó các bệnh thấp sẽ dễ sinh.

Những năm Kỷ (Âm Thổ), Thổ khí sẽ bất cập, như vậy sẽ gió nhiều, do đó các bệnh phong dễ sinh, vì Hành khắc là Mộc, Mộc sinh Phong.

Những năm Tân lạnh nhiều (Âm Thủy), Thủy khí bất cập, nên ẩm thấp nhiều, và các bệnh thấp dễ sinh vì Hành khắc là Thổ, Thổ sinh Thấp.

Tóm lại ta thấy: Mộc thịnh sinh Phong, Hỏa thịnh sinh Nhiệt, Thổ thịnh sinh Thấp, Kim thịnh sinh Táo, Thủy thịnh sinh Hàn.

Còn khi một Hành mà suy, thì Hành tương khắc sẽ thịnh, cho nên:

Mộc suy (bất cập) thời Táo sinh (vì Kim khắc Mộc), Hỏa suy (bất cập) thời Hàn sinh (vì Thủy khắc Hỏa), Thổ suy thời Phong sinh (vì Mộc khắc Thổ), (xem thí dụ năm Kỷ) Kim suy (bất cập) thời Nhiệt sinh (vì Hỏa khắc kim), Thủy suy (bất cập) thời Thấp sinh (vì Thổ khắc Thủy). (Xem thí dụ năm Tân).

Dược lý cũng dựa trên Ngũ Hành:

Đại khái các thuốc màu xanh, vị chua chữa gan; các thuốc màu đỏ, vị đắng chữ tim; các thuốc màu vàng, vị ngọt chữa tì; các thuốc màu trắng, vị cay chữa phổi; các thuốc màu đen, vị mặn chữa thận v.v...

Trị liệu cũng dựa theo quan niệm Ngũ Hành tương sinh, tương khắc, hoặc Ngũ Hành điên đảo. Ví dụ:

1. Mẫu hư bổ kỳ Tử

Như Kim (Phế): vốn sinh Thủy (Thận), nhưng nếu Phế suy, phải bổ Thận (Thủy) để cứu Phế (Kim)

Thủy (Thận) vốn sinh Mộc (Gan), nhưng nếu Thận (Thủy) kiệt, thời phải bổ Gan (Mộc).

2. Tử hư bổ kỳ Mẫu

Thủy suy (Thận suy), phải bổ Kim (Phế) (mẹ)

Thổ suy (Tì suy), phải bổ Hỏa (Tâm) (mẹ)

Mộc suy (Gan), phải bổ Thủy (Thận) (mẹ)

Kim (Phế) táo, phải bổ Thổ (Tì) (mẹ)

Hỏa (Tâm) suy, phải bổ Mộc (Gan) (mẹ)

3. Mẫu thực tả kỳ Tử

Phế (Kim) (mẹ) thực, phải tả Thận Thủy (con)

Thận (Thủy) (mẹ) thực, phải tả Gan (Mộc) (con)

Gan (Mộc) (mẹ) thực, phải tả Tâm (Hỏa) (con)

Tâm (Hỏa) (mẹ) thực, phải tả Tỳ (Thổ) (con)

Tỳ (Thổ) (mẹ) thực, phải tả Phế (Kim) (con)

4. Tử thực, tả kỳ Mẫu

Thận (Thủy) (con) thực, tả Phế (Kim) (mẹ)

Gan (Mộc (con) thực, tả Thận (Thủy) (mẹ)

Tâm (Hỏa) (con) thực, tả Gan (Mộc) (mẹ)

Tỳ (Thổ) (con) thực, tả Tâm (Hỏa) (mẹ)

Phế (Kim) (con) thực, tả Tỳ (Thổ) (mẹ) v.v...

Đi sâu vào vấn đề, ta thấy các Y gia lại còn áp dụng lẽ Ngũ Hành điên đảo trong việc điều trị. Nhưng nơi đây, chúng ta cũng chẳng cần phải bàn rộng hơn về vấn đề đó làm chi nữa. Người nào có tâm cầu học, nhất định sẽ tìm sách mà tra cứu lấy.

Cuộc Cách mạng giáo dục đến từ mỗi chúng ta




Bạn đang trông chờ một cuộc Cách mạng thay đổi nền giáo dục? Bạn nghĩ rằng cuộc Cách mạng này sẽ đến từ những nhà nghiên cứu giáo dục hay đến từ các phong trào đấu tranh? Cuộc Cách mạng thay đổi nền giáo dục chỉ đến từ chính bạn: Khi bạn nói không với hệ thống giáo dục đang ngày một thối nát… Khi bạn sẵn sàng đương đầu với cuộc sống mà không cần sự thừa nhận của xã hội… Khi bạn dũng cảm lựa chọn cho mình một con đường tự chủ và độc lập trong nhận thức…

Tại nơi chúng ta đang sống, không phải trở thành một người có nghề nghiệp là điều đáng quý trọng, mà là cuộc chạy đua vào cổng trường đại học. Đó là một nghịch lý mà chúng ta ai cũng nhận ra, nhưng chẳng mấy ai dám khước từ tấm bằng vô nghĩa ấy. Bạn tin không? Bạn có thể trở thành một chuyên gia tư vấn Luật mà không cần phải học Đại học Luật. Bạn có thể chế tạo ra một bộ máy mà không cần phải là sinh viên Bách Khoa. Bạn có thể trở thành một nhà báo mà không cần phải học khoa Báo chí… Tất cả những điều đó đến từ quá trình lựa chọn và tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.

Con đường đại học không làm nên phẩm giá, không làm nên vị thế xã hội, không giúp bạn kiếm sống dễ dàng hơn. Bạn sẽ lãng phí 5 năm cuộc đời cho một sai lầm. Thế là quá nhiều! Trong 5 năm ấy, bạn có đủ thời gian để trở thành một đầu bếp hay một thợ may lành nghề, thậm chí là một doanh nhân thành công. Nghề nấu nướng và chuyên gia hóa sinh, có gì khác nhau về đẳng cấp? Nghề thợ may và nghề nghiên cứu mỹ thuật, có gì khác nhau về đẳng cấp?

Các bạn chọn con đường đại học vì tất cả mọi người xung quanh bạn đều ngưỡng vọng nó. Các bạn đang đua đòi vào một căn nhà chật hẹp và gò bó bởi các quy tắc. Nếu muốn trở thành một nhà lý thuyết, các bạn có thể vào đại học và chìm đắm trong sách vở và tri thức. Nhưng những bạn trẻ đã và đang lao đầu vào cổng trường kia, bao nhiêu người yêu sách và quý trọng tri thức nhân loại? Trường đại học là nơi đào tạo ra những con người gìn giữ tri thức ngàn đời, không phải nơi đào tạo ra những kẻ nương nhờ vào bằng cấp để kiếm sống. Bạn dám đánh đổi cả cuộc đời mình để gìn giữ tri thức hay đánh đổi nhân phẩm của mình để quy đổi tri thức ra tiền? Tôi không có ý nói công việc gìn giữ tri thức cao quý hơn một đầu bếp, tôi muốn nói rằng, nếu bạn lựa chọn điều gì, hãy có trách nhiệm với điều ấy.

Chúng ta đã quên đi mục đích của việc học: Học để thành nghề và học để thành người. Lựa chọn theo đám đông ngu ngốc, theo các chuẩn mực xã hội, học để lấy điểm gạo, các bạn vừa không thành nghề mà cũng chẳng thành người. Các bạn trở thành những con gà béo tốt nuôi một hệ thống lừa dối kiếm chác dựa trên sự a dua của các bạn. Đừng trở thành con gà béo, các bạn là con người, các bạn có Internet và cơ hội tiếp cận kiến thức với số lượng lớn chưa từng có trong lịch sử, vậy các bạn có thể nói “Không” với cổng trường Đại học nếu thấy nó không cần thiết cho cuộc đời của bạn.

Thay vì oán trách và trông chờ, các bạn có thể lựa chọn cho mình một con đường phù hợp với sở thích, đam mê và hoàn cảnh. Hãy dành nhiều thời gian cho con đường ấy, tìm thày giỏi hướng dẫn, mày mò đọc thêm kiến thức mở rộng từ Internet, kết giao bạn bè trong lĩnh vực đó để trao đổi và học hỏi. Cho dù bạn có học đại học hay học nghề, bạn vẫn không thể không tự học. Vì tự học chính là biểu hiện rõ nét nhất, quyết liệt nhất con đường mà bạn chọn. Tự học, chính là cuộc Cách mạng giáo dục thật sự!

Cuộc Cách mạng Tự học sẽ khiến cho những hệ thống đối xử với bạn như con gà ngày một suy yếu và rạn nứt. Cuộc Cách mạng này sẽ giúp nảy sinh ra rất nhiều ngành nghề mới lạ đến từ nhu cầu thiết yếu thật sự của cuộc sống. Cuộc Cách mạng Tự học là cuộc Cách mạng của kiến tạo, khi mỗi người đều nhận thức được rằng điều quan trọng nhất của một con người trong phận vị xã hội đó là kiến tạo ra giá trị mới chứ không phải đạp bỏ các giá trị cũ.

Tự chọn lựa và chịu trách nhiệm về con đường cho mình, bỏ qua mọi định kiến và thang bậc xã hội, đó là bước đi liều mạng nhưng cần thiết trong lúc này. Đó là con đường tự cứu mình. Sẽ mất mười đến hai mươi năm đê thật sự có thay đổi tích cực trong nền giáo dục nếu Bộ giáo dục thay đổi đúng đắn từ bây giờ, chúng ta không có nhiều thời gian đến thế. Bạn có thể mất nhiều thời gian để oán thán, hoặc đứng dậy, quay lưng với nền giáo dục để sống cuộc đời của chính mình chứ không phải cuộc đời của ai đó vẽ ra cho bạn.

Một người không tham gia vào cuộc chạy đua ấy, cuộc đời người ấy sẽ bị cô lập. Một trăm người từ chối cuộc đua, số lượng này sẽ có cơ hội được nhân rộng. Một nghìn người có thể tự quyết định lựa chọn con đường riêng cho mình mà không cần bằng cấp, các giá trị vật chất sẽ được kiến tạo một cách hiệu quả hơn. Một trăm nghìn người, một triệu người… Bộ giáo dục sẽ đứng trước nguy cơ đóng cửa, nhiều nền tảng xã hội khác như tuyên truyền chính trị, kinh tế, nội vụ… sẽ dần dần bị phá hủy.

Một trật tự mới sẽ được hình thành, khi mà mỗi chúng ta đều là con người có ích và tự chủ, khi mà giá trị kiến tạo được đánh giá cao hơn giá trị bằng cấp, thang bậc xã hội không còn phân biệt giữa các nghề nghiệp với nhau, khi trường đại học không còn là cái chuồng gà mà trở lại làm những thánh đường của tri thức.

Hà Thủy Nguyên

PS: Tôi bỏ đại học từ năm thứ 3, không phải vì tôi học sai ngành, mà vì tôi thấy cả tôi và trường đại học đều không thể chịu đựng được nhau. Cho đến nay, tôi vẫn là công việc tôi đeo đuổi, bằng cấp chẳng đóng bất cứ một giá trị gì trong sự nghiệp của bản thân tôi. Và tôi tin, các bạn nếu dám lựa chọn và dám chịu trách nhiệm thì cổng trường đại học không phải con đường duy nhất!

Hợp pháp hóa mại dâm, nên hay không?




matdoi





img-20131010145827-542.jpg1024x683 89.7 KB

Featured Image: Prostitution Recovery


Nhân việc tổ chức Nhân Quyền Quốc Tế ủng hộ hợp pháp hóa mại dâm và ông Lê Văn Quý – phó chi cục trưởng cục Phòng Chống Tệ Nạn xã hội TPHCM đề xuất thí điểm nên tôi viết một bài để mọi người thảo luận.

Đây là vấn đề tốn rất nhiều bút mực trên các tờ báo và gây tranh cải trong suốt một thời gian dài ở VN và trên thế giới. Có rất nhiều quan điểm được đưa ra từ 2 phía nhưng dường như chưa có sự thống nhất hoàn toàn. Khi đưa ra một vấn đề mang tính nhạy cảm như mại dâm thì chúng ta phải xem xét nó một cách cẩn thận để có cái nhìn công bằng nhất có thể. Đánh giá trên nguyên nhân và hậu quả tác động vào cá nhân cũng như xã hội.
Mại dâm có từ đâu

Theo vài nhà nghiên cứu lịch sử thì nó là hệ quả của chế độ chiếm hữu nô lệ. Một nô lệ được xem như món hang hóa và không có bất cứ quyền lợi nào của con người. Tình dục là một nhu cầu rất lớn của loài người, vì vậy nô lệ trở thành phương tiện thỏa mãn nó. Bằng quyền được xã hội công nhận, các chủ nô thành lập các nhà thổ để buộc nô lệ bán dâm thu lợi, hoặc dùng họ để giải tỏa nhu cầu của binh lính vốn không được gần gũi phụ nữ trong thời gian dài.

Thế giới này trong nhiều thiên niên kỷ nằm trong tay đàn ông nên phụ nữ trở thành nạn nhân của họ. Đó là thời kỳ quyền lực được tạo ra do sức mạnh cơ bắp, khả năng chống chọi với thiên nhiên để kiếm sống. Từ đó trong xã hội hình thành rất nhiều những tư tưởng có lợi cho đàn ông mà ngày nay chúng ta xem chúng là cổ hủ. Tam Tòng Tứ Đức cũng thế mà Trinh Tiết cũng thế.

Nhưng xã hội phát triển theo xu hướng chuyển đổi về khả năng sản xuất từ cơ bắp sang trí tuệ. Trên cơ bản nam và nữ là như nhau nên phụ nữ bắt đầu có khả năng nắm giữ nhiều ưu thế trong xã hội. Tuy nhiên bởi trong một thời gian rất dài phụ nữ là phụ thuộc còn nam giới làm chủ nên cũng hình thành sự thiên lệch về tính cách. Phụ nữ thiên về cảm xúc còn nam giới thiên về lý tính, nhưng sự lệch pha đó ngày càng được rút ngắn hơn.

Từ đó những vấn đề về bình đẳng giới, những thiệt thòi của phụ nữ được đưa ra với cái nhìn khác và quan tâm nhiều hơn. Quan niệm khắt khe về tình dục với nữ giới cũng trở nên cởi mở hơn. Cái nhìn về sự ô nhục đối với gái mại dâm cũng giảm dần, có một sự ngang hàng giữa người mua dâm và kẻ bán dâm về nhân cách, hành động mua dâm được xem như là một nhu cầu không thể thiếu trong bất cứ xã hội nào vì không phải ai cũng có cơ hội thỏa mãn tình dục theo cách mà xã hội xem là chính đáng.
Tác động của mại dâm đối với xã hội

Tích cực: Mỗi người khi trưởng thành đều có nhu cầu về tình dục nhưng vì hoàn cảnh nào đó mà nhu cầu đó không được đáp ứng. Ham muốn không được thỏa mãn rất dễ làm cho tâm lý xảy ra vấn đề, sự đè nén khiến con người dễ có những hành động mang tính bạo lực để giải phóng ra bên ngoài mà cưỡng hiếp chỉ là một trong số đó. Điều này tạo tác động xấu lên gia đình và xã hội, nên mại dâm chính là phương tiện giúp cân bằng sinh lý cũng như tâm lý con người. Một xã hội tự nó sẽ có sự điều tiết để đạt đến trạng thái cân bằng khi bị lệch pha trong bất cứ vấn đề gì. Vì thế dù có cấm thì mại dâm vẫn tồn tại như sự tất yếu của cuộc sống.

Tiêu cực: Gia đình chính là nền tảng của xã hội, mà quan hệ tình dục giữa nam và nữ là yếu tố sống còn trong mối liên kết gia đình. Thủy chung trong đời sống vợ chồng là một khế ước thiêng liêng giữa 2 người với nhau, khi khế ước này bị xé bỏ thì khả năng gia đình tan vỡ sẽ rất cao. Ly hôn sẽ tạo ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống cũng như tâm lý con cái, sự phát triển của con người phải dựa trên một nền tảng bền vững nếu không nó sẽ bị méo mó và nhiều lỗi.

Không khó để thấy rằng mại dâm đã tác động xấu lên sự bền vững đó. Vì thế đối với đa số những con người không có sự thiếu thốn về tình dục thì xem mại dâm như một mối đe dọa đến hạnh phúc gia đình họ. Trong quá khứ, bởi ảnh hưởng của quan niệm cổ hủ, bởi các lề luật của tôn giáo nên mại dâm luôn bị cấm đoán và xem là sự ô nhục.

Xét trên khía cạnh đạo đức

Bởi mại dâm là một trong những tác nhân gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình nên nó vi phạm giá trị đạo đức mà xã hội công nhận, dù rằng nó được sinh ra do nhu cầu thiết yếu của xã hội. Ngoài ra hành động bán lương tâm hoặc thân xác, xem mình như một món hàng hóa để thu lợi thường được xem là không có đạo đức. Bởi nếu mỗi con người sống trong xã hội mà không có lòng tự trọng, không biết xấu hổ thì sẽ không còn bất kỳ giá trị đạo đức nào có thể tồn tại được, khi đó xã hội sẽ sụp đổ ngay tức khắc. Mặt nào đó thì mại dâm, lừa đảo, tham nhũng… là như nhau về bản chất và chỉ khác nhau về mức độ. Một con người nếu không giữ được phẩm giá của con người là lòng tự trọng và trách nhiệm thì khó mà được xem là một con người thật sự.

Tuy nhiên! Cuộc sống không chỉ tồn tại các khái niệm vi phạm đạo đức của mại dâm mà còn đan xem các khái niệm đạo đức khác. Mỗi con người là một sản phẩm của xã hội, vậy mại dâm hay những ai hành nghề mại dâm cũng là sản phẩm được tạo ra từ xã hội đó, và vì thế nó phải có trách nhiệm với những gì mình tạo ra. Bằng sự tư duy hoán đổi vị trí đối với người bán dâm – một nạn nhân của xã hội, chúng ta cảm thấy cảm thông và xót thương đối với họ. Nếu họ sinh ra trong một hoàn cảnh tốt hơn, được giáo dục tốt hơn, họ sẽ không trở thành người bán dâm. Trong cuộc sống, con người có sự lựa chọn nhưng cũng không có sự lựa chọn, vì người ta chỉ có thể chọn theo những gì mình có và mình hiểu.
Mại dâm ở các nước phát triển

Từ sự phân tích ở mục 2 và 3 ta có thể tổng kết rằng mại dâm là một nhu cầu thiết yếu của xã hội, nhưng nó cũng gây tác hại cho xã hội. Nó là sự vi phạm đạo đức nhưng nó lại là sản phẩm do xã hội tạo ra. Nếu xem mại dâm là có tội thì xã hội cũng phải gánh lấy cái tội ấy. Từ đó nhìn rộng ra, không chỉ riêng mại dâm, bất cứ người phạm tội nào đều xem là có tội nhưng cũng được xem là vô tội. Như câu chuyện về Chúa Jesus khi người ta bảo Ngài ném đá người phụ nữ ngoại tình, Ngài bảo: “Ai cảm thấy mình vô tội thì hãy ném đá người phụ nữ này trước tiên.” Đó là một cái nhìn đối với tội lỗi thế gian và sự tha thứ.

Nếu xã hội không thể tạo cho người bán dâm một hoàn cảnh để họ không bán dâm nữa, trong khi mại dâm vừa lợi vừa hại cho xã hội thì cách tốt nhất đối với nó là không kết tội cũng không khuyến khích. Theo thông tin tham khảo, đa số các nước phát triển đi theo hướng này. Nghĩa là bán dâm không bị cấm đoán, không có tội, nhưng cấm tổ chức dịch vụ hoặc quảng cáo mại dâm. Làm theo cách này vừa thể hiện tính nhân đạo với người bán dâm, vừa ngăn chặn sự bóc lột của các tổ chức mại dâm lên họ, vừa bảo vệ sự ổn định xã hội một cách vừa phải. Chỉ một số ít hợp pháp hóa mại dâm hoặc cấm hoàn toàn (đa phần do văn hóa truyền thống, hoặc tôn giáo).

Xét tình hình Việt Nam

Đề nghị hợp pháp hóa mại dâm ở VN được đưa với nhiều lý do, vì nhân đạo có, vì sức khỏe có, vì dễ kiểm soát có, hầu hết đều hợp lý. Nhưng bản thân tôi lại cho rằng VN chưa đến lúc phải như thế, nếu hợp pháp hóa mại dâm thì hậu quả vô cùng to lớn bởi những nguyên nhân sau:

A. Tham nhũng: hợp pháp để bảo vệ người bán dâm trước sự bóc lột của thế giới ngầm. Nhưng làm thế chẳng khác nào cho những kẻ tổ chức mại dâm thêm một công cụ khác chính là luật pháp. Bởi tham nhũng, luật pháp sẽ bảo vệ những kẻ có tiền, người bán dâm sẽ bị bốc lột tàng tệ hơn nữa. Khi chưa hợp pháp thì mại dâm bị cấm đoán, tình dục trẻ em phạt rất nặng. Nhưng khi hợp pháp thì nhờ lo lót, được sự bảo kê của pháp luật, những cô gái và trẻ em càng dễ bị đưa vào con đường kinh khủng đó.

B. Ý thức:
Nên biết dân trí VN phải nói là rất thấp, mà càng thấp thì càng dễ dàng sa đọa. Khi bán thân là hợp pháp thì sẽ có hằng hà sa số người lao vào vì “vừa sướng lại vừa có tiền”. Từ cái chuyện lấy chồng Đài Loan hay Hàn Quốc vì tiền là đủ để biết hậu quả khi được hợp pháp. Đã cấm rồi mà khắp Sài Gòn nơi nào cũng có người bán dâm, khoản 80% Karaoke đều có em út và có thể “đi” nếu giá hợp lý, chưa kể đến vô số quán nhậu, khách sạn, massage…

C. Dựa trên cơ sở không chính đáng:
Nên biết ở những nước khác việc không xem mại dâm là tệ nạn là do sự nhận thức của một xã hội văn minh, đạt được sự đồng thuận của đa số người dân trong sự hiểu biết về các giá trị đạo đức cũng như tính nhân đạo. Khi đó dù mại dâm không bị cấm thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến xã hội. Nhưng ở nước ta thì khác, ban đầu cấm mại dâm không được thì đâm ra đề nghị cấm mở dịch vụ Karaoke, bị phản đối thì lại đề nghị hợp pháp để dễ quản lý và trọng yếu nhất chính là thu được nguồn lợi từ mại dâm – vốn đã trở nên tràn lang khắp cả nước. Luật pháp ban đầu đã không nghiêm minh, nay lại trao vào tay những ông – bà tú thì mại dâm sẽ như sóng thần cuốn đi cả một nền văn hóa của dân tộc.

Nói tóm lại: Bao giờ hợp pháp hóa mại dâm là một đòi hỏi từ sự nhận thức của đa số dân chúng thì tôi ủng hộ. Còn nếu đó là giải pháp từ việc chính phủ bất lực trong xử lý các tệ nạn xã hội thì tôi phản đối. Vì điều đó thể hiện một sự bất lực, buông xuôi, chạy trốn trách nhiệm và thỏa hiệp với những tiêu cực đang tồn tại trong xã hội. Và cứ theo đà này thì một đề nghị hợp pháp hóa ma túy cũng sẽ được mang ra xem xét trong tương lai.

Mắt Đời3

CHÙM THƠ NHỚ MẸ NHÂN LỄ VU LAN - Đông La





KHI CON XA MẸ
Tưởng nhớ MẸ
Và cô Anh Thơ, người mở cánh cửa văn chương





Tuột quai dép dẫm hòn sỏi nhỏ
Xót xa nhớ về bóng mẹ đường dài
Nắng đốt mặt đường đất bốc hơi
Chân đất vai gầy oằn gánh nặng


Sáng tinh sương ánh bình minh ló rạng
Nhớ trưa hè rơi giọt mồ hôi
Bụi tro phủ dầy vành khăn gọn
Lửa ôm tròn nồi cám đang sôi


Đêm thoáng lạnh trùm chiếc chăn nhẹ
Nhớ gió Bấc khô thổi rụng lá xoan vàng
Mẹ ơi nếp da dầy chân mẹ!
Đã bao nhiêu rồi vết nứt nẻ dọc ngang?


Đã bao năm rồi, con xa mẹ, mẹ ơi!
Ác liệt chiến trường, khó khăn nơi phố thị…
Con mãi là đứa con nhỏ bé
Phút yếu lòng, mẹ lại đỡ con đi./.


9-1982

MẸ ĐẾN THÀNH PHỐ






Cực nhọc vượt qua sáu lăm con dốc cuộc đời mình
Lần đầu mẹ đến một thành phố
Thành phố còn bình thường
Sao mẹ quá bỡ ngỡ
Bàn chân quen lội bùn run rẩy trên mặt
nhựa phẳng gương


Nhà của con đây xin mẹ bước vô
Căn phòng nhỏ tuềnh toàng của người kỹ sư
còn nghèo khó
Mười bốn mét vuông gạch hoa vẫn làm mẹ ngơ ngác
Con hiểu nền đất nhà mình vẫn lầm bụi quanh năm


Chẳng phải để dạo chơi mẹ lặn lội đến đây
Đứa cháu nội đầu tiên vừa tròn hai tháng tuổi
Con ân hận biết bao dù đã sáu lăm năm gian khổ
Năm tháng cuối đời mẹ chẳng được nghỉ ngơi


Ôm đứa cháu xinh mắt mẹ rạng ngời
Mẹ hãy để nàng dâu miền Nam trổ tài nấu ăn đón mẹ
Suốt một đời
chỉ rau muống chấm tương
lác đác bữa cua đồng, cá nhỏ
Món cà-ri lạ lùng mẹ lại chẳng quen ăn


Ôi mẹ của con!
Người mẹ bình thường như bao bà mẹ nông dân!
Tưởng dấu chân gánh thóc của mẹ phủ kín
cả mặt đất này cực nhọc
Vạn triệu hạt mồ hôi mặn mòi như những giọt nước mắt
Chưa hết nỗi khổ này lại chồng tiếp nỗi đau kia


Nhìn mái đầu bạc phơ thương biết bao nhiêu!
Con bỗng thấy những nắng, những mưa,
những bão giông cuồn cuộn trong từng sợi tóc
Bao chờ mong, bao lo toan hằn trong từng
nếp nhăn khóe mắt
Cặm cụi một đời chỉ biết hy sinh


Ôi mẹ ngàn lần, ngàn lần yêu kính của con!
Sáu lăm tuổi lần đầu đến một thành phố
Hạt gạo ở đây người ta coi bé nhỏ
Nhưng quen như ở nhà mẹ cứ mang thùng gạo ra đong./.


1985

NỖI NHỚ MÙA ĐÔNG



Khi những ngọn gió chui qua chỗ kính vỡ
ùa vào giường con
Mang theo cái lạnh đêm Sài Gòn khuya khoắt
Tự dưng con không sao chợp mắt
Gió Bấc về rồi mẹ ơi lạnh lắm không?


Ôi nhớ quá quê hương ơi mùa Đông!
Nước lạnh cóng con cá rô không bơi được
Thương mẹ cấy lâu dầm trong bùn nước
Máu tụ bầm đầu những ngón tay!


Mẹ ơi con biết làm gì đêm nay?
Khi gió Bấc sắc thổi luồn qua liếp cửa
Đêm thì dài mà chăn thì mỏng
Chỗ ấm mẹ nhường thằng út bé con!


Ôi mùa Đông rét trụi cành xoan
Rét quăn mép chiếc lá chè thưa thớt
Rét làm đọng hơi mặt giếng khơi ngùn ngụt
Rét làm dài con đường ngắn ngủi trên quê


Con bỗng muốn trở về những năm tháng ấu thơ
Sáng sáng mùa Đông bên chảo cơm rang thơm ngát
Mẹ chia cho chúng con mỗi đứa một bát
Rồi mẹ kiểm tra cúc ngực trước lúc đến trường


Ôi nhớ quá quê hương ơi quê hương!
Trong lạnh cóng rễ cây lúa của mẹ vẫn
cần cù chắt chiu trong lòng đất
Như ngọn lửa trong tim mẹ mãi mãi không tắt
Sưởi ấm sự sống mùa Đông trên quê hương./.


9-1982

Vì sao ở Nhật không có ăn xin?


Vì sao ở Nhật không có ăn xin?

Tác giả: Theo NTDTV (Tinh Vệ biên dịch)





Trên đường về nhà tôi trông thấy một người già đi chiếc xe đạp, phía sau xe thồ cái túi vỏ lon. Tôi chợt nhớ ngày mai là ngày đổ rác trong tuần theo quy định, cụ già hiển nhiên là ra tay trước công ty thu gom rác, cụ thu nhặt những vỏ lon bị những nhà hàng quán bar bỏ đi.

Chắc chắn đêm nay là cơ hội kiếm tiền của ông trong suốt tuần lễ. Số tiền này ông sẽ đi mua mấy thùng mì ăn liền, hai miếng đậu hũ, thêm một bình rượu, nằm trong căn phòng nhỏ bằng nhựa xung ở dưới chân cây cầu lớn thưởng thức món ăn ngon. Ông cụ này là một người già sống lang thang.
Có thông kê ở Tokyo có hơn 2000 người sống lang thang giống như ông. Mùa hè năm ngoái, tôi được chứng kiến cảnh một gia đình lang thang sống dưới cái trụ cầu ở Edogawa. Trụ cầu có thể che mưa, nước sông Edogawa có thể tắm giặt, vì khu vực thuộc đất công nên trở thành nơi trú tạm cho những người lang thang.

Những ngôi nhà của họ thường dùng miếng nhựa dày màu xanh da trời dựng lên, trong có miếng nệm nhỏ được nhặt ở đâu đó, nếu tốt thì có thêm đồ điện, ví dụ như cái tivi nhỏ và nồi cơm điện… Không biết từ đâu lại có được một máy phát điện cỡ nhỏ, trở thành trạm phát điện các hộ gia đình vô gia cư.

Thông thường công việc của họ là lượm lặt những tập san bỏ đi ở trong các thùng rác ở trạm tàu hoặc trên các chuyến tàu. Thế rồi chúng được mang đến những bến xe, thậm chí những nơi đầu phố sầm uất, bày thành cái quầy và được định giá tiền rẻ hơn khoảng một nửa. Tất nhiên, quản lý đô thị Tokyo không để ý đến chuyện này.

Những người sống lang thang này đa số là người già, cũng có người tuổi trung niên. Trước đó có thể họ là cán bộ lãnh đạo trong những công ty, hoặc là ông chủ nhỏ hộ cá thể, vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà cuối cùng họ chọn cuộc sống lang thang này, họ không muốn tiếp tục công việc như trước nữa vì cảm thấy cuộc sống không có đồng hồ báo thức này mới là hạnh phúc.
Chính phủ Nhật Bản có chính sách “cuộc sống bảo hộ” với những người nghèo khó. Chỉ cần bạn khó khăn trong cuộc sống là bạn có thể đến chính quyền địa phương xin hưởng chế độ “cuộc sống bảo hộ”. Những người hưởng “cuộc sống bảo hộ” như ở Tokyo hàng tháng được nhận 120.000 yên Nhật (khoảng hơn 22 triệu đồng), đủ chi cho ăn ở.

Nhưng có rất nhiều người lang thang từ chối nhận, vì họ cảm thấy: Sống bằng sức lao động của mình là sự tôn nghiêm của bổn phận làm người. Ở Tokyo, thậm chí khắp nơi trên đất nước Nhật Bản đều không có những người xin ăn dọc đường, đừng nói đến chuyện những đứa trẻ bị đánh gẫy tay chân bắt đi xin ăn. Nhật Bản không có ăn xin, đây là sự thực ở đảo quốc đáng yêu này.

Tôi hỏi một giáo sư xã hội học ở Đại học Keio: “Nhật Bản tại sao không có ăn xin?” Ông trả lời thẳng thắn:


Thứ nhất, vấn đề thể diện với người Nhật cực cao, họ thà chết đói chứ không đi xin bố thí; thứ hai, người Nhật đặc biệt khinh rẻ những kẻ không làm mà được hưởng; thứ ba, trong truyền thống văn hóa võ sĩ đạo Nhật Bản có quan niệm “thà nghèo chứ không thể ngắn chí”.

——————-
(Đại Kỷ Nguyên VN)

Dù ở đâu, tự do báo chí cũng luôn có giới hạn của nó





Con người được sinh ra và trưởng thành từ trong cộng đồng. Bởi vậy bất kỳ cộng đồng nào cũng đòi hỏi mỗi người sống trong nó phải có ý thức chung. Nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển… Nhưng tự do của mỗi cá nhân không thể bị hạn chế bởi những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là sự ổn định xã hội mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác. Tự do báo chí cũng không nằm ngoài quy luật ấy.

Nhìn lại lịch sử tự do ngôn luận, tự do báo chí là một quyền cơ bản của con người, có lịch sử ra đời sau cuộc vùng dậy của nhân dân Pháp đập phá ngục tù Bastille (Paris) vào ngày 14-7-1789, lật đổ thể chế vương quyền để thành lập nền cộng hoà Pháp dựa trên ba yếu tố: Tự do, Bình đẳng, Bắc ái. Ngay trong năm 1789, Quốc hội Mỹ chỉnh lý hiến pháp lần đầu tiên công nhận quyền tự do ngôn luận tại quốc gia này. Kể từ đó, quyền tự do ngôn luận tại quốc gia này bắt đầu tràn sang một số nước châu Âu và châu Mỹ. Năm 1948 LHQ thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người trong đó công nhận tất cả mọi người đều hưởng tự do ngôn luận. Quy ước nhân quyền châu Âu ra đời năm 1950, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng xác định quyền tự ngôn luận là quyền cơ bản của con người.

Tuy nhiên, quyền tự do báo chí không phải là không có giới hạn. Quy ước nhân quyền châu Âu, Điều 10-2 quy định: “Quyền tự do ngôn luận lúc nào cũng bị hạn chế bởi một số thể thức, một số điều kiện và hình phạt mà luật pháp đã quy định”. Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị khẳng định, khi thực hiện quyền tự do ngôn luận không được làm tổn hại đến danh dự và nhân phẩm người khác, lợi ích quốc gia, trật tự công cộng.

Quy ước nhân quyền châu Âu có những điều lệ vô cùng khắt khe để ngăn chặn mọi hành động nhũng lạm đối với quyền tự do ngôn luận. Điều 10-2 quy định: “sử dụng quyền tự do ngôn luận lúc nào cũng đi đôi với bổn phận và nghĩa vụ đã được quy định trong một số thể thức, điều kiện và sự trừng phạt mà phát luật đề ra”. Trong một xã hội tự do và dân chủ, thiết kế những điều lệ nhằm giới hạn một số quyền tự do ngôn luận là biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ an ninh trật tự, luân lý và đạo đức; tôn trọng danh dự và nhân phẩm người khác. Điều này hoàn toàn đúng với nguyên lý của C.Mác đưa ra hơn 100 năm trước: “Tự do báo chí bao giờ cũng có, vấn đề là tự do báo chí cho ai và tự do để làm gì” như vậy sống trong xã hội nào thì tự do báo chí cũng bị giằng buộc về tính chính trị của đất nước đó, người làm báo chịu trách nhiệm trước pháp luật về những phát ngôn của mình.

Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền khẳng định: “Trong khi thụ hưởng các quyền và tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và tự do của những người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Đối chiếu với pháp luật quốc tế về tự do báo chí cho thấy pháp luật Việt Nam về vấn đề này hoàn toàn tương thích. 4 bản Hiến pháp của Việt Nam trước đây và mới nhất là Hiến pháp năm 2013 đều quy định cụ thể về quyền tự do ngôn luận. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 14.2 ghi rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng”. Để cụ thể hoá quyền hiến định này, Nhà nước ta đã ban hành luật Báo chí 1989 và sử đổi bổ sung năm 1999, Luật xuất bản năm 2001 và đang soạn thảo Luật tiếp cận thông tin. Hiện Bộ Thông tinvà Truyền thông đã tổng kết 15 năm thi hành luật Báo chí năm 1989 trên cơ sở đó xây dựng Dự án luật báo chí mới và đang được tổ chức lấy ý kiến các tổ chức cá nhân trên trang thông tin điện tử của Bộ, Đề án “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025” cũng đang chuẩn bị triển khai…

Việt Nam đã và đang làm tất cả những điều cần thiết để đổi mới, phát triển đất nước, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Báo chí Việt Nam có quyền đề cập tất cả các vấn đề mà pháp luật không cấm. Pháp luật chỉ cấm báo chí kích động nhân dân chống Nhà nước; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kích động bạo lực; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác; tiết lộ bí mật nhà nước; đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, nhân phẩm của cá nhân. Hiểu đúng về quyền tự do báo chí, đội ngũ những người làm báo Việt Nam cần phải hiểu đúng về quyền và nghĩa vụ của mình đối với dân tộc, với đất nước và nhân dân. Điều đó giúp cho dân tộc Việt Nam trở thành một khối thống nhất, nhân tố quyết định cho sự ổn định, hoà bình và bền vững.

Âm mưu của Mỹ, phương Tây đối với Việt Nam là không thay đổi. Dã tâm muốn lật đổ chế độ, tác động hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chúng chưa bao giờ từ bỏ. Với âm hưởng từ các cuộc cách mạng màu, mùa xuân Ả-rập luôn là sự khích lệ đối với chúng. Thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình tiến tới bạo loạn lật đổ là một âm mưu chúng ta đã nhận diện từ lâu nhưng nó vẫn luôn sống dai dẳng vì nó được sinh ra và nuôi bởi những quốc gia giàu có trên thế giới. Thêm vào đó, lũ “rận chủ” luôn là những con chó trung thành luôn sủa thuê cho những quốc gia này vì những trang web danlambao.blog.spot.com quanlambao.blog.spot.com… có một đội ngũ luôn xưng danh đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền” đấu tranh cho sự tự do không giới hạn của báo chí, ngôn luận hoạt động rất tích cực.

Thủ đoạn của lũ rận chủ là lợi dụng những vấn đề nóng bỏng kích động quần chúng nhân dân. Lợi dụng tự do ngôn luận để tuyên truyền vu cáo, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Chúng cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, bị giới hạn về tự do báo chí. Nhưng những gì mà bầy rận chủ sủa thuê cho Mỹ, phương Tây thì chính những nước đó đang có những điều luật khắt khe về tự do báo chí, chưa bao giờ ở những quốc gia đó có sự tự do báo chí vô hạn cả vì vậy rận chủ xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam chẳng khác nào tự vả vào mồm chúng vậy.

Vậy lý do gì mà ở phương Tây có sự giới hạn về tự do báo chí nhưng chúng lại luôn đòi Việt Nam cần phải có sự tự do vô hạn về tự do báo chí?? Đơn giản vì chúng muốn được công khai xuyên tạc, vu khống, nói xấu tuyên truyền những vấn đề sai sự thật ở Việt Nam hòng làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước để từng bước gây phẫn nộ rồi biểu tình lật đổ chế độ này như kịch bản đã từng xảy ra ở các nước Đông Âu, Trung Đông, Ả-rập và gần nhất là Ukraine. Hậu quả của những cuộc biểu tình thì tất cả ai cũng rõ, đất nước rối ren, mất ổn đinh, huynh đệ tương tàn, nhân dân đói khổ ly tán khắp nơi. Rồi dựng lên chính quyền thân Mỹ, vơ vét tiền của nhân dân, cho các nước phương Tây khai thác tài nguyên khoáng sản của đất nước. Thậm chí, những chính quyền này còn cho Mỹ biến thành “mồ chôn” với hàng ngàn chất thải phóng xạ trên chính đất nước của mình điển hình như Ukraine. Chúng ta hãy cảnh giác, trân trọng nền tự do, hoà bình. Đừng để lũ rận chủ sủa vào tai những điều vu khống.

Chiến Thắng

Sự thật về Ý tưởng điên rồ của ĐQ Mỹ định sử dụng bom nguyên tử trong chiến tranh Việt Nam!




Hôm nay Lão tình cờ đọc được một bài viết mang tựa đề: Worst Idea Ever: Dropping Nuclear Bombs During the Vietnam War (Tạm dịch: Ý tưởng tồi tệ nhất từ trước tới giờ : Thả bom hạt nhân Trong cuộc chiến tranh Việt Nam)


Nguồn:

http://www.nationalinterest.org/feature/worst-idea-ever-dropping-nuclear-bombs-during-the-vietnam-13668

Bài viết này đã phân tích tình huống Lầu Năm Góc và Cựu tổng thống Johnson đã bàn bạc cân nhắc đến tình huống sẽ sử dụng bom nguyên tử để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, qua phân tích của các chuyên gia quân sự, việc sử dụng bom nguyên tử để tham chiến ở Việt Nam trong nỗ lực vực lại uy thế và nỗi nhục của không quân Mỹ trong những đợt không kích ném bom đánh phá miền Bắc. Tuy nhiên, lo sợ trước khả năng Liên Xô và Trung Quốc sẽ cung cấp vũ khí nguyên tử cho Việt Nam, lo sợ quân đội Bắc Việt sẽ nuốt trọn những cứ điểm của quân đội Mỹ trên chiến trường Nam -Việt Nam. Sự thất bại là không thể tránh khỏi nếu sử dụng bom nguyên tử tại chiến trường Việt Nam nơi địa hình không lý tưởng cho việc sử dụng bom nguyên tử. Đồng thời không một cơ sở nào của Mỹ có thể sản xuất được số lượng bom khổng lồ đến thế cho quân đội Mỹ để phục vụ cho chiến trường Việt Nam.

Bom Nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945


Thật nguy hiểm khi lầu năm góc đã tính toán đến phương án sử dụng bom nguyên tử trong chiến tranh Việt Nam, nếu thông tin này là chính xác thì rõ ràng thật may mắn cho Việt Nam trong lịch sử, bởi nếu Mỹ sử dụng bom nguyên tử thật thì với sức hủy diệt của hàng trăm quả bom nguyên tử không biết tương lai của Việt Nam sau chiến tranh sẽ như thế nào? Và tội ác của đế quốc Mỹ liệu có dừng lại ở những hậu quả nặng nề từ chiến tranh như những nạn nhân chất độc da cam Điôxin ở Việt Nam. Bởi những hậu quả từ vụ ném bom xuống Nhật Bản của đế quốc Mỹ đã khiến cả nhân loại kinh hoang bởi sức tàn phá của những quả bom này.



Những nạn nhân trong vụ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản của đế quốc Mỹ

Trần Ái Quốc

Nội dung bài viết:

By February 1966, frustration with the U.S. bombing campaign against North Vietnam rose high enough to spur talk of going nuclear. Throughout the Vietnam War, such talk was mostly just that, but in 1966, it worried certain people enough to gin up a classified study of tactical nuclear weapons use in Southeast Asia. The study’s authors—members of the JASONs, the Pentagon’s “wise men”—concluded that any way you looked at it, nukes in ‘Nam were a very bad idea.

The JASONs were and are highly respected within the Defense Department. Defense consultants drawn from the cream of academia, they had the Pentagon’s ear and the freedom to choose their research topics. Early in 1966 four of them—chemistry professor Robert Gomer, quantum physicist Steven Weinberg, particle physicist Courtenay Wright, and mathematician Freeman Dyson—decided to look into the the use of nukes in Vietnam for that summer’s study.

According to Seymour Deitchman, who served with the Institute for Defense Analysis, the organization that supported the JASONs, “…there had been not infrequent talk among some of the military people involved in planning the war effort, with whom I had contact, that ‘a few nukes’ dropped on strategic locations, such as the Mu Gia pass through the mountainous barrier along the North Vietnamese-Laotian border, would close that pass (and others) for good.”

Freeman Dyson recalled, “We were prompted to write this report by some remarks we heard at an informal party, probably in Spring 1966. A high-ranking military officer with access to President Johnson was heard to say, ‘It might be a good idea to toss in a nuke from time to time, just to keep the other side guessing.’ We had no way to tell whether the speaker was joking or serious. Just in case he was serious, we decided to do our study.”

All four men entered the project believing that nuclear weapons would only make a brutal war more terrible. But they faced a rhetorical dilemma: if they addressed ethical and moral issues around tactical nuke use, they risked being dismissed as “soft” and unreliable. Therefore, they chose to explicitly exclude ethical and moral issues and focus solely on military and political ramifications. Steven Weinberg said the analysis was “…honestly done, but I have to admit that its conclusions were pretty much what we expected from the beginning.”

Those conclusions were eye-opening. Although a RAND Corporation study estimated that one tactical nuclear weapon equaled twelve conventional bombing attacks, the JASONs concluded that an all-nuclear “rolling thunder”–style bombing campaign would require 3000 tactical nukes a year. Not even the massive U.S. nuclear production complex could support that kind of use.

Even with such awesome firepower, the results looked unsatisfying. Wargames played under Big War conditions—massed troop and armor concentrations in Europe—indicated that each nuke would only kill one hundred soldiers. Attacks against small, dispersed forces moving under jungle cover looked even less effective.

Mountain passes along the Ho Chi Minh Trail could be shut down and large areas of forest blown down by tactical nukes very effectively, but only until the Vietnamese cleared new paths. Maintaining damage and radiation levels would require repeated nuclear attacks and as one JASON said, “a tree only falls once.”

Tactical nukes could destroy tunnel systems, but required precise targeting. If targeting were that precise why not just use conventional B-52 strikes? Said former CIA analyst Daniel Ellsberg, “If you don’t have a target for B-52s, you don’t have a target for nuclears.”

In sum, the JASONs concluded that unilateral U.S. use of tactical nukes wouldn’t make much of a difference to the war effort. It could, however, provoke some very nasty consequences. Says historian Alex Wellerstein, “Since World War II, the US has the strongest interest in not breaking the ‘nuclear taboo’ because once nukes start becoming normalized, the US usually stands to lose the most, or at least a lot.”

U.S. nuclear strikes in Vietnam might have compelled the USSR and/or China to respond. The Soviet Union could not afford another loss of face only four years after the Cuban Missile Crisis and might well have supplied North Vietnam with tactical nukes. Such weapons, the JASONs noted, were just the sort of military forces the U.S. deployed to Vietnam in large bases and ports and large troop concentrations.

If weapons comparable to the Honest John battlefield missile or the Davy Crockett nuclear bazookamade it into Viet Cong hands the results would have been catastrophic. “If about 100 weapons of 10-KT yield each could be delivered from base parameters onto all 70 [US] target areas in a coordinated strike,” wrote the JASONs, “the U.S. fighting capability in Vietnam would be essentially annihilated[emphasis added].”

THÂM CUNG BÍ SỬ LÀNG "RẬN"


KỲ I: HUỲNH NGỌC CHÊNH NÓI MẸ NẤM LÀ LOẠI “QUÁ SỨC TỆ”


Từ trước tới nay, Huỳnh Ngọc Chênh luôn được người trong giới hết sức “thần tượng” vì y không chỉ là kẻ lão làng, có những bước đi chậm nhưng chắc, lắm mưu nhiều kế mà còn ở trên mạng xã hội, đặc biệt là facebook, ở Chênh khó tìm ra những kẽ hở nào.

Tuy nhiên, sống lâu thì con cáo cũng bị lòi đuôi, cáo già Huỳnh Ngọc Chênh vừa qua đã làm cho cộng đồng facebook náo loạn vì chiến tranh thiếu suýt nữa là phải động tay động chân ngoài màn đấu khẩu với “hót gơn” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm Gấu).

Chân dung Mẹ Nấm Gấu Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Nguồn: Internet)

Khơi mào cho màn chiến tranh này xảy ra, đó là Huỳnh Ngọc Chênh bình luận ở facebook Lạc Giữa Sài Gòn nói về Mẹ Nấm:
“Mẹ Nấm quá sức tệ, thật không ngờ lại đi giao du, tung hứng với những đứa tục tĩu như vậy”.
Cùng “góp sức” với Huỳnh Ngọc Chênh để đấu tố Mẹ Nấm là những facebook máu chiến và rực lửa với những bình luận không kém cạnh phần “hăng máu” như kẻ đầu sọ là mấy. Facebook Anhtuan Ngo thì nói Mẹ Nấm với những đứa tục tĩu không khác gì “Mèo mả gà đồng” hay như facer Tim Pham thì chốt hạ “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.

Đáp lại, Mẹ Nấm như con “gấu” lồng lộn trong chuồng, ngay lập tức viết status:
“Anh Chênh vào chất vấn mình tại sao giao du (comment) với anh Ly Cu Tê bên nhà Tony Ngo. Chuyện lẽ thường ai cũng có quyền hỏi như vậy. Cái hài vê lờ tiếp theo là từ câu hỏi trên các anh chị biến thành chốn đấu tố tư cách tôi ở nhà người khác. Và nói luôn, không có đứa nào đủ thẩm quyền để phán xét tư cách tôi”.

Theo như Mẹ Nấm Gấu thì đáng lẽ sự việc diễn ra rất bình thường nhưng do đàn anh Huỳnh Ngọc Chênh cố ý đẩy đi quá xa. Sau khi "góp ý" của mình qua hộp thư chát trên facebook gửi cho Mẹ Nấm Gấu không thấy trả lời lại, Huỳnh Ngọc Chênh cảm thấy không được tôn trọng, lòng tự ái dâng trào, liền đưa Mẹ Nấm ra "thanh thiên bạch nhật" đấu tố tư cách của Mẹ Nấm mà chưa có sự "cho phép" của thị. Vụ việc được nhiều thành phần thay nhau vào bình luận, kẻ vào lời ra, kẻ hùa theo "đàn anh" Huỳnh Ngọc Chênh, kẻ bênh vực "hót - gơ" Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Satus châm ngòi nổ của Huỳnh Ngọc Chênh được Mẹ Nấm Gấu cho là tính đàn bà, hẹp hòi (Nguồn: FB Lạc Giữa Sài Gòn)

Sau đó vài tiếng đồng hồ, giải thích cho sự "mất tích" của mình là vì lý do "mất điện", Mẹ Nấm Gấu điên tiết khi chạm ngay bài viết đậm tính chất đàn bà, hẹp hòi, ích kỷ và đầy tính đố kỵ nhau của Huỳnh Ngọc Chênh trên facebook. Trước thì Mẹ Nấm còn giữ được bình tĩnh khi xưng "anh-em" với đàn anh nhưng sau đó, trước sự đố kỵ, bản chất tính đàn bà hẹp hòi của Chênh, Thị Nấm không còn sự nể nang, giữ kẽ trong cách xưng hô nữa mà thẳng thừng xưng ngang hàng. Thâm chí, Nấm còn nói Huỳnh Ngọc Chênh là "đứa nào" khi tuyên bố "không có đứa nào đủ thẩm quyền để phán xét tư cách tôi”.

Trước sự "hổ báo", láo lếu của đàn em, Huỳnh Ngọc Chênh như con chó đang nằm mà bị giẫm phải đuôi, gằn lên từng từ: “Bây chừ bạn đã unfriend tôi rồi nên tôi xin rút lại mọi lời”. Tuy nhiên, Mẹ Nấm "phang" lại ngay sau đó bằng những câu từ phũ phàng không kém: "Nhầm, tôi không là bạn bè với anh từ lâu, trước cả khi anh nhắn tin cho tôi”.

Thị Nấm còn cười khẩy trước sự già lẩm cẩm trước tuổi của Huỳnh Ngọc Chênh. Và Mẹ Nấm không quên "khơi gợi" lại câu chuyện từ quá khứ. Khi mà Mẹ Nấm bị "những thằng giương cờ đấu tranh dân chủ ném đá, kết tội" thì những kẻ facebook "đạo mạo" như Huỳnh Ngọc Chênh lúc ấy đang ở đâu? Tại sao khi ấy lại làm "anh hùng núp", đóng cửa cài then, im ỉm giương mắt nhìn đàn em gặp họa? Để đến bây giờ, khi mọi chuyện đã êm xuôi, thì những kẻ sống đạo đức giả như Huỳnh Ngọc Chênh lại trồi lên để truy vấn, kết tội thị Nấm như vậy?

“Trong lúc tôi hân hạnh được những thằng giương cờ đấu tranh dân chủ ném đá, kết tội thì các nhà facebook đạo mạo ở đâu mà nay truy vấn tôi kiểu này thế?”
Trước đây, những cuộc "chiến tranh" mà đặc biệt là màn đấu khẩu giữa các "rận" với nhau là chuyện như "cơm bữa". Đối với mẹ Nấm thì ta từng chứng kiến nhiều cuộc đấu khẩu nảy lửa giữa thị với cá nhân, tổ chức khác. Bên cạnh cuộc "chiến tranh một mất một còn" giữa Mẹ Nấm Gấu và Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió) - cũng là người tình cũ của thị. Cuộc chiến này tuy cũng "không còn tình, không còn nghĩa" giữa hai bên nhưng là cuộc đấu khẩu gián tiếp thông qua các bài viết. Đằng này, cuộc chiến hiện nay giữa Huỳnh Ngọc Chênh và "người đẹp" 02 con Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là "từ mặt" nhau trực tiếp qua từng con chữ trước bàn dân thiên hạ.

Thế mới biết, những kẻ khoác trên mình những bộ áo quần, váy vóc đẹp, bộ kính sang chảnh kèm theo nhiều thứ hàng hiệu khác...cùng với cái loa mồm suốt ngày leo lẻo, ra rả đấu tranh cho "dân chủ", "nhân quyền" nhưng chỉ là cái mã, cái mác gắn bên ngoài. Ẩn đằng sau vẻ ngoài đạo đức giả ấy là những bản chất thối nát, vụ lợi cho bản thân thông qua những bóc mẽ của chính người trong cuộc.

Thật là bi hài thay cho các "zân chủ"!


KỲ II: HUỲNH THỤC VY BỊ ĐỒNG BỌN BÓC MẼ VỤ 100$


Như đã biết ngoài Viet Duc Le thì còn có thêm đội quân hùng hậu như Tony Ngo,Ly Cu Tê, Nguyễn Đan Quế… đều xung phong làm “anh hùng”, bất chấp gạch đá để vạch trần bộ mặt thật của những kẻ mang danh “dân chủ”. Trước đó danh sách “dân chủ” bị bóc mẽ bản chất thật gồm những kẻ máu mặt, đầu sỏ như Lê Công Định, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm Gấu)…nay lại thêm “đả nữ” Huỳnh Thục Vy.
  
Chân dung "nàng công chúa" nhận tiền giúp đỡ của người khác mà "quay đít", "không lời hỏi thăm, không lời cảm ơn" - mang tên Huỳnh Thục Vy (Nguồn: Internet)

Qua câu chuyện “hồi ức” của mình, Tony Ngo đã vạch trần bản chất của Huỳnh Thục Vy được giả nai với một vẻ bề ngoài có nhan sắc. Y kể rằng, hồi Huỳnh Thục Vy đang "đói nghèo, mắc nạn chi đó" nên đồng bọn thương mà thi nhau góp từng đồng tiền để "cổ tai qua nạn khỏi". Hồi ấy, đa số "rận chủ" cũng đang cũng đang chật vật với cuộc sống cơm áo gạo tiền nơi tha phương cầu thực nên cũng không có dư dả để giúp đỡ người khác.

Trong đó có Hồ Lan Hương, "dạo ấy cũng tán gia bại sản", "trong nhà ngoài mấy lon gạo đong hàng bữa thì éo có gì khác". Nhưng, theo Tony Ngo thì mặc dù tình cảnh của bản thân mình như vậy nhưng khi một người bạn khác của mình nhắn tin nhờ Hồ Lan Hương cho "mượn 100quot; để gửi cho "nàng công chúa" đất Quoảng Nôm (Quảng Nam) là Huỳnh Thục Vy.

Như đã nói ở trên, tình cảnh của Hồ Lan Hương lúc ấy cũng chỉ thiếu nước cầm bát ra đường ăn xin nữa mà thôi. Tuy nhiên, nhờ "có người đặt cọc tiền cho Hồ Lan Hương" với thị "mót tiền lì xì, từng tờ tiền 2$ may mắn trong ví ra để gom cho đủ 100quot;. Vậy là đã đủ 100$ cho bạn của Hồ Lan Hương mượn để gửi cho "nàng công chúa".


Chân dung Tony Ngo (ngoài cùng bên phải) (Nguồn: FBNV)


Tuy nhiên, nghịch cảnh xảy ra khi thái độ trâng tráo, "ăn cháo đá bát" của "nàng công chúa" Huỳnh Thục Vy đã làm cho đồng bọn của thị một phen biết được bộ mặt thật của thị:
"Xong Zú gọi điện cho công chúa đến nhận tiền. Đến nhà, nàng công chúa xinh đẹp, đỏng đảnh của chúng ta sau khi nghe Zú nói có bạn nhờ Zú chuyển cho nàng 100$ giúp nàng tai qua nạn khỏi thì nàng công chúa “nhả ngọc phun châu” như thế này:
“Cho có một trăm đô thôi hả, tưởng nhiều chứ”
Sau đó nàng công chúa nhà ta quay đít bỏ đi, không thèm hỏi thăm người cho tiền lấy một câu và tất nhiên là cũng không hề có lấy một lời cảm ơn nào. Và đối với Zú Hồ Lan Hương thì càng không có chuyện mơ màng đến lời cảm ơn của nàng công chúa. Sau này người bạn của Zú về VN, Zú kể lại chuyện, người bạn này cứ vò đầu bức tai, cứ ấm ớ mà hổng nói nên được một lời nào!"
Tony Ngo đắng cay khi nhắc lại thái độ của "nàng công chúa" Huỳnh Thục Vy khi thị đến nhận tiền của người khác gửi về giúp đỡ mình. Sau khi "nhả ngọc phun châu" rằng: "Cho có một trăm đô thôi hả, tưởng nhiều chứ" thì Huỳnh Thục Vy "quay đít bỏ đi" và "không hề hỏi thăm", "một lời cảm ơn" nào.

Tony Ngo đã phải chua chát khi thốt lên những lời cay đắng, xót xa với chính đồng bọn của mình - những kẻ sống đạo đức giả như Huỳnh Thục Vy là:
“Người tô vẽ bản thân, khoát lên người bộ áo đấu tranh dân chủ nhưng thực chất trong đầu của họ chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền. Họ rất tham lam và vô học”.

KỲ III: CẶP HỌ HUỲNH "XÙ LÔNG" BẢO VỆ NHAU


Cặp họ Huỳnh được đồng bọn của chúng gọi là cặp "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" không ai khác ngoài lão già Huỳnh Ngọc Chênh và "nhan sắc" Huỳnh Thục Vy. Thời gian vừa qua, việc Huỳnh Ngọc Chênh và Mẹ Nấm Gấu và phe cánh "đấu khẩu", hạ bệ nhau "một mất một còn" không ai là không biết. Và việc Huỳnh Ngọc Chênh bị lép vế trước "đàn em" là Mẹ Nấm Gấu khi khẩu chiến trước bàn dân thiên hạ trên mạng xã hội facebook công khai. Huỳnh Ngọc Chênh thì bị bọn em út nói thẳng: "Già rồi, hai thứ tóc còn ngu". Xem thêm:

1. Huỳnh Ngọc Chênh nói Mẹ Nấm là loại "hết sức tệ"
2. Huỳnh Thục Vy bị đồng bọn bóc mẽ vụ 100$

Cặp "mèo mả gà đồng" họ Huỳnh (Huỳnh Ngọc Chênh và Huỳnh Thục Vy) (Nguồn: FBNV)

Đứng trước nguy cơ "thất bại", nhận một bàn thua trông thấy vì ít "fans" (hâm mộ) hơn, Huỳnh Ngọc Chênh như con hổ đơn côi ngay trên lãnh thổ của chính mình. Tưởng chừng như lão già Huỳnh Ngọc Chênh một mình chiến đấu đến thì đến phút chót "nàng công chúa" họ Huỳnh xuất hiện, cùng tham gia vào màn đấu khẩu, cùng phe cánh với "đàn anh" cùng họ. Huỳnh Thục Vy cũng không lép vế trước đồng bọn của mình khi cùng hùa vào với Huỳnh Ngọc Chênh:
"Nói thật, mình không bao giờ làm bạn Fb với những người hạ nhục có chủ ý những anh chị em đấu tranh như thế này cả. Dù có thể bất đồng với anh chị em nhiều vấn đề, nhưng hùa vào những kẻ hạ nhục anh chị em mình thì không thể chấp nhận được".
Trước những lời lẽ giả nhân, giả ngãi của "nàng công chúa" Huỳnh Thục Vy, đồng bọn của thị kẻ hùa vào bênh vực, kẻ thì bóc mẽ bản chất. Bọn chúng cho rằng, chính vì Huỳnh Thục Vy cũng bị nhóm Viet Duc Le, Ly Cu Tê, Tony Ngo, Nguyễn Đan Quế, Hồ Lan Hương...bóc mẽ vụ thị là loại người sống vô ơn, "ăn cháo đá bát" khi nhận tiền của người khác giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn mà không một lời "hỏi thăm" hay "cảm ơn". Bởi lẽ, thị cứ ngỡ số tiền là mấy trăm triệu VNĐ hoặc ít hơn cũng xấp xỉ từng ấy nhưng con số chỉ là 100$ nên thị đã tỏ thái độ "không thể chấp nhận được" đối 
với người giúp đỡ mình

.
Những status của chính đồng bọn của Huỳnh Ngọc Chênh viết về y (Nguồn: FB Tony Ngo)


Huỳnh Thục Vy chua chát khi đàn chị Thúy Nga hay đàn anh Nguyễn Văn Đài cũng vào like (thích) những status của Viet Duc Le, Tony Ngo, Nguyễn Đan Quế...Thị "cảnh báo" những kẻ này:
"Nhiều anh em mình như chị Thuy Nga, anh Nguyễn Văn Đài, còn vô làm bạn và Like Stt của anh ta nữa, chắc là do like khi chưa hiểu ý. Khổ ghê".
Huỳnh Thục Vy còn tỏ ra hơn người khi "nhắc nhở" đàn anh chị rằng thì là mà nên có "trách nhiệm" với nút like (thích) trên facebook của chính mình. Đáp lại là nick Dung Dang tức giận nói: "Bạn là ai mà đi dạy người khác cách sử dụng nút like, like hay không là quyền của mỗi cá nhân". Thậm chí, nick Dung Dang còn tuyên bố thẳng thừng:
"Học đòi làm Điếu Cày mà không biết ngay cái cơ bản là quyền con người". Nó (Huỳnh Thục Vy) không có tư cách để dạy người khác".
Như đi ra giữa biển không có phao cứu, thị liền tìm ngay đồng minh, cùng Huỳnh Ngọc Chênh "xù lông" cố vớt vát bảo vệ bản thân trước "gạch đá" của chính đồng bọn.Trước những lời lẽ đạo đức giả của Huỳnh Thục Vy trước những thông tin lột tả bản chất thật của chính mình, Viet Duc Le như đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho đồng bọn lại thêm một cơ hội được chứng kiến bộ mặt thật xấu xa được giấu diếm cẩn thận với vẻ bề ngoài có tí nhan sắc:
"Nói thật chứ xưa kia tui rất có cảm tình với cha con cô Huỳnh Thục Vy này nhưng càng ngày thấy họ như đang HÀNH NGHỀ DÂN CHỦ và lợi dụng dân chủ để kinh doanh cafe, nghe đâu sẽ ra CD để bán lấy tiền cho mục đích đấu tranh nữa cơ. Còn chuyện làm nổi để cho các cơ quan nước ngoài biết như tập đọc tiếng Anh kiểu ậm ì è để quay video clip...Xem mà thấy tức cười".
Để nhiều kẻ cùng chí tuyến với những kẻ ở trên phải ngao ngán khi cứ mỗi lần online facebook thì đập vào mắt đầu tiên là những cuộc chiến giữa đồng bọn với nhau. Mặc cho những lời khuyên như "không được vạch áo cho người xem lưng", "anh em nội bộ thì đóng cửa mà dạy nhau" hay như "đẹp thì phô ra chứ xấu xa ai lại đưa lên công khai thế này"...phe cánh Mẹ Nấm Gấu, Nguyễn Đan Quế, Viet Duc Le...và cặp "mèo mả gà đồng" họ Huỳnh (Huỳnh Ngọc Chênh, Huỳnh Thục Vy)...vẫn đang "nóng" với phương châm "một mất một còn".

KỲ CUỐI: “KHÔNG GỌI CÁC NHÀ “DÂN CHỦ” LÀ XẠO QUẦN THÌ GỌI LÀ GÌ”

Đó là câu nói của Tony Ngo dành cho phe phái của Huỳnh Ngọc Chênh, Huỳnh Công Thuận, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Đình Bổn...khi nhóm này ngoài việc được gắn mác "dân chủ" nhưng mồm năm miệng mười, áp đặt quan điểm của mình cho người khác...


Trước những bằng chứng đưa ra công khai về bộ mặt thật của một số “zân chủ” có số có má như Lê Công Định, Điếu Cày…một nick facebook có tên là Ly Cu Tê đã “góp sức” với phía vạch trần bằng những status bóc mẽ những kẻ trên không kém phần “long trọng”.

Chân dung nhân vật Ly Cu Tê (Nguồn: FBNV)

Nếu như phe cánh bên Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Đình Bổn, Huỳnh Công Thuận…không thể phản biện lại các bằng chứng trên để bảo vệ bè Lê Công Định hay Hải Điếu Cày vì sự thật rõ mười mươi như trong bằng chứng bên kia công bố; chỉ có thể vớt vát bằng việc ‘bới lông tìm vết” địch thủ. Đấy là việc đưa ra các status của Ly Cu Tê khi y này viết bằng những lời lẽ tục tĩu như việc gọi tên Lê Công Định bằng việc nói lái hay những từ như ĐM…

Và phe cánh này cho rằng, việc nói tục tĩu của đồng bọn là vi phạm nhân quyền, không nằm trong danh sách những người mang mác “đấu tranh dân chủ”.

Đáp lại, phe bên này cũng không thua kém khi nói:
"Thôi đi mấy nhà đạo đức giả. Thằng nhà đạo đức nào ở đây dám tuyên bố chưa từng chửi thề. Đm thằng nào nói láo mất ku. Giám chơi không? Đám này tuy chửi thề nói bậy nhưng chưa biết ăn giựt đụ chạy hay kiếm tiền từ xác chết như các nhà đạo đức đâu nhé. Giả tạo". (Phan Công Hải)
Nhóm Tony Ngo, Viet Duc Le, Phan Công Hải...đã nhắc lại những sự kiện mà chính phe cánh của Huỳnh Ngọc Chênh, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Đình Bổn...trước đó đã tung hê, cổ vũ rầm rộ. Đó là theo nhóm này cho rằng, nick Ly Cu Tê có những status đưa lên facebook có đưa ra một số bộ phận phụ khoa để minh họa cho bài viết của mình về một số nhà "đấu tranh zân chủ" như Lê Công Định, Hải Điếu Cày...thì ngay lập tức nhóm của lão già Huỳnh Ngọc Chênh lên tiếng "rao giảng" đạo đức, văn hóa này kia. Nhóm này phản bác:

"Có một dạo, Ly Cu Tê chuyên viết các bài chửi bới cộng sản, biếm họa một cách tục tĩu, vô văn hóa thì được cộng đồng "dân chủ" like, share và nhận được vô vàn lời khen các sự tục tĩu, vô văn háo đó. Điều lạ lùng là sau này, khi Ly Cu Tê lỡ phóng bút đụng chạm tới một số người (Lê Công Định, Hải Điếu Cày...) thì Tê lại bị chính những người khen cái sự tục tĩu, vô văn hóa của Tê chửi mắng Tê là thằng tục tĩu, vô văn hóa (hại não)".Nhóm này đã chỉ đích danh rằng thì là mà "thành tích" của nhóm Huỳnh Ngọc Chênh trước đây đã có "văn hóa" và sống đạo đức khi những sự việc sau:


Nhóm Tony Ngo, Đoàn Khắc Xuyến, Viet Duc Le...mỉa mai nhóm Huỳnh Ngọc Chênh với các dẫn chứng đối đáp rõ ràng. Nhóm Tony Ngo châm biếm rằng, trước đây, chính nhóm của Huỳnh Ngọc Chênh vào like, share, hoan hô, cổ vũ khi mỗi status tục tĩu của Ly Cu Tê viết trên facebook nhưng "giờ anh Tê nhà tôi động đến thói hư tật xấu của các nhà thì các nhà dạy đạo đức học cho anh Tê nhà tôi vì các nhà cho rằng anh Tê nhà tôi thiếu đạo đức. Hay chưa".
  
Chân dung lão già "hai thứ tóc rồi còn ngu" mang tên Huỳnh Ngọc Chênh (Nguồn: Internet)

Rồi vụ cô người mẫu Trần Thị Trang uống rượu say và thích thể hiện khi văng tục với lực lượng công an và chống người thi hành công vụ thì bọn được gắn mác "dân chủ' như Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Lân Thắng, Huỳnh Công Thuận...lại tung hê, cổ vũ, khoái chí, đưa cô người mẫu này lên tận mây xanh. Hay như vụ Nah Sơn đăng lên Youtube với những lời lẽ tục tĩu, bậy bạ, vô học thì những kẻ "có văn hóa" trên cũng gật gù, khen lấy khen để, rồi cũng share rồi tung hê...

Nhưng, khi Trần Thị Trang tỉnh rượu, hối lỗi với những trang giấy viết nhận lỗi của chính mình và mẹ ruột hay Nah Sơn khi nhận ra lỗi lầm của mình, quay lại chửi bọn "dân chủ" với những lời tục tĩu nhất thì bọn này cũng giả quay mặt làm ngơ, với phương châm "chắc nó trừ mình ra" và câm như hến.

Nhóm này cũng chỉ thẳng vào nhóm Huỳnh Ngọc Chênh rằng: Cổ vũ và tung hê những hành động vô văn hóa như Trần Thị Trang hay Nah Sơn để rồi lại giở thói đạo đức giả, lên mặt dạy "văn hóa" cho người khác vì bị người khác bóc mẽ bản chất thật của chính mình?

"Cuộc chiến" vẫn chưa kết thúc nếu như Huỳnh Ngọc Chênh tỏ ra "đuối lý" nên không bình luận "đối chất" với nhóm Tony Ngo nữa mà "hủy bạn bè" với nhóm này. Nick Nghi Le Duc theo dõi từ đầu và cũng thẳng thắn "góp ý" cho cuộc chiến giữa 02 nhóm này:

"Thôi thì đấu một lần đi, chia rẽ rõ ràng, nhóm nào ra nhóm đó. Ai có và còn tâm với đất nước thì đi tiếp. Còn ai không có tâm mà sống lợi dụng lẫn nhau kiểu "côn đồ trên mạng" thì cũng lưu tâm, biết và cho nghỉ ngơi trong danh sách block. Lại hóng, xoá, bị xoá, block và bị blocks cũng thấy thoải mái và đỡ bận tâm về sau".
Trước sự tấn công bằng dẫn chứng rõ ràng, "nói có sách, mách có chứng" cùng với sự đông đảo "dân chủ" khác ủng hộ, cổ vũ của nhóm Tony Ngo, Phan Công Hải, Viet Duc Le...thì nhóm Huỳnh Ngọc Chênh yếu ớt chống cự bằng việc cãi cùn. Và nhóm Huỳnh Ngọc Chênh cũng rơi rớt dần "nhân lực" khi đuối lý vì "chiến tranh" với sự thật mà nhóm bên kia bóc mẽ.

"Càng khơi ra càng thối", thế mới biết, nội bộ những kẻ tự gắn mác cho mình là "đấu tranh dân chủ", "nhân quyền" thì cuối cùng cũng chỉ là những kẻ chỉ vì tính vị kỷ, vì quyền lợi của cá nhân mình mà "hoạt động" mà thôi.



An Chiến