Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Cành phong hương

Truyện ngắn của VÕ THỊ XUÂN HÀ




Minh họa: ĐỖ HOÀNG TƯỜNG



Một đoàn tham quan đi về vùng đất cội nguồn, tác giả Võ Thị Xuân Hà ở Cành phong hương dẫn người đọc vào câu chuyện: truyện trong truyện, những nhân vật biểu hiện yêu và sống ở đời sống có ác và thiện. Có cái ác trần trụi và quyết liệt như nhân vật Lân yêu bản năng như con thú, có nhân vật thiện ác quẩn quanh như người tù không có tên. Câu chuyện buồn và rất buồn như đôi khi ở đời sống thật, nhưng đứng được nhờ điểm nhìn của tác giả về lòng tin ở cái thiện, để người tù không còn uống nốt ca nước hận thù, như hương của một loài hoa sơn cước nguyên thủy về một tình yêu có thật dù có thể vô vọng nhưng vẫn tồn tại tựa như Cành phong hương- Tình yêu con người với người. Câu chuyện lãng đãng như sương khói vùng sơn cước, kết cấu truyện trong truyện đan chéo, mà không rắc rối. Những đoạn văn trầm làm lay gợi suy nghĩ cho bạn đọc. - Lời bình của Nhà văn NGUYỄN VĂN THỌ


Tôi lên vùng núi lần này không phải vì ham vui.

Thật sự trong lòng tôi không còn chỗ cho những buồn vui của cuộc sống thường nhật. Lòng tôi thật sự cô quạnh.

***

Chiếc xe lao lên cung đường có nhiều đèo dốc quanh co. Lên đến đỉnh đèo Non Cao, lái xe bảo:

-Ta nghỉ một lát nhé?

Xe tạt vào lề. Cả đoàn lữ hành lục tục kéo vào cái quán nhỏ bên đường.

Trước cửa quán, một cây sau sau lá đang ngả sang mầu đỏ, ánh đỏ hắt vào cửa quán những vầng lung linh mê hoặc.

Mùa thu đang về.

- Đẹp quá! Mọi người cùng ngước nhìn những cánh lá mong manh mầu đỏ dụ.

Trong quán có đủ món ăn cho khách qua đường. Trứng gà, trứng vịt luộc, trà, hồng ngâm... Lại có cả cà-phê tan được pha và lắc trong những hộp nhựa, rồi đổ ra mấy cái ly được đánh bóng loáng.

Chủ quán là một thiếu phụ. Chị ngồi quay lưng ra đường. Ngay cả khi khách bước vào cũng cứ chìa cái lưng đập vào mặt khách một thân hình khá thon thả. Bộ đồ đen dày và khá tiện dụng của dân vùng cao có mấy cái túi căng phồng. Dễ tưởng tượng trong đó nào bọc tiền lẻ, nào bật lửa, nào các loại thuốc bằng lá được sấy khô.

Tôi nhìn chằm chằm vào cái lưng mặc đồ đen.

Thiếu phụ quay ra nhìn chúng tôi không nói không rằng, rồi đưa mắt lên mấy cành lá đỏ phất phơ ngoài cửa.

- Đấy là cây phong hương.

- Phong hương? -tôi chưa nghe tên loài cây này bao giờ.

-Nó chính là phong hương. Trên này chúng tôi không gọi là cây sau hay cây trước gì cả.

Tôi nhìn quanh căn nhà. Mọi thứ được sắp xếp khá gọn gàng và ngăn nắp.

- Mà... cô dùng gì? Mọi người cứ tự nhiên nhé. Tự pha trà cũng được. Đấy, các thứ tôi để sẵn... -thiếu phụ nói.

Tôi hơi ngỡ ngàng. Người đàn bà này có giọng nói khá ấm, phát âm chuẩn âm ngữ vùng Kinh Bắc. Khi chị đưa hai bàn tay lên ngang mặt bàn, mới biết cả hai tay đang cuốn băng trắng xóa.

Mấy người cùng đoàn liền chủ động lấy ấm pha trà và cắn hạt hướng dương tí tách.

Tôi hỏi:

- Tay chị sao vậy?

- Bỏng ga thôi. Tôi bất cẩn.

- Sao lại băng? Bỏng không nên băng đâu.

- Tôi bó thuốc, phải băng mấy tiếng rồi tháo ra để tự khỏi.

Tôi nhìn quanh bức tường. Trên cao có mấy tấm ảnh không được rõ lắm. Những hình người nheo nheo con mắt nhìn đoàn lữ khách.

- Chị... có bánh dẻo, bánh nướng không? Chúng tôi đi vội không kịp mua. Hôm nay là rằm 14 rồi. Tối nay chúng tôi mới đến nơi nghỉ, sợ không kịp mua để đón trăng.

Nói vậy là do tôi cũng vừa liếc thấy trong tủ kính bán hàng một cặp bánh dẻo.

Thiếu phụ lắc đầu:

- Tôi chỉ có một cặp bánh dẻo, lại không có bánh nướng. Tôi cũng chỉ cần một cái thôi. Cô lấy một cái đi.

- Nhà mình có mấy người mà chỉ cần một cái vậy chị?

- Một mình tôi thôi... Cô không lấy, tôi không ăn hết, phí đi.

Tôi quay ra cái tủ kính cóc cạnh, mở cửa lấy chiếc bánh dẻo.

Rồi lại quay ra bàn, ngồi xuống gần người phụ nữ hơn...

***

Câu chuyện của người đàn bà sơn cước Phố núi của chúng tôi chỉ có khoảng chục nóc nhà tươm tất. Còn lại là những túp lều ken bằng đất sét với nan trúc.

Chị Miên là hình tượng đẹp nhất của tuổi thơ tôi. Nhà chị ở kế bên, căn nhà có hàng rào ô-rô xanh mướt. Tôi hay bám theo chị mọi lúc, mọi nơi.

Đám trẻ con xóm núi, trong đó có thằng Lân cũng thích chị lắm.

Dù đang đánh nhau hay có nghịch ngợm mấy trò quậy phá gì đó, nhưng khi chị Miên đến gần là thằng Lân thẳng đơ người, mặt đỏ như con gà quay. Cái mầu đỏ trên mặt thằng Lân khiến tôi cảm thấy vô cùng thất vọng về nó.

Tôi nhớ hôm đó bầu trời xám xịt. Mây từ đâu kéo về đầy ứ trên núi khiến không gian lạnh cóng thô nhám.

Những con trâu được khua trên núi về, bước chân đi trên con đường dốc chậm chậm, móng gõ xuống mặt đường những thanh âm buồn thảm.

Một chiếc xe có thùng xe bịt kín từ xa lao đến, từ từ đỗ xuống ven xóm núi. Trên xe lấp ló những cặp mắt tù.

Rồi họ được uống nước. Nước trà nóng bưng ra từ quán nhỏ bên đường. Cả thùng xe nhộn nhạo sôi động. Lũ trẻ con chúng tôi cũng nhộn nhạo không kém. Thật là một sự kiện hiếm hoi. Chúng tôi bám vào thùng xe, nhìn sâu vào bên trong.

Bên trong là mấy anh tù đang bị xích tay lại với nhau. Người này bị xích một tay vào người kia. Còn một tay để có thể dùng bưng ca nước lên uống.

Chị Miên đứng áp vào cửa ghise của thùng xe, nhìn như thôi miên một gã tù còn trẻ măng.

Thật sự gã này còn rất trẻ, chỉ như cỡ học cùng khóa với chị Miên trên trường cấp ba phố huyện, cách xóm núi của chúng tôi hàng chục cây số. Mà tôi đâu biết họ có quen nhau từ trước hay không? Chỉ biết chị Miên đang đứng như chôn chân bên cái xe thùng chở tù nhân.

Đứng như con linh dương cái đến mùa phong hương đỏ lá. Tôi ngước nhìn con linh dương cái ấy, ngưỡng mộ đến vô cùng. Tôi cũng nhìn thấy thằng Lân, hai tay nắm chặt lại như vào thế thủ. Nó đứng cách một đoạn xa, nhìn con linh dương biến ảo, như muốn lao vào cắn xé, lại như muốn quỳ xuống ôm lấy đôi chân dịu dàng mềm mại như nhung kia.

Gã tù chỉ có một tay cầm ca nước. Gã vừa uống vừa nhìn chị Miên không chớp mắt. Uống xong, gã đưa cái ca qua cửa ghise trả lại cho chị Miên. Rồi gã móc trong túi ngực ra một cuốn sổ nhỏ. Cuốn sổ cũ kỹ quăn bìa chứng tỏ chủ nhân thường đem ra ghi chép. Tần ngần ngắm nghía trong vài giây, rồi bỗng gã chìa cuốn sổ ra đưa cho chị Miên.

Chính chị Miên cũng bất ngờ.

Tôi không nghe thấy họ nói gì.

Hay họ nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng nào? Chỉ thấy trong tích tắc, cuốn sổ đã nằm gọn trong tay chị Miên.

Rồi chiếc xe nổ máy lăn đi từ từ trên đỉnh dốc.

Chị Miên vẫn đứng sững bên đường, nơi có vệt bánh xe in hằn cả vết lốp mới. Chị khiến cho tôi và thằng Lân cũng cứ sững lại, mỗi đứa một kiểu, như những cành phong hương tơi tả trong gió đông sắp ùa về trên cái đỉnh đèo Non Cao quanh năm gió xoáy và mây mù.

***

Sau đó mấy hôm, tôi được chị Miên cho xem cuốn sổ.

Trái tim non nớt của đứa bé gái như tôi chỉ biết cảm nhận nỗi sung sướng khi được chị chia sẻ chút gì riêng tư.

Không có thằng Lân trong câu chuyện bí mật của chị Miên.

Chị Miên thì thào: “Bí mật của chị đấy. Anh ấy học lớp trên”.

Tôi thì thào theo: “Sao anh ấy bị tù vậy?”.

Chị Miên ấp úng.

“Ờ ờ, có lẽ do đánh nhau làm bị thương ai đó...”.

Những dòng chữ của gã tù hiện lên, nét chữ khá đẹp và rắn rỏi.

Chính tôi sau này cố công tập viết từng nét chữ rắn rỏi như gã, thậm chí tôi còn nhớ cả cách móc đuôi, cách tung nét của từng chữ cái trong cuốn sổ ấy.

“Không gian vắng vẻ, buồn buồn, làm cho người qua đèo bâng khuâng giữa núi đồi sơn cước phía trước và đồng bằng đang trôi xa phía sau. Vách đá lởm chởm đeo bám những mầm dương sỉ xanh nõn vươn lên tầng không. Phía bên vực, dòng suối chảy uốn lượn làm nghiêng những vạt ngô, vạt chuối bao la...

Mùa thu về làm rực biếc cánh đồng xa bởi những cơn mưa đêm thấm đẫm. Trên triền núi xa xa, có cô bé tay khư khư bông hoa to, cơn gió nhẹ thổi từ cánh đồng làm cho bông hoa chao như ánh lửa.

- Hoa gì vậy em?

- Hoa mùa thu! Em còn nhớ không em?”.

- Cô rất thẳng thắn. Có lẽ tôi đã đánh giá thấp về cô - Có lẽ là thế. Tôi và anh, có lẽ chỉ là...

- Là gì?

- Tiện thì gặp.

- Cô nhầm rồi...

“Tôi không nghĩ rằng, chờ đón chúng ta là cả một mùa thu duyên dáng đến ngọt lịm. Lâu rồi, nhiều năm, kể từ ngày tôi ra đi, rất hiếm khi được trở lại quê mình vào mùa cuối thu.

Mùa thu miền núi, mùa của sự no ấm, mùa yêu đương, mùa phồn thực, sinh sôi, nảy nở và mùa của các “luân xa” mở ra đón nhận! Mùa này người miền núi thường “yêu” nhau say đắm. Yêu đến độ núi cũng tan ra thành lúa, còn lúa lại cao lên thành núi. Yêu đến độ, sông biến thành thác, và thác chảy thành sông.

Hãy ngửa cổ lên trời, hít một hơi thật dài, thật khẽ, từ từ, nhè nhẹ...

các tế bào sẽ nở ra, nhảy múa trong thân xác mệt mỏi của các bạn.

Các bạn đã đi xuyên qua núi, ân ái trọn vẹn Hang Ngườm, miên man trong tiếng rì rầm, ôm ấp của thác Hoa Hiên. Được gột rửa bàn chân bằng hương lúa ngọt lịm. Nước đầu nguồn suối Nắng sẽ tẩy rửa khứu giác của các bạn để nhận biết được cái mùi phong hương đầy bí ẩn và quyến rũ! Về cơ bản là như vậy. Về cơ bản là thế. Tất cả vì quyền năng của mùa thu miền biên viễn tuyệt đẹp...”.

“Mùa đông đến gần, mưa mỗi ngày mỗi rơi, khi nhiều cơn dông, trĩu nặng từng hạt nước long lanh, khi nhiều cơn mưa lất phất, bay vào không trung nhẹ nhàng vô định. Tôi luôn cảm nhận rằng có một hơi ấm nhẹ nhàng cứ lướt qua, hơi thở vội vàng nào cũng vừa chợt ghé qua.

Miên man...

Tôi nhớ hoài nụ cười ấy, ấm áp lắm, khao khát lắm và chắc hẳn cũng tràn đầy những yêu thương.

Tâm trí tôi không cho phép quên đi nụ cười ấy. Nụ cười ấy luôn xuất hiện chung quanh tôi, nhắc nhở tôi muôn vạn lần đau cũng phải mỉm cười...” .

“Tôi biết xóm núi của em có loài phong hương. Loài cây mềm mại trong gió, dẻo dai trong gió và kiên cường với gió.

Những cây phong hương vào mùa thu lá ngả mầu đỏ tươi, rồi dần chuyển sang mầu huyết dụ. Đi từ xa tới, lữ khách sẽ nhìn thấy trong thấp thoáng xóm núi những cây phong hương rực một mầu đỏ, như báo hiệu sự chín đẫm của mùa thu.

Trong gió ngàn của hương rừng gió núi, phong hương lặng lẽ khiêm nhường tô thắm vẻ đẹp miền sơn cước.

Em trong tôi tựa như cành phong hương nhỏ bé. Thấm đẫm sự cô đơn mà dũng mãnh trên đỉnh dốc Non Cao”.

* * *

Nhưng chị Miên không đợi được người về.

Đêm đó, thằng Lân đã quyết định việc trọng đại trong cuộc đời.

Nó đẩy cánh cửa liếp nhà tôi, bảo:

-Cô đừng nhìn tôi như thế nữa.

Tôi không bao giờ thuộc về cô.

-Tại sao anh lại...?

-Vì tôi không bao giờ quên được chị Miên, cô hiểu không? Nếu không có chị Miên trên cõi đời này, thì có khi tôi sẽ lấy cô.

Tôi lùi lại sau cánh cửa. Vệt máu đỏ tươi tuổi dậy thì đang nhỏ âm thầm xuống nền đất nện mịn màng.

Tim tôi run lên nỗi cô độc và tủi nhục.

Nếu tôi biết sự việc sau đó ra sao, chắc gì tôi đã cưỡng lại được. Sự việc rất đơn giản và kinh hoàng đã xảy ra sau đó. Thằng Lân nhảy vào buồng chị Miên, khóa chân tay chị lại và nằm đè lên người chị như loài dã thú.

Sáng hôm sau tôi không nhìn thấy chị Miên và thằng Lân đâu nữa.

Có người bảo họ đã về xuôi làm ăn, thành cặp vợ chồng rất đẹp đôi.

Có người nói họ chỉ gặp mình thằng Lân đang buôn gỗ từ miền ngược về. Nom hắn dữ dằn, người xăm trổ, mắt vằn đỏ như có máu tuôn.

Có người nói chị Miên vào rừng ăn lá ngón...

Một hôm, từ trên đỉnh dốc, chỗ có khúc cua ngắn, tôi nhìn thấy một người đàn ông thất thểu đi về phía xóm núi của chúng tôi.

Tim tôi run lên từng chặp. Tôi che mắt nhìn về phía ấy. Tôi hình dung người ấy đã trở về.

Nhưng đó chính là gã tù năm xưa.

Gã nhìn tôi lạnh lùng.

-Miên đâu rồi?

Tôi lắc đầu:

-Tôi không biết chị ấy đi đâu hay đã ăn lá ngón rồi?

Gã không nói gì, chỉ nhìn hút mắt ra phía đầu rừng. Nơi ấy có những cây phong hương lá đã bắt đầu ngả từ mầu xanh sang mầu đỏ.

Tôi lấy nước cho gã.

-Anh hãy uống nước thù hận này đi. Đã bao năm nay, tôi uống thứ nước này. Hằng ngày tôi ghi lòng sự thù hận.

Gã nhìn tôi ngờ vực:

- Cô yêu hắn ta?

Nước mắt tôi bắt đầu rơi xuống lã chã:

- Tôi yêu cả hai. Tôi đâu muốn mất họ...

Gã tù khoát tay:

- Cô thật là...

Tôi níu tay áo gã:

- Hay anh ban cho tôi sức mạnh?

Được không?

Gã nhìn tôi một lúc, gỡ tay tôi ra rồi lắc đầu:

- Cô rất đẹp. Cô đẹp không kém gì Miên. Cô hãy đợi đi. Làm trinh nữ mà đợi chờ...

Tôi cố vớt vát:

- Tôi đã đọc cuốn sổ ghi chép của anh.

- Vậy sao? Cô thấy gì trong đó?

Tôi ngồi như một pho tượng. Rồi tôi nói với gã, tôi chỉ thấy sự sống quẫy đạp trong từng câu chữ ngày ấy của gã, quẫy đạp một cách tuyệt vọng.

Gã bỏ đi. Không uống thêm chút nước thù hận nào nữa.

Tôi ngửa cổ uống bằng sạch thứ nước sóng sánh trong chiếc ca nhôm nhỏ ngày nào chị Miên dùng cho gã tù uống nước.

Mà sao tôi chỉ nhìn thấy hình bóng Lân trong đáy ca?

Lời kết truyện Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về cội nguồn.

Tôi ngồi trên xe vượt dốc và ghập ghềnh đá núi, vẫn như thấy những cành phong hương lá đỏ đón thu về trên núi.

Người đàn bà mặc áo chàm đen vẫn ở lại trên đỉnh đèo Non Cao.

Chiều chiều, nàng ra đứng bên đường nhìn xa ngút ngát. Nơi đó, những đàn trâu no cỏ đang thủng thỉnh bước về trên thung cao. Tiếng mõ lốc cốc vang trong sương mù bảng lảng.

Nàng đứng bên cây phong hương đã già.

Mùa đông sắp đến gần, những chiếc lá phong hương đang chuyển mầu đỏ dụ. Từ xa nhìn thấy như những vầng hoa đỏ rực in trên nền trời.

Thời gian cứ trôi lặng lẽ. Người đàn bà vẫn đứng đợi bên đỉnh dốc.

Nụ cười phảng phất trên môi nàng...

Đêm 3-10-2013

Cửa lòng anh mở toang



anh đã biết em rồi mến thương và yêu tự lúc nào không rõ nữa
cái dòng xoay theo ngày nhỏ tới bây giờ
anh theo em bạt cánh chim trời
anh theo em đã mòn bao trăng rụng
chỉ chưa luồn trôn kim
gió cả
lời vụn
anh sợ mình nghèo
nên anh cứ ngóng bờ em bồi nhớ
và năm tháng dần đong lòng anh mặn mãi

còn em đi
qua thì con gái
hái trái khế chua
bồng con ru ngủ
khúc ca dao ơ ầu
điệu lí đầy vơi ru ngày trôi miên man
con nước hững dạt cụm lục bình, cánh bèo thiên di…

con sóng hờn vỗ bến
em cứ đi trong mơ
ngóng biển
chỉ thấy sóng gợn về những bạc đầu mong nhớ
từ hoa vương hương tới ngày em tóc tre sững gió
quên chuyện áo quần thẳng thóm
có hề chi!

nhan sắc sớm xuân chiều thu ai cũng phải đi qua
chút còn lại không là sắc, không là gì hết

chỉ còn mọc cụm yêu thương trổ hoa ngày muộn
mặc con lũ về cuốn trôi
thì rễ tình yêu tôi vẫn ken dày trong em, em ơi!
cửa lòng ừ cứ mở toang, mở toang…

Trần Huy Minh Phương

ĐỪNG TRỞ LẠI...




Thơ Drunina Iulia
( Nguyễn quốc hùng dịch)


Đừng trở lại với tình yêu thứ nhất
Hãy để tình đầu mãi thế trong ta
Khúc hát lặng câm bên dòng sông ký ức
Tột đỉnh nỗi đau, hạnh phúc băng hà...

Đừng hoài công lục tìm về quá khứ
Tất cả hôm qua đã trả lại ngày qua
Chỉ cần giữ vẹn nguyên thiêng liêng nhất
Một vẹn nguyên dù quá khứ, dẫu là.

Kiể u nhân vật bản năng trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà





 Võ Thị Xuân Hà, một trong những cây bút nữ đã khẳng định được vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại với một phong cách riêng, độc đáo trong các sáng tác. Góp phần làm nên phong cách nghệ thuật này của chị là một thế giới nhân vật đa dạng, trong đó kiểu nhân vật bản năng (ở đây chủ yếu nói tới bản năng tính dục) xuất hiện khá phổ biến. Chính kiểu nhân vật này đã giúp Xuân Hà thể hiện được rõ hơn những góc khuất của tâm hồn con người, từ đó góp phần nâng tầm nghệ thuật cho mỗi tác phẩm của chị.


Với kiểu nhân vật này, trước tiên nhà văn xây dựng những con người mà bản năng thể hiện thành những khát khao chính đáng, rất nhân bản. Có thể kể đến lão Thoài trong truyện Cõi người. Đứng trước con bé Hoan, lão thấy: “Thời gian qua nó đã lớn phổng lên từ lúc nào. Tim lão đập mạnh” rồi sau đó “bàn tay lão già run và nhẹ nhàng dịch chuyển” (…). Lâu lắm rồi, lão không biết mùi hương cỏ mật và mùi nhang cháy trong đêm lại nồng nàn đến thế”. Đây là những dòng miêu tả cảm xúc của một người đàn ông đã luống tuổi khi gần gũi với một cô bé mới lớn. Nhưng hãy chú ý đó là bản năng chứ không hề phàm tục. Bởi những cảm xúc này bắt nguồn từ khát khao cháy bỏng về một gia đình và những đứa con của một đàn ông cô đơn, bất hạnh. Điều này rất đáng được trân trọng. Truyện Mây giăng thì kể về một cô gái quê trẻ tuổi người Côn Sơn, Hải Dương. Tình yêu đầu đời và thực sự của cô là với một anh chàng về làm dự án khảo sát làng văn hóa tại quê cô. Hai người quen nhau rất tình cờ khi chàng trai kia đến hiệu may của cô nhờ khâu lại cái quần. Và cũng chỉ ngay giây phút đó thôi cô gái đã nảy sinh tình cảm mãnh liệt với anh rồi sau đó “yêu anh ấy và cố tìm mọi cách để được gần gũi”. Thậm chí, dù không chắc anh chàng có yêu mình không, và hình như lại có người yêu trên Hà Nội, nhưng cô vẫn “quyết giành giật cho mình dù chỉ trong một thời khắc ngắn ngủi”. Tuy nhiên có điều, ở người phụ nữ này, ham muốn nhục thể không chỉ là bản năng mà còn là biểu hiện của tình yêu nồng cháy, bởi đến với người đàn ông kia là cô muốn khám phá và đi đến tận cùng bến bờ của một tình yêu thực sự, muốn “được biết thế nào là tình yêu của chính mình”. Chính những ý nghĩ này khiến tình yêu của cô vừa trần tục (chứ không phải phàm tục) lại rất cao đẹp và đầy chất nhân văn.







Ở một số hình tượng nhân vật khác, Võ Thị Xuân Hà lại miêu tả vấn đề tính dục như là một nhu cầu tự nhiên của con người. Truyện Xóm đồi hoa viết về cảm xúc của một gã chăn bò chừng mười chín tuổi khi sắp được lấy vợ: “Nhưng đêm cũng như lúc chiều chạng vạng, giấc mơ đàn ông cứ trỗi dậy trong tấm thân cường tráng của gã”. Cho nên khi nhìn thấy cô gái điếm trần truồng nằm ngủ trên đồi thì chỉ đến “Giây thứ ba gã lao tới như một con trâu điên. Quần áo trên người gã cũng tung bay trên đám cỏ gai”. Còn cô gái kia cho đến nửa đêm mà “Trong lòng cô như có ngọn lửa cháy sáng (…) với niềm hạnh phúc cứ trào lên không cưỡng nổi”. Những chi tiết rất giàu tính nhân văn bởi cho thấy trong sâu thẳm tâm hồn cô gái điếm có số phận bất hạnh này (sống lang thang vì bị bệnh cùi, một thứ dịch bệnh đang hoành hành trong xã hội đương thời, khiến chân tay cô lở loét), chất người lương thiện vẫn còn rất mãnh liệt. Nếu có cơ hội là nó lại bùng lên. Đọc Chuyện của con gái người hát rong ta cũng thấy có đoạn tả về những cảm xúc nhục thể đầu đời của cô thiếu nữ Út Kim: “Đình lấy tay khẽ phủi kiến trên tóc tui. Rồi bàn tay dừng lại như khẽ hỏi. Tui giả bộ ngó sang đàn kiến đang náo loạn. Tim tôi cũng náo loạn (…). Tui im lặng tận hưởng khoảnh khắc man trá của trái tim náo loạn”. Rõ ràng, với hai tác phẩm này, khi nhìn nhận vấn đề không bằng con mắt bị chi phối bởi các yếu tố luân lí, đạo đức phương Đông nhiều khi quá khắc nghiệt, chúng ta sẽ thấy vẻ đẹp thật tự nhiên của các nhân vật, với họ chuyện gần gũi về xác thịt cũng là một nhu cầu tất yếu, nó không làm các nhân vật xấu đi mà ngược lại, cho thấy trong bản thân họ cái chất người thật tự nhiên mà đáng quý.


Trong một số truyện ngắn của mình, vấn đề tính dục lại được Xuân Hà miêu tả như một nhu cầu nổi loạn, phá phách của người phụ nữ để thoát khỏi cuộc sống nhàm tẻ, bức bối. Nói về kiểu nhân vật này không thể không kể đến Diễm trong Đàn sẻ ri bay ngang rừng, một cô gái rất cá tính và thậm chí có phần hoang dã. Khi đi săn cùng chồng trong rừng, cô sẵn sàng cởi hết quần áo để tắm mưa. Với chuyện chăn gối của vợ chồng, đây quả là một người đàn bà đầy sinh lực và khát khao, khi thì “đêm chúng tôi vẫn quấn lấy nhau như cặp rắn”, rồi lúc đi săn ở rừng “Chúng tôi lăn ra cỏ (…) ôm choàng lấy nhau, ngấu nghiến”. Những cảm xúc tình dục này ở Diễm không chỉ bắt nguồn từ nhu cầu có tính bản năng mà còn là ở sự khát khao một tình yêu tận độ, mãnh liệt. Vì thế, khi say nồng tình ái với người chồng, trong cô trỗi dậy cảm giác “thèm khát nhìn thấy tận mắt sức mạnh bí ẩn lôi cuốn người đàn ông và người đàn bà ràng buộc lấy nhau”. Ngoài ra, những hành động và cảm xúc trên của Diễm cũng là để “làm dịu những vết thương của kiếp đàn bà” - điều mà cô đang gặp phải khi làm dâu. Ngược lại với người vợ mạnh mẽ, cá tính, Thản dù là một người đàn ông có ngoại hình hấp dẫn nhưng tính cách thì có phần thụ động, yếu đuối khiến anh không dám bênh vực vợ mỗi khi Diễm bị bố mẹ chồng hoặc em chồng đè nén. Điều này làm cho cô trong mơ hồ lại nảy sinh tình cảm với Nẫm - người anh của Thản đã mất khi tham gia kháng chiến chống Mĩ - mặc dù Diễm chỉ được nghe Thản kể về anh mình. Nhưng có điều chúng ta cần chú ý, đây không phải là thứ tình cảm bắt nguồn từ ham muốn xác thịt tầm thường mà thiên về tinh thần, là sự mong muốn một chỗ dựa. Cho nên, lúc sinh nở, người mà Diễm nghĩ đến không phải là Thản, chồng cô, mà là Nẫm, qua sự tưởng tượng ra âm hồn người anh chồng này đến bên mình và “cúi xuống hôn con bé rồi đi đến bên tôi rờ rẫm cái cuống rau đỏ nòm”. Rồi lúc thiếp đi những ý nghĩ kì lạ lại trỗi dậy trong đầu người phụ nữ này: “Trong giây phút, tôi quên hết, quên Thản, quên những ngày nghỉ ở rừng. Tôi đắm đuối với hình ảnh người đàn ông đang mân mê những cuống rau, như thể anh ta đã thò vào sờ nắm được hết những mạch máu li ti chảy trong cơ thể tôi mà tình yêu của Thản chỉ chạm tới chứ không nắm được”. Những ý nghĩ này không chỉ thể hiện khát khao về một tình yêu tận độ trong tưởng tượng mà qua “hình ảnh người đàn ông đang mân mê những cuống rau” còn là mong muốn vẻ đẹp của con người ấy sẽ hiện hữu trong cuộc đời nàng qua đứa con của nàng với Thản. Nếu vậy, từ đây nàng sẽ thấy vững tin hơn, sẽ thấy cuộc đời bớt phần nhàm tẻ. Giấc mơ này của Diễm thật táo bạo, nó có yếu tố sắc dục nhưng vẫn chưa đến mức loạn luân. Bản lĩnh của nhà văn thể hiện ở đây khi tác giả không muốn dùng những yếu tố giật gân nhưng phản cảm, phản thẩm mĩ để thu hút độc giả. Cái tài, cái tâm và cả cái tầm của nhà văn là ở chỗ đó. Và cũng vì thế truyện mang đậm tính nhân văn chứ không hề mang yếu tố trụy lạc, loạn luân như không ít người thấy qua hình tượng nhân vật người vợ trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu sau này. Văn học là một loại hình nghệ thuật nhưng tác phẩm văn học chỉ thực sự là nghệ thuật chân chính khi những sáng tạo ấy cuối cùng nhằm tôn vinh những giá trị cao đẹp của con người. Có như thế tác phẩm mới có thể tồn tại cùng thời gian. Đàn sẻ ri bay ngang rừng của Võ Thị Xuân Hà nằm trong số những sáng tác như vậy.


Như đã nói, nhu cầu tính dục là một nhu cầu mang tính bản năng. Nếu con người không kiểm soát được sẽ dễ dẫn đến những hậu quả xấu. Trong không ít sáng tác của mình, ngoài việc trân trọng những bản năng tự nhiên chính đáng của con người, Võ Thị Xuân Hà còn miêu tả tính dục như là thứ bản năng xấu, khiến con người sa vào những hành vi tội lỗi hoặc gặp phải những bi kịch. Nhân vật Dân trong các truyện Năm hai ngàn lẻ x… và Những kẻ lãng mạn vốn bề ngoài tưởng hiền lành, ngờ nghệch nhưng thực ra lại là một kẻ rất đê tiện, xảo quyệt. Thời gian được làm cùng Mai khiến anh ta nảy sinh dục vọng dữ dội (chứ không phải tình cảm), có đêm “Anh ta đi như người mộng du. Cơn thèm khát của đàn ông dâng trong cơ thể trẻ”. Và khi bản năng thấp hèn lấn át lý trí, Dân đã quyến rũ Mai để thỏa mãn dục vọng rồi một thời gian ngắn sau lại nhẫn tâm ruồng bỏ người đàn bà tội nghiệp (người đã cưu mang hắn, đã chiều chuộng hắn hơn cả người chồng ngày trước) cùng cái thai bốn tháng để cao chạy xa bay với không ít tiền lấy được của cô cũng như việc y làm nghề dắt gái.


Cùng kiểu người như Dân là vợ chồng hai nhân vật Thanh và Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu trong Chuyện của con gái người hát rong. Thanh vốn xuất thân trong một gia đình giàu có ở xứ Huế, trước khi lấy vợ anh ta vốn nổi tiếng là một người đàn ông phong tình. Tuy đã có một người vợ đẹp như bà cung phi nổi tiếng thứ hai mươi mốt của vua Minh Mạng là cô Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu và một đứa con rất kháu khỉnh nhưng Thanh vẫn chứng nào tật ấy. Để thỏa mãn nhu cầu bản năng của mình người đàn ông này sẵn sàng lạm dụng cả người hầu kẻ ở trong nhà. Trường hợp Sen, người phụ nữ tật nguyền là một ví dụ. Lòng dục bốc lên ghê gớm khiến Thanh không kìm được mình mà có thái độ lả lơi với Sen ngay cả khi cô đang tắm cho con anh ta. Và thời gian đầu “anh ta ham muốn tui (Sen – NV) đến phát cuồng. Anh ta chén tui như chén món thịt gà xé phay tui làm ngon hết biết cho hai người nớ ăn”, bởi theo lời Thanh thì Sen đã “làm cho anh ta được sống cuộc đời đàn ông thực sự” trong khi vợ Thanh – Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu lại “không biết làm tình”. Những lời nói này cho thấy thực chất Thanh chỉ dùng Sen để thỏa mãn nhu cầu sinh lí đồi bại của mình. Vì vậy, khi “Biết tin tui có thai, anh ta trợn mắt nhìn tui như nhìn loài rắn. Anh ta ném cho tui ít tiền, bảo đi viện làm cho gọn”. Thanh như vậy còn vợ anh ta - cô Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu - cũng chẳng hề kém cạnh. Núp trong vẻ bề ngoài của một bà chủ trẻ xinh đẹp, đài các là một nhân cách hết sức bệnh hoạn. Cô ta rất “thích đi hát karaoke trong phòng tối thui, để không nhìn thấy mặt chàng trai” mà Sen “đặt tiền cho người ta đưa đến cho cô. Anh chàng đó phải trẻ, phải khỏe, hơi thở phải thơm tho” để đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu sinh lý cho người phụ nữ này. Nhưng người đời đã có câu: Nhân nào quả ấy. Lối sống bệnh hoạn của hai vợ chồng Thanh đã gặp báo ứng đến khủng khiếp. Hóa ra, Sen chính là em của thiếu nữ đã gieo mình xuống dòng Hương chết cùng cái thai với Thanh khi biết tin anh ta chuẩn bị cưới Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu. Sen đến nhà Thanh xin làm người ở chỉ với mục đích tìm cách trả thù cho chị gái. Nhưng nào ngờ đến chính cô lại cũng yêu kẻ đã phụ bạc chị mình và khiến cho người mẹ vốn đã rất bất hạnh của cô phải chết vì quá thương con gái. Việc Sen trao thân cho Thanh không phải chỉ bởi sự ép buộc của Thanh mà còn bởi tình yêu của Sen với anh ta. Tuy nhiên, khi sự đê tiện và tàn nhẫn của Thanh lại được bộc lộ lúc biết cô có mang với hắn thì Sen vô cùng đau khổ. Cùng đường, nhân vật quyết định tự vẫn. Nhưng “Con bé Hàn Giao (con của vợ chồng Thanh - NV) bám tui như con vậy. Nên khi tui cùng đường, tui muốn mang nó theo (...). Chỉ còn cách đó là có thể làm cho anh ta và cái người đàn bà vô dụng kia đau đớn”. Oái oăm thay, đứa trẻ vô tội kia thì chết còn Sen lại được cứu sống. Vậy là đứa con có với Sen mà Thanh muốn nó không thể tồn tại thì sẽ lại được sống còn đứa bé đẹp như “tiểu thiên thần” của anh ta với Tôn Nữ Huyền Ngọc Thủy Châu thì lại phải chết một cách oan ức, đau đớn. Sự quả báo thật vô cùng tàn khốc.


Có thể nói Võ Thị Xuân Hà đã dựa trên cơ sở là tư tưởng nhân bản rất sâu sắc khi đề cập đến vấn đề con người bản năng. Nhà văn tỏ ra rất thông cảm, thậm chí là trân trọng những khát khao tự nhiên nhưng chính đáng của các nhân vật. Tuy nhiên, ngòi bút của chị cũng không ngần ngại phê phán những con người bất chấp tất cả luân lí, đạo đức để thỏa mãn nhu cầu thấp hèn của mình và khiến cho nhiều người khác phải đau khổ. Tư tưởng này hoàn toàn chi phối các tác phẩm của Xuân Hà nên những truyện ngắn của chị khi đề cập đến đề tài này vẫn mang một vẻ đẹp thật sáng trong chứ không bị phê phán vì quá đề cao bản tính tự nhiên của con người hoặc dùng yếu tố sex để câu khách như không ít các sáng tác ra đời trong thời gian gần đây trên thị trường.
Bùi Tuấn Ninh

Đôi điều về báo chí và trách nhiệm của người cầm bút



Nói về nghề làm báo người ta nghĩ ngay tới hình ảnh những người phóng viên báo chí, những thợ máy, người làm chương trình là những người chiến sĩ trên mặt trận làm báo hàng ngày truyền tải, cung cấp thông tin toàn cảnh về văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục, quốc phòng, an ninh với tốc độ nhanh chóng, đáp ứng kịp thời yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Nghề làm báo là một nghề vất vả với rất nhiều yêu cầu và đòi hỏi khắt khe từ nhu cầu của phía người đọc cũng như là phản ánh hiện thực xã hội. Mỗi nghề lao động đều vinh quang, nghề làm báo ngoài việc cung cấp thông tin cho người đọc, người nghe, người xem một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan còn là một kênh định hướng dư luận xã hội nhạy cảm, nhanh chóng ảnh hưởng tới tâm lý xã hội chung khi đưa và đặt vấn đề nhạy cảm nào đó lên mặt báo. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của xã hội cả về giáo dục, văn hóa, cộng với sự phát triển như vũ báo của công nghệ thông tin và truyền thông, có thể thấy rằng tầm quan trọng của các trang báo càng có tầm ảnh hưởng hơn bao giờ hết. Với xã hội hàng ngày, việc cập nhật thông tin là thường xuyên và liên tục, đôi khi nó còn là nhu cầu thiết yếu của tất cả người dân. Nghề làm báo, viết báo lại càng quan trọng hơn khi đưa đến cho người đọc, người nghe những thông tin chính xác nhất về thực tế xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ. Chẳng thế mà chỉ cần sau vài phút là một sự kiện xã hội sẽ nhanh chóng được cập nhật và phản hồi trên các trang mạng online, các trang mạng trực tuyến cập nhật 24/24. Với tính nhạy cảm như vậy, nghề báo thật sự cần có sự định hướng sâu sắc theo quan điểm của Đảng, tuân thủ pháp luật và tôn trọng sự thật khách quan.

Trong xã hội hiện nay, trách nhiệm của nhà báo càng phải cao
Bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận của công tác báo chí về việc phản ánh hiện thực xã hội, đem lại cái nhìn chân thực nhất về cuộc sống thường ngày, có thể chỉ là đưa tin bài về các sự kiện vấn đề xã hội thường nhật, có thể là thông báo, phổ biến, tuyên truyền giáo dục về một chính sách mới, quan điểm mới, chủ trương mới, cũng có thể là tố cáo, phản hồi những tiêu cực trong xã hội,… tất cả đem lại một ví trí quan trọng và nhạy cảm của môi trường báo chí. Thực tế cho thấy, ngoài những mặt tích cực của thông tin báo chí, thì có những vấn đề mà cần phải xem xét lại khi những thông tin báo chí đưa ra mang tính chộp giật, câu sự chú ý của người đọc, đó là thổi phồng sự thật, đưa tin không chính xác, đưa thông tin mang tính thiếu khách quan, cố tình làm quan trọng hóa, hoặc làm sai lệch hoàn toàn sự thật đã diễn ra. Đúng là báo chí thì đem lại thông tin, nhưng thông tin khi đến người đọc cần là những thông tin chính xác nhất, khách quan nhất, đầy đủ nhất. Ảnh hưởng của báo chí với xã hội là vô cùng nhanh chóng, dạo qua các trang báo hiện nay thì chính mỗi con người chúng ta cũng phải giật mình, vì sự thay đổi quá lớn về xã hội diễn ra từng ngày, không biết có phải do yêu cầu đòi hỏi về tính thu hút người đọc hay không, nhưng rõ ràng chính những người đọc có thể nhận thấy ngay là các báo hiện nay chỉ đưa những thông tin giật gân nhất, nóng nhất, kích thích người đọc nhất, là chính những vụ giết người, vụ hỏa hoạn, vụ án nghiêm trọng. Người nghe chưa thể xác định mức độ tin cậy của thông tin đến đâu nhưng tất cả những thông tin này dường như kể 1 cách chi tiết, tỉ mỉ đến mức ghê người, ngày hôm qua, ngày hôm nay, ngày mai, mỗi ngày đều có một lượng thông tin khổng lồ về các vụ việc phức tạp, vi phạm pháp luật diễn ra được đăng tin lên các trang báo, chẳng lẽ xã hội bây giờ mà lại tiêu cực đến như vậy, nguy hiểm đến như vậy, trái ngược hoàn toàn với hình ảnh bình yên và hòa bình mà mỗi chúng ta đang sống và làm việc. Ngày nào cũng vậy, báo nào cũng cố gắng giật tít và tiêu đề kích thích sự tò mò của người đọc nhất, có khi nói đi nói lại mấy số liền, chỉ một tình tiết nhỏ chưa biết đúng sai cũng nói ngay và luôn, hôm sau lại đưa thông tin khác trái ngược hoàn toàn với thông tin hôm trước mà không hề có lời xin lỗi nào đến người đọc. Dù rằng xã hội có cả 2 mặt tích cực và tiêu cực, nhưng không phải đến mức ngày nào cũng toàn tiêu cực với tiêu cự như vậy, hay có sự thổi phồng, có sự gian dối, có sự đánh lừa thông tin từ các trang báo. Gần đây là 2 vụ việc có vẻ được xem là nóng trong xã hội là vụ án oan 10 năm của ông Chấn và vụ bác sĩ Cát Tường giết người, vụ các nhà ngoại cảm gian dối, các báo đua nhau viết và viết, báo nào cũng muốn đưa thông tin mới nhất, nóng nhất, không trùng với báo khác, nhiều khi đưa cả những tin đồn, những thông tin chưa được kiểm chứng làm cho người đọc bị nhiễu thông tin, không biết đâu là thật, đâu là giả.
Báo chí ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong định hướng tâm lý xã hội. Mỗi trang báo, tên báo chính là tên gọi, là đặc trưng riêng của trang báo ấy, người đọc có thể bước đầu hình dung ra nội dung của trang báo nói về vấn đề gì, nhưng bây giờ thì khác, báo nào cũng chứa đầy ắp thông tin mà đôi khi là dứa dứa nhau, gần giống nhau, có khi là đưa tin lại của nhau những vấn đề đang nóng. Có phải báo Tuổi trẻ là đưa tin về thế hệ tuổi trẻ hiện nay, báo Thanh niên là đưa tin về những phong trào của thanh niên, ….không, tất cả đều giật tít nóng hết về tất cả vấn đề xã hội, về các vụ giết người bố giết con, vợ giết chồng, …, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, vụ việc vi phạm pháp luật….. Đã xuất hiện sự phai nhạt về đặc trưng riêng của từng tờ báo, người nghe, người đọc thấy nhiễu thông tin và đôi khi là nhàm chán khi đọc những tờ báo mà thông tin quá ư là giống nhau. Có lẽ các trang báo cần xem lại bản sắc của chính mình, và xem lại cách đưa tin của mình.
Mặt khác, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay thì tất cả mọi người đều có thể làm báo, làm báo mọi nơi, mọi lúc, đưa tin mọi nơi mọi lúc, chỉ cần có kiến thức về công nghệ thông tin và thiết bị mạng. Hiện nay mỗi người đều hoàn toàn có thể lập cho mình một trang mạng cá nhân, một blog riêng để chia sẻ, viết, đăng những thông tin mà mình muốn đăng, phản ảnh những vấn đề cảm thấy tự hào, thấy vui hoặc cũng có thể là bức xúc….và có thể chia sẻ với mạng xã hội, với bạn bè như Facebook, blog, … chính sự đa dạng và phong phú, một lượng thông tin khổng lồ trên mạng toàn cầu, không biết rõ nguồn gốc, không được xác minh đúng sai, nếu người đọc không có sự cảnh giác, sự tìm hiểu kĩ càng có thể bị mắc vào một mớ bòng bong thông tin mà không biết là đúng là sai, có thể có cái nhìn sai hoàn toàn về một vấn đề nào đó, có thể chỉ biết được một mặt của thông tin mà không biết được sự thật toàn diện của nó là gì. Đặc biệt là âm mưu của thế lực phản động, những kẻ luôn chống phá, đưa tin sai sự thật, bóp méo sự thật, rất nhiều người vì tin lầm vào những thông tin mà các đối tượng phản động đưa ra trở thành nạn nhân của việc bị lôi kéo, kích động. Nhất là những người ít có điều kiện tiếp xúc với những thông tin chính thống, khoa học và uy tín. Mỗi một người đọc cần được trang bị về cách tiếp cận và xử lý thông tin, đó chính là do các nhà làm báo phản hồi, phản ánh trên những bài viết, những thông tin được đăng lên. Mỗi nhà làm báo cần có trách nhiệm với chính nội dung của mình chứ không phải chỉ vì chỉ tiêu đăng bài, hay câu khách đọc. Báo chí không chỉ là có mỗi việc phản ánh những tiêu cực trong xã hội mà còn là nơi tôn vinh, nơi động viên, phổ biến, giáo dục những tấm gương, những nét đẹp văn hóa trong xã hội, những điều tốt đẹp diễn ra hàng ngày trong xã hội, đem lại cái nhìn toàn diện về cuộc sống, chứ không phải lúc nào cũng chỉ là vi phạm pháp luật và các tội ác, mặt trái xã hội.

Bố Ku Hải

Đi tìm niềm tin




Trong lớp mẫu giáo, cô giáo giơ các đồ vật lên để hỏi các cháu về tác dụng của nó, khi cô giơ một chiếc phong bì lên thì cả lớp ngơ ngác không biết tác dụng để làm gì thì một em giơ tay phát biểu: “đó là để giành cho cô ạ!” – Một câu trả lời ngây thơ nhưng tự nhiên khiến tôi giật mình. Lý do em trả lời vậy là bởi hôm đó gần ngày 20/11, buổi sáng mẹ em đã đưa nó cho cô thay bó hoa. Từ bao giờ con người chúng ta đã bóp méo những sự vật hiện, tượng như vậy? và nó đang khiến chúng ta không còn tin tưởng vào điều gì nữa, cái gì cũng nghi ngờ. Đó là lỗi của ai? Có lẽ đầu tiên từ hệ thống giáo dục của chúng ta. Chúng ta đã và đang để hệ thống giáo dục chịu tác động quá mạnh của nền kinh tế thị trường thêm vào đó là sự thiếu minh bạch.

Các cháu muốn học trường tốt, trường điểm tuy có qua thi cử nhưng hỏi có bao nhiêu phần trăm là do xin, cho, chạy chọt? Các cháu muốn điểm cao, học giỏi bây giờ bao nhiêu là do tự mình? Để rồi sau này khi ra đời các em sẽ làm gì? Các em lại quay lại làm chính những việc mà những người đi trước đã làm với mình? Ra sức “kiếm chác” những người đi sau. Nhưng rất hay ai cũng biết nhưng ai cũng chấp nhận không dám phản đối.

Ra đường gặp Công an thì việc đầu tiên nghĩ sẽ là phải đưa tiền để tránh được bỏ qua vi phạm, vào bệnh viện thì nghĩ đưa phong bì cho bác sỹ… Nói chung làm cái gì cũng phải “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”. Các con đường vừa xây xong chưa được một tuần đã thấy có sự cố nhưng chả thấy ai kiểm tra, chả thấy ai chịu trách nhiệm hoặc nếu có thì chỉ đứng trước tập thể mặt hơi buồn buồn một tí nói “Tôi xin nhận trách nhiệm và nghiêm túc rút kinh nghiệm” sau lại đâu vào đó. Chả thấy một người nào dám xin từ chức, người Việt Nam không có văn hóa từ chức vì sao vì để lên được họ đã phải bỏ ra một khoản vốn không nhỏ để ngoi lên, giờ chưa bù lỗ hoặc kiếm chưa đủ mà nghỉ thì “thiên hạ cười chê”.hì. Nghĩ mà buồn.

Chính những điều này khiến cho rất rất nhiều văn bản vớ vẩn ban hành nhưng người kêu thì cứ kêu kệ mày tai tao điếc vì đã có headphone. Giờ người làm thì ít mà người ngồi không thì nhiều, thừa thầy thiếu thợ. Mọi người chỉ ngồi một chỗ vẽ ra dự án này, dự án nọ mà không biết sẽ làm như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Không có lộ trình đi cụ thể như thế nào? Thế nên mới có tình trạng bao nhiêu dự án dở dang, bao nhiêu công trình “đắp chiếu”. Do đó mới sinh ra những người bất mãn, những người lợi dụng vấn đề sai trái để chống đối…

Ngồi tĩnh tâm lại thấy buồn! không biết lần mò tìm kiếm niềm tin bắt đầu từ đâu?

Thế Thôi

Thư gửi: Catherine Ashton






Thưa bà, vì sự bất đồng ngôn ngữ tôi đành phải gửi cho bà một bức thư viết bằng tiếng Việt. Tôi không biết bà có đủ “thông minh” để đọc và hiểu hết những điều tôi đang viết cho bà hay không?. Nhưng với sự bao dung của một người dân Việt Nam, tôi mong muốn rằng, ở một mức nào đó, bà có thể đọc được để có thể “khai sáng” cho cái suy nghĩ tối tăm và bẩn thỉu của bà. Dù có thể bà sẽ rất ít có cơ hội và thời gian để tìm kiếm tên bà trên mạng, nhưng nếu bà bỏ ra một chút ít thời gian để làm việc đó, thì tôi tin rằng sự lãng phí thời gian của bà được trả công bằng một bài học nhớ đời, một bài học của sự thay đổi, trưởng thành và tốt đẹp hơn. Và tôi còn nghĩ rằng, nếu bà không có đủ thời gian để tìm kiếm tên mình trên mạng thì với sự quan tâm nhưng “thiếu hiểu biết” về Việt Nam của bà, biết đâu sẽ có ai đó tốt bụng gửi đến bà lá thư của tôi.

Với sự kính trọng tối thiểu và phép lịch sự của người Việt Nam, tôi gửi tới bà Catherine Ashton – Cao ủy phụ trách đối ngoại của Liên hiệp châu Âu lời chia buồn sâu sắc về sự thiển cận và nghèo nàn trong nhận thức về Việt Nam của bà. Khi rãnh rỗi, tôi thường lên mạng để tìm kiếm những bài viết hay của những học giả, những nhà nghiên cứu, phân tích hay những nguyên thủ quốc gia. Tôi đã rất hạnh phúc khi được nghiêng mình kính nể trước những nhà hoạt động chính trị có mục đích tốt đẹp đối với Việt Nam. Là một công dân Việt Nam, tôi cũng vui mừng trước sự tăng cường các mối quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Mỹ, Nga… và có những nước nằm trong Liên minh châu Âu nơi bà đang công tác.

Ấy thế mà, khi đọc bài viết của bà, kêu gọi trả tự do cho những kẻ chống đối chính quyền như Hải “điếu cày”, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Trần… Tôi thấy buồn và thương hại cho sự mù mờ chính trị và thiếu hiểu biết của bà về số đối tượng xấu này, những kẻ mà bà và không ít những người khác cũng có trình độ hiểu biết về Việt Nam như bà ảo tưởng là những “nhà báo dân chủ” hay “nhà hoạt động nhân quyền”…

Bà có thể rất giỏi, rất hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, bởi nếu không như vậy, chắc bà sẽ không bao giờ có thể mơ đến việc giữ chức vụ là Cao ủy đối ngoại của Liên minh châu Âu. Tiếc rằng, sự hiểu biết về Việt Nam lần này, hay nói cụ thể hơn là chính sách của Nhà nước Việt Nam và hoạt động của số đối tượng vi phạm pháp luật xem ra còn quá hạn chế. Bà nói Việt Nam vi phạm nhân quyền khi bắt và xử lý những đối tượng này, nhưng bà lại không chịu đọc báo, nghe đài để mở mang hiểu biết về việc Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền với số phiếu cao nhất trong số những quốc gia được lựa chọn. Hẳn các nước khác và dự luận quốc tế đã nhầm sao???

Bà cho rằng, những đối tượng kể trên là những nhà báo, nhưng bà không biết rằng, mọi công dân trong xã hội đều phải sống và làm việc theo pháp luật và chỉ có sống và làm việc theo pháp luật, một trật tự xã hội mới được giữ vững, một cuộc sống hạnh phúc thực sự cho nhân dân mới được vun đắp. Những đối tượng trên, tiến hành nhiều hoạt động vi phạm pháp luật và khi đưa ra xét xử đều công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bà nói Nhà nước Việt Nam xét xử họ oan sai, sao trong phiên xét xử họ lại thành khẩn nhận tội và cầu mong chính sách khoan hồng của Nhà nước. Bà nói họ hoạt động dân chủ nhân quyền, sao khi họ bị bắt và xét xử, dư luận trong nước lại bày tỏ sự đồng tình vào hoạt động xét xử của nhà nước, thậm chí không ít người còn cho rằng, cần phải có bản án đích đáng hơn đối với số đối tượng xấu như vậy. Bà nói họ hoạt động vì lợi ích của nhân dân, tại sao cả dân tộc lại lên án họ…

Nói ra một số điều như vậy, không biết với sự “chậm tiến bộ” của mình, bà có thể nhận thức ra được vấn đề. Bà nên nhớ rằng, Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích đem lại cuộc sống tự do hạnh phúc cho người dân. Và Nhà nước Việt Nam sẽ không bao giờ cho phép bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có những hoạt động làm phương hại đến ANQG, xâm hại đến cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Người Việt Nam chúng tôi có câu “đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại”. Tôi mong muốn rằng, bà sẽ có những sự thay đổi, để hoàn thiện hơn về nhận thức về những vấn đề này. Và mong muốn trên cương vị hoạt động của mình, bà sẽ có những hoạt động vì mục đích tốt đẹp để tăng cường mối quan hệ đối ngoại truyền thống của Việt Nam và EU. Đề nghị bà hãy suy xét lại những lời phát biểu vừa qua, và hãy xem đó là “tai nạn nghề nghiệp” để lần sau không còn mắc phải, tránh bị các thế lực thù địch, các đối tượng xấu lợi dụng vào các hoạt động chống phá Việt Nam, phục vụ cho mưu toan chính trị của chúng.

Minh Ngọc

Tản mạn về gái một con






Nó chơi với Huyền từ nhỏ, Nó hiểu Huyền và Huyền hình như cũng hiểu Nó... Thời gian dài theo tình bạn...

Trôi nổi với bao mối tình, Huyền đến với Sinh, khi cả hai quyết định đi đến hôn nhân. Huyền hỏi Nó thấy thế nào?
Nó nói: "Mày suy nghĩ kỉ chưa, tao thấy có gì không ổn"...

Đám cưới. Huyền sinh cho Sinh một thằng cu, mọi người ai cũng mừng cho đôi vợ chồng trẻ. Nhưng chuyện đời không như mình mơ ước, cái chất đàn ông ở Sinh là "thuốc gây nghiện" của bao cô gái trẻ, chức Kế toán trưởng một công ty nhà nước khiến Sinh không thể thiếu trong các phi vụ làm ăn, tiệc tùng và gái...

Ăn bánh trả tiền là cách ăn nói của những thằng đàn ông bất tài. Đối với Sinh, để con gái lao đầu vào mình một cách không vụ lợi là sở trường. Vụng trộm, chăn chiếu là chuyện như cơm bữa.., nhưng bất hạnh ở chổ, Sinh lại rung động...

Ly dị là cứu cánh, Huyền nhận nuôi con, đôi khi "mèo mỡ" một tí cho có hơi... Nhìn thằng bé 3 tuổi vô tư nói cười, lúc bên ba, lúc bên mẹ, lúc bên ngoại, lúc bên nội... mà phảng phất nổi chua chát tương lai.
...
Bất quá, bất hiện, bất tương.
Nó chôn vùi cuộc đời Nó trong điên loạn, lấy men làm bạn, lấy say làm vui, lấy bản năng làm lẻ sống.., Nó gặp Xin và Dung trong một quá bar nhạc sống...

Mặc cho cái bọn Phi-líp-pin đang hô hố trên sân khấu, bọn tiếp viên lăng xăng chờ tiền bo... Nó không quan tâm, Nó đéo thích âm nhạc và chẳng cần âm nhạc, Nó chỉ nghĩ đến bia và ngắm gái, Nó ngắm Xin và Dung, hai khuôn mặt xinh xắn nhưng tướng lý thì có vẻ không được ổn lắm!

...
Xin có một đôi mắt đẹp và khuôn mặt thiên thần, nhưng đôi gò má cao và thân hình nhỏ là một điều không công bằng. Bất hạnh từ đó chăng?

Xin sinh ra ở chợ, lớn lên ở chợ, và chợ dạy Xin mọi thứ... Ca dao nói: " Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân", ở cái thời bình này, " chốn ba quân" thì khó chứ " chợ " thì nhiều. Chồng của Xin là một người may mắn như thế!

Chồng Xin lái xe đường dài. Cũng không biết từ bao giờ đã thành lệ, lái xe đường dài thường "lắm vợ", người ta bảo con rơi, con rớt dọc đường là vậy... Chồng Xin không phải là bất quy tắc, " vũ trường đó có em đây " đã phá vỡ hạnh phúc của Xin. Thu nhập của chồng Xin chia làm hai tài khoản, một cho mẹ con Xin, một cho ả ca ve đó...

Xin ly dị chồng được hai năm, thằng con trai đã được bốn tuổi. Ngày ngày bán buôn ở chợ, tối tối thỉnh thoảng gặp gỡ tâm tình với bạn bè. Nổi cô đơn đượm buồn trên nét mặt, còn chuyện ấy thì Nó chưa tìm hiểu! Đứa trẻ thỉnh thoảng cũng được gặp cha, nó chưa đến tuổi để phải hiểu bất hạnh là gì!

...
Dung thì khác, cao ráo, trắng trẻo, cặp kính tri thức thổn thức bao đấng mày râu... nhưng lại có thói quen hay nhíu mày, giọng nói khàn phá cách. Bất hạnh từ đó chăng?

Từ phố núi cao, phố núi đầy sương xuống thành thị học đại học. Như bao sinh viên nghèo khác, kiếm thêm thu nhập là điều luôn cần thiết. Dạy thêm, làm văn phòng.., là một môi trường tương đối thuần khiết và bình dị, đằng này, Dung chọn công việc đứng quầy ở sàn nhảy...

Đèn mờ vũ trường luôn là con dao hai lưỡi, chốn ăn chơi kia không có chổ cho những kẻ yếu tim, mà cái xấu bao giờ cũng dễ thẫm thấu hơn là điều tốt, phút chóc hình thức bề ngoài che hết mọi thú tính bên trong...

Chồng Dung là một anh thợ làm nhôm, tập đoàn bún thịt nướng đầy " thương hiệu" của gia đình đủ trang bị cho anh ta thành một tay phong lưu sát gái thứ thiệt. Săn sinh viên chưa đã, anh ta săn luôn cả gái làm uốn tóc gội đầu, săn người ta thì người ta săn lại...

Dung bắt tại trận chồng ngoại tình. Thế là tan cửa nát nhà, ra toà chia tay. Dung nhận nuôi đứa con gái duy nhất của cuộc hôn nhân này!

Thuê nhà ở riêng, làm tạm ở tại một shop áo quần, chờ vận may mới... Đã lâu không gặp con, bé được gởi lên ông bà ngoại trên Tây Nguyên, nhìn khuôn mặt con gái qua chiếc điện thoại cầm tay, Dung nỗi niềm chan chứa...

Cô con gái bốn tuổi cứ tưởng bố mẹ mình đi công tác xa, nó cười đùa với ông bà ngoại ở phố núi đầy sương, sương lại mờ nụ cười cô bé.

...
Gái một con trông mòn con mắt.., mòn con mắt của những thằng "thèm gái" như Nó và... cũng mỏi mòn con mắt của những cô gái bất hạnh kia, mỏi mòn trông chờ hạnh phúc. Người tốt đâu phải dể tìm.

Trước khi làm đám cưới, các cô gái kia đã cẩn thận đi xem ngày giờ để tránh những điều bất hạnh. Khi điều bất hạnh xảy ra, các cô lại đi xem bói, cúng chùa... để mong tai qua nạn khỏi. Sự đời cứ thế tiếp diễn, buồn cười cho cái gốc sân si...

Sống bản năng khác với thích gì làm nấy...
Nếu đến lúc hết thích thì... đạp đổ à! Khốn nạn lắm thay...


MP

Khôn khéo ngụy biện lấn át thiện tâm



Đạo Phật là một trong những tôn giáo lâu đời nhất và có nhiều tín đồ nhất trên thế giới. Đến với Phật giáo, người ta tìm đến sự bình an nơi tâm hồn, hướng về chân thiện mỹ, loại dần dục tà sân si...

Nó chưa bao giờ biết Đức Phật đã báo hiếu cha mẹ như thế nào? đã chăm sóc vợ con ra sao?.. Nhưng ngẫm những điều Ngài dạy, Nó rất tâm đắc và hiểu vì sao tín đồ Phật giáo đông đến như vậy. Ở nước Việt Nam đất chật hẹp người đông đúc này, Phật giáo có tầm ảnh hưởng rất quan trọng và Phật tử góp rất nhiều công sức trong việc lập nước và giữ nước, tinh thần tương thân tương trợ cứu khổ cứu nạn mọi lúc mọi nơi, kêu gọi tấm lòng bác ái thúc giục đồng bào cả nước vượt cái khó cái nghèo từng bước đi lên...

Cũng như vận mệnh một con người, lúc thịnh lúc suy, Phật giáo ngày nay đã và đang tham gia tích cực vào các vấn đề gai góc của toàn cầu: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, chiến tranh và hòa bình, mâu thuẫn sắc tộc, tệ nạn buôn bán trẻ em & phụ nữ...

Việt Nam, truyền thống văn hóa Á đông, thờ cúng ông bà cha mẹ khiến tinh thân đạo Phật càng thêm gắn chặt. Chiến tranh đã qua, nước nhà độc lập, cái chủ nghĩa duy vật biện chứng kia cũng trở nên mù mờ trước tôn giáo. Kinh tế thị trường nên người giàu kẻ nghèo phân hóa rõ rệt, mở cửa hội nhập đồng nghĩa với tự do tín ngưỡng được đôi phần công nhận. Các thầy tu đã có ghế ngồi trong quốc hội, chùa chiền được xây dựng to đẹp rầm rộ khắp các tỉnh thành trong cả nước, thùng Phước Sương chật kín tiền cúng dường, bố thí trong những dịp viếng chùa lễ hội, khuôn viên chùa mở rộng tráng lệ nguy nga...
Nhưng Phật ơi...

Nó nhìn thấy những vị Thượng Tọa (trong Tam Bảo gọi là Tăng Bảo) ngồi trong những chiếc xe sang trọng đắt tiền vào loại nhất nhì thế giới kia có khiến thế gian bớt khổ hơn không? Hay hình ảnh các vị sư đáng kính bước ra từ chuyên cơ, mím môi cười oai trên những chiếc xe nhà giàu là một minh chứng cho sự cứu khổ cứu nạn. Hơn 87 triệu dân Việt Nam mấy ai hiểu được hai chữ Niết Bàn.



Nó nhìn thấy những chiếc xe biển số xanh đâu đó đậu trước cổng chùa, những cái bụng to cùng dáng đi oai vệ bước vội cả ngàn bậc đá thành tâm cúng vái, hương khói nghi ngút mịt mù, duy vật biện chứng chỉ để người lấn át người, còn công danh chức vụ bỗng lộc phải xin xỏ và trông nhờ vào thần may mắn. Xác người la liệt trong các nghĩa trang liệt sĩ với mục tiêu độc lập, còn công bằng, dân chủ xin tiếp tục phấn đấu thiên thu.



Nó nhìn thấy đêm ba mươi, đêm rằm âm lịch, người dân thắp hương cầu an, cầu vượng. Vàng mã đốt cháy thấy bao nhiêu như thiêu tiền thật, gạo muối quăng ra đường thương xót bấy nhiêu mồ hôi người làm ra. Đừng cho điều đó là nhỏ, chịu khó làm một bài toán thống kê sẽ thấy một con số nổi da gà. Sân si ở đâu xa, chính những điều nhỏ nhặt ấy mà ra.

Nó nhìn thấy những con chim bị cắt cánh bán đi bán lại nhiều lần cho ngàn người vạn người phóng sinh. Chim bay không được, mỏi mệt, chim chết cả ngàn cả vạn con. Thả chim trên trời chưa đủ, người ta còn ném tiền thật xuống núi, những tờ polime rơi lơ lững như thách thức những người kẻ túng tiền, những đứa trẻ liều mạng lao xuống nhặt.

Phật sinh ra từ Ấn Độ, đi đến đâu lại thấy khan khác một tí, người đời thường nói tam sao thất bản mà.
Phật tứ phương bốn biển. Trong Tâm có Phật.
Phật pháp vô biên, luật nhân quả tuyệt đối khiến mọi điều trở nên tương đối.

Cao siêu mà làm gì?Nó chỉ cần những vị Hòa thượng đáng kính lánh xa những thứ xa hoa phù phiếm gỉa tạo kia để cái chân cái thiện cái mỹ có chôn nương nhờ;

Nó chỉ cần những vị quan chức không dùng xe công, tiền thuế dân để lo chuyện riêng tư;
Nó chỉ cần người dân đừng đốt vàng mã, quăng gạo muối ra đường, cắt cánh chim, ném tiền thật... thì đất nước này đã tốt đẹp hơn lắm lắm rồi.

Mà buồn cười, Nó cần thì Nó lại phạm điều Tham.
Cuối cùng thì... mà... là... cũng khôn khéo ngụy biện lấn át thiện tâm. Chánh tà hư ảo.

MP

Chợ đời nhốn nháo nói leo





Muốn xem, muốn nghe, muốn biết điều gì, hãy ra chợ...

Nhiều lúc trên ti vi, phim ảnh... không gian và bối cảnh, ngôn ngữ đã được các đạo diễn hư cấu theo ý đồ riêng của mình. Và có thời, chúng ta đã bị nhiễm phim Hông Kông, bây giờ là Hàn Quốc... từ cách ăn mặc cho đến lời ăn tiếng nói, dáng đi điệu bộ. Sự bắt chước bao giờ cũng là con dao hai lưỡi và nền điện ảnh Việt Nam vốn đã yếu, lại thiếu bản lĩnh nên cách photocopy thường thiên về tầm tiêu cực...


VTV3 dành thời lượng giờ Vàng để chiếu phim Việt Nam và quảng cáo, nhưng, nhìn lối sống của các cô bé, cậu bé trong phim Vàng Anh chiếu trước kia hay những phim đang phát gần đây... ta tưởng Việt Nam đã bắt kịp với sự phồn vinh của thế giới. Thực tế, Việt Nam còn nghèo, đa số nhân dân Việt Nam rất nghèo.., không biết những đứa trẻ miền núi, nông thôn có mặc cảm không khi xem những bộ phim đầy vật chất đấy? Có thể VTV3 là độc lập chủ động về thu chi tài chính nên họ có quyền làm điều gì họ muốn, nhưng họ vẫn là một đơn vị nhà nước, đi lên từ thuế dân... và chắc cũng hiểu dân còn nghèo lắm!

Khuyên, hướng dẫn mọi người "Hãy chọn giá đúng", nhưng đòi hỏi cái giá của mình thì mãi tận mây xanh. Thói đời, mắt to hơn bụng!



Đời người như cảnh chợ. Mọi thành phần, mọi tính cách, mọi thiện ác lưu manh.. đều có ở chợ. Dân thành phố giờ đây đã biết đến siêu thị và chập chững hòa nhập cùng nó. Văn minh đấy! Nhưng nếu cúp điện ( nước mình xãy ra thường xuyên )... nó sẽ khốn nạn hơn cái chợ rất nhiều. Quan sát hết mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế thị trường định hướng cùng nền chính trị tham nhũng khủng khiếp, luật pháp mù mờ đã khiến mọi người văng tục, đốn mạt... May còn có cái để mà ganh đua, bầu không khí vẫn còn đủ thở và nước chưa đến mức cằn khô!

Mở cửa, lùa ngọn gió mát giao thương khiến sự phân hóa giàu nghèo nước ta đã đậm nhạt lên theo từng đường nét. Vui hay buồn cũng tùy cách luận. Tìm sự công bằng là điều vô lí, bản chất bán buôn nhưng yếu luật, lấp liếm bằng cách lấy mạnh hiếp yếu, lấy điếm thắng ngay.., nó phảng phất đến tất tần tật đời sống. Ngộ trong cái đầu mình nhiều lúc cũng quá cân đo.
\


Trong một đêm hoang tưởng, giá như tiền trên trái đất đột ngột biến mất đi, loài người sẽ mặc cả với nhau bằng gì nhĩ ? Khi một thế giới cúp điện, hết xăng... thú và người sẽ cảm thấy gần nhau hơn chăng? Anh Lại Văn Sâm sẽ chẳng còn hô hố sáng tạo sáng tác trên truyền hình mà đổ mồ hôi cuốc đất trồng rau bảo toàn sự sống. Và cô siêu người mẫu Phi Thanh Vân kia vẫn cứ mãi là Lọ Lem mũi tẹt về quê lấm la lấm lết trên đồng. Rồi cậu ấm Cường đô la sẽ hết cơ hội cùng Tăng Thanh Hà hay Hồ Ngọc Hà nói lời yêu thương. Còn nhiều lắm.., cái lí của đời và sự vô lí sẽ triệt tiêu chấm dứt những giá như.

Tín đồ cực đoan luôn luôn giữ vững niềm tin ngày tận thế và loài khủng long vẫn vô tư gặm cỏ, nhai xương cho đến lúc tuyệt chủng trên quả đất này. Chỉ mong mỗi cái đầu điều khiển cái miệng không được bắt chước nói leo!

Ghét siêu thị, ghét chợ, chẳng bao giờ thích mua sắm cái gì. Nhưng khi muốn tự tay cải thiện bữa ăn hay lai rai với bạn bè, nó thường tìm đến chợ. Cảnh, người nhốn nháo thật hơn.., và cũng Việt Nam hơn!

MP

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Quẹo trái hay quẹo phải ?



Ba vị lãnh tụ tối cao của đất nước Bạch Dương, Tùng Bách và Tre Xanh cùng nhau đi tìm con đường vận mênh cho dân tộc. Họ đi , đi mãi cuối cùng cũng đến ngã ba vận mệnh. tại ngã ba có tấm biển ghi : quẹo phải đường đi đến Tự Do, quẹo trái là đường đi đến Thiên Đường.




Tài xế của vị lãnh xứ sở Bạch Dương lên tiếng hỏi :

_ Thưa ngài E., quẹo trái hay quẹo phải ạ

_ Quẹo trái- vị lãnh tụ xứ bạch Dương không chút do dự

_ Nhưng thưa ngài..._tài xế do dự lên tiếng _ theo lời đồn thì cuối đường sẽ đụng vực thẳm ạ

_ Ta muốn đến đích, thà đụng vực thẳm vậy. Ngươi nghĩ quẹo phải có đi được đến cuối con đường không?

_ Dạ...hình như là vô tận ạ.

Vậy là ngài lãnh tụ Bạch Dương mạnh dạn quẹo trái.

....

_ Thưa Bác Đ., quẹo trái hay quẹo phải ạ? _ Tài xế của vị lãnh tụ xứ sở Tùng bách lên tiếng hỏi

_ Ngươi cứ bật đèn xi-nhan quẹo phải nhưng quẹo trái cho ta

...

_ Thưa cụ M.chúng ta quẹo trái hay quẹo phải a?_ Tài xế của vị lãnh tụ xứ Tre xanh lên tiếng hỏi

...

_ Thưa cụ M. chúng ta quẹo trái hay quẹo phải a?_ Tài xế của vị lãnh tụ xứ Tre xanh lên tiếng hỏi lần nữa

Vị lãnh tụ xứ Tre Xanh móc túi lấy khăn lau mồ hôi trán, rồi cụ từ tốn bảo :

_ Thôi, chú cứ bỏ tôi xuống rồi chú quẹo trái hay quẹo phải gì tùy chú vậy .

_ ???

Vô ngôn sư



Vũ Ngọc Anh



Như thường lệ, hay đó cũng là mực thước của ông; sau giờ cuối ở giảng đường là ông đi thẳng đến câu lạc bộ thể dục để hồi phục cả tâm sinh lý mà ông đã thải ra sau một ngày căng thẳng. Thường lệ, cũng là thói quen; ông đi đi về về từ nhà đến trường, đến câu lạc bộ chỉ trên đôi chân không mấy khỏe ấy. Cũng chính vì, chẳng những đôi chân mà cả thân thể ông hình như có dấu hiệu cũ mòn, nên ông vận dụng con đường đi để biến thành con đường dưỡng sinh. Để thực hiện mục tiêu, ông dời ngôi biệt thự ở Thủ Đức về thành phố - ở gần trường - bằng một căn nhà nhỏ nhưng khá tiện nghi trong khu yên tĩnh đường Nguyễn văn Thủ, Q.I. Kế hoạch này đã tỏ ra có hiệu lực, vì cả chục năm nay sức khỏe của ông dù có tuân thủ qui luật của thời gian nhưng hết sức tiệm tiến chứ không như một vài đồng liêu cùng tuổi như ông, cái tuổi lai rai đó.

Cũng theo lệ thường, sau buổi tập ở câu lạc bộ; ông về nhà và ôn lại các thao tác một cách nhẹ nhàng với mục đích cho ráo mồ hôi để tắm hơn là để nhớ vì mỗi bài tập ở câu lạc bộ không phải là bài học mới mà là những động tác quen thuộc vì tới lui cũng chỉ có dăm ba bài quyền mẫu mực thế thôi. Thế nhưng ông vẫn cần đến câu lạc bộ, vì ông cảm thấy hình như họ và ông có một mối đồng cảm nên ông tìm đến họ để trao đổi, chia xẻ cùng cái mục đích dưỡng sinh ấy.

Và một hôm, ông trược chân ngã trong phòng tắm; nhưng may thay, cũng nằm trong kế hoạch dự trù, tức sự cảnh giác cao của gia đình: mỗi khi ông hay bà tắm thì người giúp việc luôn luôn túc trực bên ngoài để nghe ngóng động tĩnh…nên hôm ấy ông được phát hiện kịp thời và đưa đi bệnh viện. Ông bị tai biến mạch máu não. Được chính người bạn thân, trưởng khoa tim mạch và thần kinh của bệnh viện trực tiếp điều trị hết sức tận tình nên ông qua khỏi điều đáng tiếc. Thế nhưng việc đáng tiếc còn sót lại là từ đó ông bị liệt nữa người bên trái.

Với ông, con người của ý chí, đâu phải chỉ vì một chút xíu tai họa như thế mà ông chịu đầu hàng với số phận dễ dàng! Người bạn bác sĩ trưởng khoa ấy chọn cho ông một nữ y tá vật lý trị liệu về nhà tiếp tục điều dưỡng cho ông, cùng với sự chăm sóc chu đáo của vợ con mà chính họ cũng được bổ sung kiến thức trị liệu thông qua tài liệu và do chính lời hướng dẫn của bác sĩ mỗi lần đến chữa trị. Tổng hợp cả vật lý trị liệu, xoa bóp, châm cứu và luôn cả pháp môn khí công trong các bài thể dục dưỡng sinh nên việc chữa trị của bác sĩ gần như nhiều thuận lợi. Và một hôm, trong số các học trò đến thăm đã mách cho ông còn một phương pháp nữa, đó là nhân điện. Theo người học trò này thì chính người bác ruột của cô cũng bị bán thân bất toại mà chữa trị ở đây chỉ trong vòng ba tháng đã phục hồi hoàn toàn như cũ. Cô học trò đưa ra tất cả những khẳng định đáng tin cậy. Tất cả các loạt bài báo nói về ông thầy ấy: sự kiểm tra của viện y học dân tộc, hai tay ông nắm vào hai đầu dây điện làm sáng bóng đèn v.v…ông ấy học châm cứu tại viện y học dân tộc và có thời gian chữa trị tại đó. Có thể đó là tin mừng thực sự. Nhân điện thì ông nghe nói nhiều và nghi ngờ cũng nhiều vì có một lần ông thử để tìm hiểu và ông đã hiểu chẳng có tí nhân nào, chẳng có tí điện nào, chỉ toàn lũ điên; còn hiệu quả thì ông để cho mối nghi ngờ của ông khẳng định.

Nhưng lần này thì ông tin hơn là thử. Gia đình bị thuyết phục và ông quyết định đi thử một lần xem sao. …Trong lúc chờ tới phiên mình, ông nhìn người bệnh nằm trên chiếc giường sắt co rút và tránh né bàn tay ông thầy, có người năn nỉ xin thầy nhè nhẹ cho; cũng có người nhát thì nhảy thoát khỏi giường, kể như đầu hàng. Ông vừa ngạc nhiên vừa thắc mắc…họ bị xung động và phản ứng thật chăng? Chờ đến lúc tay ông thầy thật sự chạm vào các huyệt đạo trên thân thể và luồng điện xung kích vào cơ thể thì mọi nghi ngờ về nhân điện [nhân điện này] không còn hiện hữu trong ý nghỉ của ông nữa. Điện mà không có điện thì sao gọi là điện? Khi ông thầy chích vào khuyểu chân sau đầu gối thì ông tưởng chân ông là cái đùi ếch bị chích điện vậy. Điện thế mới là điện! Bàn tay ông thầy nắm từng ngón tay ông thì ông thốt lên như vô thức chứ ông không chủ ý nói xin thầy nhè nhẹ cho. Thế đấy, ông cứ cách nhật đến điều trị tại thầy Tư Ngang, xã Trung Mỹ Tây, huyện Hóc Môn này hơn bốn tháng thì ông đi lại bình thường và mọi sinh hoạt thường ngày trước đây cũng được phục hồi trở lại như thân thể của ông vậy.

Thế nhưng chỉ hơn một năm sau lại chính các học trò của ông đưa ông đi cứu cấp từ ngay trên bục giảng. Lần này thì mọi nổ lực của tình thương, của y học, của khí công, của bàn tay thầy Tư Ngang cũng đều lộ ra sự bất lực của mình. Ông cũng bị chấn thương động mạch não nhưng không bị liệt cơ như lần trước mà lần này là mất chức ngôn ngữ. Theo bác sĩ chuyên khoa điều trị là do sinh mạch trên não của ông bị gián đoạn làm cho trung khu ngôn ngữ trong thùy chẩm trái của não không nhận được thông tin nên mất khả năng viết và nói. Trong chuyên môn người ta gọi căn bệnh ấy là mất chức ngôn ngữ. Bác sĩ cho biết ông bị chứng thất ngữ lĩnh hội và cả chứng thất ngữ phát biểu.

Người bạn bác sĩ điều trị cho ông, giải thích: khúc cuộn thứ hai thùy chẩm bên trái của ông bị hỏng, nghĩa là mất liên lạc với điện trường trong não bộ nên không hiểu được ý nghĩa của chữ mặc dù vẫn viết chữ đựợc, gọi là chứng ngôn manh (mù chữ=cécité verbale) khiến người bệnh không thể diễn tả tư tưởng bằng chữ viết, cũng còn gọi là chứng thất thư(agraphie). Và không chỉ ông mất khả năng lãnh hội đó, mà ông còn mất cả khả năng phát biểu nữa là vì cả khúc cuộn thứ ba cũng trong thùy chẩm trái ấy cũng mất liên lạc điện trường nên dù vẫn nghe được nhưng không hiểu được ý nghĩa tiếng nói, chứng này được gọi là chứng ngôn lung (điếc chữ=surdité verbale) khiến người bệnh không thể diễn tả được tư tưởng bằng lời nói mặc dù cơ quan phát âm ở cổ ông vẫn nguyên vẹn, cũng được gọi là chứng thất ngôn (anarthrie).

Liệu ông có chịu bó tay trước hoàn cảnh mới này không. Quả thật ông không ra lệnh được, ông không diễn tả được. Gần như ông nghe mà không hiểu. Kể cả ông không thể làm điệu bộ cho người khác hiểu. Có lần vợ ông vô ý đưa đĩa cơm cho ông mà quên chiếc muỗng, ông chỉ ngồi mà ngó hết người này đến người kia và mọi người nhìn ông như thể chờ đợi ông ra hiệu để yêu cầu việc gì, nhưng ông không làm được cách gì hơn. Đứa con gái út nhìn ngay vào đĩa cơm và nhận ra thiếu chiếc muỗng, cô ta liền đưa đến cho ông chiếc muỗng, ông cười và gật đầu. Không đơn thuần như người câm không phát âm được thì dùng ngôn ngữ điệu bộ; còn ở đây, người mắc chứng mất ngôn ngữ không có khả năng định danh sự vật; vì thế, khả năng diễn tả cũng không còn.

Vợ ông nhờ người bạn dạy thanh nhạc ở viện âm nhạc đến tập cho ông phát âm để mong phục hồi khả năng phát âm của ông. Vâng, khả năng phát âm của ông rất tốt, ông có thể lên xuống cách quãng một octave rất khỏe. Vấn đề không phải ở hệ thanh quản, cũng không phải ở bộ phát âm lưỡi hay môi răng. Cũng không phải bộ nhớ bị trục trặc, vì lấy một cuốn sách ra và làm thao tác viết tựa đề cuốn sách ấy rồi đưa cho ông để ông viết lại thì ông hiểu và viết lại không sai. Thế mà ông không thể bút đàm được. Bạn bè ông, học trò ông, vợ con ông thử nghiệm qua nhiều phương pháp mà chưa rút ra được kết quả nào.

Trong đám môn sinh của ông có cô học trò rắn mắc đề nghị với các bạn, từ nay gọi thầy mình là vô ngôn sư. Không dè sự tinh nghịch ấy đã làm chết danh ông. Và từ đó, không phải chỉ trong đám môn sinh của ông mà cả trường – kể cả hàng giáo sư, thậm chí đến cả hàng xóm nữa, hể khi nhắc đến ông, người ta gọi là vô ngôn sư chứ không còn gọi tên ông nữa.

Chứng bệnh quả thật là lắc léo. Cơ thể khỏe mạnh. Từ điện tâm đồ đến điện não đồ và cả siêu âm nội tạng đều cho kết quả tốt và ổn định. Duy chỉ có trung khu ngôn ngữ trong não bộ ấy bị mất liên lạc với nhau mà con người đành bất lực. Ông mất đi tính năng động vốn là tư chất của ông, và có vẻ hơi ngơ ngát cũng vốn trái nghịch với cung cách trầm tư của ông nữa.

Là một nhà ngôn ngữ học mà giờ đây lại là người vô ngôn, chắc gì ông chịu đựng nổi tình cảnh ấy. Gia đình, bạn hữu, môn sinh của ông đều lo lắng về việc ấy. Thế nhưng riêng ông, mọi người đều không nhận ra dấu hiệu gì chứng tỏ ông có vẻ buồn rầu cả. Ông vui vẻ, hay cười. Thậm chí ông hay đùa với các cháu của ông. Ra đường ông vui vẻ, niềm nở với mọi người như xưa vậy. Thật khó nhận xét ông có mất đi sự mặc cảm không, nhưng sự lanh lợi thì không còn được như xưa nữa.

Mất chức ngôn ngữ, con người mất luôn cả khả năng suy tư – điều đó được y học xác nhận.

Và ngôn ngữ có mối liên hệ hữu cơ tất yếu với tư tưởng. Condillaccho rằng: “ta không thể nói mà không phân tích tư tưởng thành những yếu tố để có thể diễn đạt chúng lần lượt và lời nói chính là dụng cụ duy nhất cho phép ta tư tưởng”. Chính ngôn ngữ là phương tiện truyền thông chuyển đạt tư tưởng từ người này sang người khác, từ thời đại này sang thời đại khác. Ngôn ngữ còn nhiệm vụ lưu giữ tư tưởng phòng khi tư tưởng như bóng câu qua cửa sổ. Nhất là ngôn ngữ chữ viết là công cụ bảo lưu tư tưởng hiệu quả hơn cả. Chính vì thế mà Hamilton cho rằng: “ngôn ngữ là pháo đài của tư tưởng”. Ngôn ngữ cũng đóng góp vào việc phong phú hóa tư tưởng mà Burloud ghi nhận: “chính những chữ mà ta tìm kiếm để phát biểu tư tưởng đã thêm cho tư tưởng sự chính xác cần thiết”.

Và ngược lại, tư tưởng cũng ảnh hưởng đến ngôn ngữ, chắc là vậy, vì đương nhiên tư tưởng có trước ngôn ngữ, cho nên tư tưởng mới cần đến ngôn ngữ để biểu thị, để phát biểu, để chuyển tải. Do đó sự tiến bộ của tư tưởng kéo theo sự tiến bộ của ngôn ngữ. Mỗi khi có một tư tưởng mới phải cần có ngôn ngữ thích ứng như trong trường hợp Vương Dương Minh muốn nói đến “cái lương tri” mà ông khám phá ra, ông chỉ biết ú ớ “cái ấy” chứ biết dùng từ gì cho ổn; sau ông mới tìm ra từ “lương tri” thế cho “cái ấy”. Và người Ấn Độ cũng lúng túng như cụ Vương khi mô tả hay diễn đạt Đấng Cao Cả là “Ấy”(Tat) rồi sau mới có tên là Brahma. Đó là trường hợp mà Ferdinand de Saussure cho rằng: “Ở trước, ở ngoài ngôn ngữ, tư duy chỉ là một khối hổn loạn, vô hình thức, một đám mây u ám.”(1)

Muốn diễn tả tư tưởng mới thì người ta phải tạo ra ngôn ngữ mới để biểu đạt chúng. Như thế tư tưởng đóng cái vai trò kiện toàn ngôn ngữ và tăng bổ cho ngôn ngữ càng ngày thêm phong phú hơn để con người biết cách lột tả trung thực hơn. Và cái mối quan hệ hữu cơ mật thiết đó không thể khẳng định tính ưu thế về bên nào. Nó bổ sung cho nhau. Nó sống trong nhau. Từ “lương tri” của Vương Dương Minh chính là “tư tưởng lương tri” của Vương Dương Minh. Chính tính hữu cơ này giữa tư tưởng và ngôn ngữ cho phép Delacroix phát biểu: “ ngôn ngữ vừa là hậu quả vừa là điều kiện của tư tưởng luận lý”. Vì thế, một khi con người mất khả năng ngôn ngữ hay ngôn ngữ bị hạn chế thì khả năng suy tưởng cũng hỏng theo hoặc bị thu hẹp lại.

Tình cảnh vô ngôn là tình cảnh tối tăm tâm thức, là tình cảnh bi đát của con người, là tình cảnh thoái bộ của nhân loại, là tình trạng mất nhân tính, là trạng huống xuống cấp trở về nguyên bản sinh vật chưa tiến hóa – thôi rồi cái văn hóa mà mình đã bao thế hệ từ: “ Con Vật là Con Người giả trang dưới bộ lông lá và đi bốn chân. Con Sâu là Con Người đang bò vặn vẹo và trườn về sự triển khai nhân tính của mình.”[Shri Aurobindo-“Apercus et Pensées”-tr.27-Adyar-Paris,1950-]

Thơ: cách tân hay cách điệu?



Nguyễn Khôi






Thơ là hồn Dân tộc.
Thơ là chúa tể của văn chương 
(Trang Thế Hy).

Dân tộc Việt Nam ta là một Dân tộc Thơ (còn ai đó nói : Việt Nam là một cường quốc thơ... là nói quá, là mắc cái thói tự khen ,tự thưởng, tự sướng, thiên hạ họ cười mũi cho đấy).

Thơ là sản phẩm tinh hoa của thời đại...

Thơ cũ : từ đời Lý- Trần tới 1932 với tư tưởng Nho giáo "thi ngôn chí "- thơ chở Đạo.

Mẫu người : Tiểu nhân / Quân tử. Thể loại : luật Đường, lục bát, song thất lục bát...

Thơ mới :Nếu tính khởi từ Phan Khôi (1932) đến 1945, với tư tưởng tự do (cái "tôi" cá nhân) các Nhà thơ đã tự thân thoát khỏi chữ "ta" (thơ cũ) để tâm hồn họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ "tôi" (theo Hoài Thanh) làm nên một cuộc cách mạng trong thơ, tạo ra nền thơ mới với các Thi sĩ lừng danh : Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu , Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên...

Thời Cách mạng (từ 19/8/1945) là thời kỳ giải phóng dân tộc gắn với xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một luồng gió mới (gió Đông thổi bạt gió Tây) thồi vào hồn thi nhân ta - "Nay ở trong thơ nên có thép" , với mẫu người Chiến sĩ cách mạng luôn hiến dâng, xả thân vì sự nghiêp cao cả của toàn dân tộc ...đã cho thơ Tố Hữu, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Tế Hanh... cất cánh lên phơi phới, đăc biệt là Trần Mai Ninh, Hữu Loan, Quang Dũng với lối viết "cách tân" gây ấn tượng mạnh trên thi đàn; tiếp theo thời Chống Mỹ cứu nước là 2 đỉnh cao cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật thơ ( 2 tiếng kèn xung trận ) là Bùi Minh Quốc và Phạm Tiến Duật.

Đó là thời lý tưởng (màu hồng) : cái TÔI (cá nhân) được hòa vào cái ta (tập thể- đồng chí, đồng bào) sống học tập, làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Còn hôm nay, thời kỳ Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa thì : mặt phải là xã hội giầu lên, đời sống nói chung được nâng cao rõ rệt, sinh hoạt được cởi mở , tự do dân chủ hơn trước nhiều; Tuy nhiên mặt trái của cơ chế thị trường là cuốn hút mọi người trong xã hội cứ như tất cả quay cuồng vì "tiền" (nói theo Vương Trí Nhàn) ? Góc tâm hồn Việt do mở cửa hòa nhập nên đang bị lối sống gấp phương Tây thâm nhập ,chạy theo lối sống hưởng thụ dã man :đớp, hít, Sex, cờ bạc, lừa đảo... làm tha hóa một bộ phận không ít Cán bộ, dân cư...Đảng phải ra Nghị quyết "chỉnh đốn" là thế.

Trên thi đàn hôm nay : phần lớn vẫn là sáng tác theo lối truyền thống (nền thơ mới 1932-1945 kéo dài) , nhiều "Câu lạc bộ thơ Đường", thơ phường xã được khuyến khích thành phong trào, cái "được" của thơ phong trào (mà Nghệ sĩ Bành Thông làm chủ soái) là không đặt vấn đề "nghệ thuật thơ ca" lên hàng đầu (như các Hội VHNT) mà là tạo sân chơi cho những ai yêu thơ, thích làm thơ hội tụ kết dính với nhau nên các bạn thơ chia sẻ bao điều tâm tư tình cảm, ít có tổ chức nào hôm nay làm được như vậy. ? Còn giới các Nhà thơ có nghề thì đang có một số đi tiên phong "cách tân"- đổi mới thơ đương đại... Trước có Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng...về tư tưởng là muốn có "tự do, dân chủ" hơn nữa , mà đỉnh cao là "phu chữ" Lê Đạt, gây được tiếng vang trên thi đàn một thời...Rồi khi các vị quá cố thì cũng tắt lịm !. Gần đây có Nhóm Bùi Chát (Tp Hồ Chí Minh) làm thơ theo lối "Tân hình thức" với những câu thơ "vắt dòng", rất khó đọc theo mạch suy nghĩ của người Việt ta, hình thức thì khó "chơi", còn ngôn ngữ thì thô tục một cách cố tình để chửi bới chế độ đương thời .

Ở Hà Nội có Nguyễn Đình Chính với tập "Chẹc Chẹc" có cách viết mới đầy sáng tạo cả về hình thức lẫn nội dung, đọc rất vào; ở Huế có Trần Vàng Sao thơ viết rất gan ruột, câu thơ khá độc đáo, đáng học tập.

Gần đây nữa ,một hiện tượng thơ Hậu hiện đại khá nồi bật là Mai Văn Phấn ở Hải Phòng (quê Ninh Bình) "đã quyết liệt, nhẫn nại đưa thơ vào những ngóc ngách tâm hồn mình và những thế trận,ma trận chữ" : thi pháp hiện đại, giấu hiện thực và lãng mạn nằm nghỉ nơi tầng dưới của ngôn ngữ, hiện đại hóa chất Chân quê."...

Rồi nữa , có nhóm "Thơ làng Chùa ", cùng một số Nhà thơ trẻ vừa được giải thưởng Hội Nhà Văn...đang được "bốc thơm" thái quá cho cách viết kiểu gọi là Hậu hiện đại (thực thì đi sau nhiều so với một số Thi sĩ Sài Gòn ...) đó là "Sự mất ngủ của lửa" (mà cái đầu ít lửa ở bên trong, ngôn từ rườm rà tối tăm ,hồn thơ nguội , ít truyền cảm ) của Nguyễn Quang Thiều " -.đó là lối thơ

"văn xuôi hóa thơ"., nhiều câu như "dịch thơ Tây..(nhiều câu mở đầu bằng chữ "và"...)

Sự khác biệt giữa hệ thống thơ truyền thống "cũ" và thơ "cách tân" hôm nay ở chỗ : thơ truyền thống tập trung vào Ý mới, Tứ lạ (điểm chói sáng ) để tạo ra các câu thơ HAY để đời; còn thơ "cách tân" (mới) chủ yếu là thiết lập TỪ TRƯỜNG THƠ, đưa vào các ngõ ngách tâm hồn "đa tâm điểm" với ý muốn đặt độc giả vào một vị trí khách quan và tỉnh táo để nhìn thấy toàn bộ văn bản đúng nghĩa, mà nghệ thuật hư cấu như một trò chơi tự trình bày cách chơi của nó và mời độc giả tham dự vào trò chơi ấy. Văn chương (thơ) hậu hiện đại là trò chơi ngôn ngữ mang tính dân chủ tối đa...

Đôi lời kết : Theo thiển ý của NK thì Cách tân (đổi mới ) thơ ca là cần thiết, nhưng trước tiên phải là cách tân cái Hồn thơ (Luyện Tâm) rồi mới thay đổi cách trình bày (lối viết- luyện chữ)Nếu thơ "rất ít thời thế, càng không có các chủ đề chính trị, sự kiện thời sự (chạy vào thơ tình"anh anh/em em"), tránh né làm Nhà thơ Công dân, "mắc kê nô" tránh xa nơi thân phận con người đang chim đắm trong dục vọng tiền tài danh vọng- ), bỏ thơ chở Đạo, vây thơ viết cho ai, viết để làm gì ? không khéo cũng chỉ để làm thỏa mãn một trò chơi con chữ mà thôi, sẽ là vô bổ với thiên hạ (đại chúng).

Nói tóm lại :"Cách tân thơ" nếu không có nội dung tư tưởng mới lạ, có tính tiên phong của thời đại (chứ không phải đi tắt đón đầu), được xã hội tự giác chấp nhận (chứ không phải là cưỡng bức áp đặt), mà chỉ nặng về phô bày chữ nghĩa theo những cách diễn đạt khác lạ với truyền thống thì cũng mới chỉ là CÁCH ĐIỆU mà thôi .

Mùa Đông Mùa Đông Ơi




Mùa Đông. Lạnh vô cùng là gió.
Mùa Đông. Buồn vô cùng là nhớ.
Nhớ về một bến sông…

Mùa Đông. Mênh mông tuyết. Bầu trời trắng như bông. Những nhánh cây chịu rét / buồn đến nỗi cong, cong…

Mùa Đông.
Người bản xứ / áo mặc trùm kín đầu.
Những người là khách trọ / mười ngón tay đan nhau…

Những con chim bồ câu / ở lại cùng thành phố. Chúng nói gì, nho nhỏ .Chúng nói gì, hả em?

Tôi là người lữ thứ, nhìn trời bông tuyết bay.
Nhớ quá hà, nhớ ai?
Bến sông và…mùa Hạ.

Nhớ em thôi! Tất cả…Một Quê Hương xa vời.
Một Quê Hương, bầu trời, mây trôi không phải tuyết!

Bên chữ Yêu là Ghét. Tôi không hề ghét em.
Nhưng yêu không yêu thêm – một mình em.
Duy nhất!

Em ơi anh nói thật, kìa mùa Đông tuyết bay.
Anh đi Bắc về Tây, mười ngón tay đan mãi…

Lạnh đến lòng tê tái. Buồn chắc tim tái tê?
Đường xa mất hướng về…
Tóc thề em, sao nhỉ?…

Đôi bồ câu thủ thỉ. Chúng nói gì hả em?
Em có đang cười duyên trong lòng gương ý lược?

Trần Vấn Lệ

Và anh tồn tại


Lưu Quang Vũ

Giữa bao la đường xá của con người
Thành phố rộng, hồ xa, chiều nổi gió
Ngày chóng tắt, cây vườn mau đổ lá
Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài
Chỉ một người ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi
Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới
Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương
Người ấy chỉ vui khi anh hết lo buồn
Anh lạc bước, em đưa anh trở lại
Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi
Em là sớm mai là tuổi trẻ của anh
Khi những điều giả dối vây quanh
Bàn tay ấy chở che và gìn giữ
Biết ơn em, em từ miền cát gió
Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng
Anh thành người có ích cũng nhờ em
Anh biế sống vững vàng không sợ hãi
Như người làm vườn, như người dệt vải
Ngày của đời thường thành ngày-ở-bên-em
Anh biết tình yêu không phải vô biên
Như tia nắng chúng mình không sống mãi
Như câu thơ, chắc gì ai đọc lại
Ai biết ngày mai sẽ có những gì
Người đổi thay, năm tháng cũng qua đi
Giữa thế giới mong manh nhiều biến đổi
"Anh yêu em và anh tồn tại"
Em của anh ơi, đôi vai ấm dịu dàng
Người nhóm bếp mỗi chiều, người thức dậy lúc tinh sương
Em ở đấy, đời chẳng còn đáng ngại
Em ở đấy, bàn tay tin cậy
Bàn tay luôn đỏ lên vì giặt giũ mỗi ngày
Đôi mắt buồn của một xứ sở có nhiều mưa
Ngọn đèn sáng rụt rè bên cửa sổ
Đã quen lắm, anh vẫn còn bỡ ngỡ
Gọi tên em, môi vẫn lạ lùng sao.

Khuyên Quốc dân tấn thủ



Phan Chu Trinh



Gió tố mưa dông đổ lộn phèo,
Trời già chi nỡ thắt khi eo,
Ngẫm mùi trung hiếu nên cay đắng,
Dở túi văn chương đã mốc meo,
Bợm điếm lăng xăng lo chợ cháy,
Con hoang lơ lửng khóc cha nghèo.
Non cao bể rộng mênh mông cả,
Mặc sức bơi chơi mặc sức trèo.

Huyết thù


Guy de Maupassant

Góa phụ Paolo Saverini sống một mình với đứa con trai trong một ngôi nhà nhỏ nghèo nàn trên vành đai của Bonifacio. Một thị trấn hình thành trên đỉnh những ngọn núi, nơi những mỏm đá nhô ra biển, trông ngang qua một con kênh tua tủa những đá ngầm, đến bờ biển Sardinia ở phía dưới. Dưới chân núi, phía bên kia và gần như bao quanh thị trấn ấy là dòng kênh có vai trò như một bến cảng, cắt vào trong đá như một hành lang khổng lồ. Xuyên một vòng giữa những bức vách đá dựng đứng trong nước, con kênh mang những chiếc thuyền đánh cá của người Italia hoặc của người Sardinia, đến tận thềm của những ngôi nhà đầu tiên và cứ mỗi hai tuần, những chiếc thuyền cũ kỹ chạy bằng hơi nước đến và đi từ Ajaccio.

Bên trên vùng núi trọc ấy là cụm nhà tạo nên những mảng vá màu trắng, trông giống như những tổ chim hoang, bám trên tảng đá nổi bật trên dòng kênh nguy hiểm mà hiếm có chiếc tàu nào liều lĩnh đi qua. Những luồng gió không bao giờ ngơi nghỉ luôn khuấy động mặt biển và ăn mòn bờ biển đến trơ trụi chỉ còn những đám cỏ lơ thơ bao phủ, gió còn thổi vào khe núi và tàn phá hai bên vách núi. Ðám bọt trắng xóa dật dờ bám quanh vô số mũi đá đen nằm khắp mọi nơi chọc thủng những cơn sóng, giống những chiếc lều rách nổi bềnh bồng nhấp nhô trên mặt nước

Căn nhà của bà góa phụ Saverini cheo leo trên một rìa đá; ba cửa sổ của căn nhà đều hướng ra khung cảnh hoang vu và heo hút này. Bà sống thui thủi ở đó với con trai là Antoine và con chó cái Semillante, một con chó to và ốm với bộ lông dài bờm xờm của một giống chó chăn cừu. Người thanh niên trẻ dùng nó để đi săn.

Buổi chiều nọ, sau một trận cãi vả, Antoine Saverini đã bị giết chết một cách thảm khốc bằng một nhát dao của tên phản phúc Nicolas Ravolati, hắn đã trốn đi Sardinia ngay đêm đó.

Khi nhận thi thể con mình và nhờ người ta mang về, bà mẹ già của anh đã không khóc, nhưng bà đã ngồi bất động rất lâu, nhìn vào xác con, vòng cánh tay nhăn nheo qua xác con mình, bà thề sẽ trả mối thù này cho con. Bà không muốn có ai bên cạnh, bà nhốt mình trong nhà cùng với xác chết và với con chó buồn thảm. Con chó cứ tru lên mãi, nó đứng ở chân giường, đầu sục vào xác chủ, đuôi cụp xuống. Nó không buồn nhúc nhích, cả bà mẹ cũng thế, bà cúi xuống và nhìn sững vào xác con lặng lẽ chùi nước mắt.

Xác người thanh niên nằm ngửa, trong chiếc áo choàng dày bằng vải séc với một lỗ thủng ở phía trước, trông như đang ngủ; nhưng khắp nơi đều đầy máu; máu trên áo sơ mi bị xé phăng bởi lần cấp cứu vội vàng; trên áo choàng, trên chiếc quần chẽn, trên mặt anh, trên đôi tay. Máu bết dính đông cứng lại trên râu và tóc anh.

Bà mẹ già bắt đầu nói với anh. Con chó lặng yên trong lúc bà nói.

“Rồi đây, con sẽ được báo thù, đứa con bé bỏng của mẹ, con của mẹ, đứa con đáng thương của mẹ. Hãy ngủ yên, ngủ đi, con sẽ được báo thù, con nghe đấy chứ! Mẹ của con đã thề như thế! Và mẹ của con sẽ luôn giữ lời thề; con biết như vậy mà”

Bà chập chạp cúi xuống thi thể của anh, đặt đôi môi giá lạnh của mình lên môi của xác chết.

Khi đó Semillante bắt đầu tru lên một lần nữa. Nó tru từng hồi dài, đều đều, những tiếng kêu não nùng thảm thiết.

Người đàn bà và con chó, vẫn cùng nhau ngồi đó cho đến sáng.

Antoine Saverini được chôn vào ngày hôm sau, và không bao lâu ở Bonifacio chẳng còn ai nói về anh nữa.

Anh chẳng có anh em hay bà con nào gần gũi. Không có một người đàn ông nào ở đó để báo thù. Chỉ có duy nhất mẹ anh, một bà già, đang nghiền ngẫm suy tính.

***

Từ phía bên kia của con kênh bà đã quan sát từ sáng đến tối, một đốm nhỏ trên bờ biển. Ðó là một làng nhỏ của người Sardinia, Longosardo, nơi những tên cướp người Corse trốn chạy và trú ẩn khi bị truy lùng gắt gao. Bọn họ trở thành toàn bộ cư dân cho cái làng nhỏ hướng ra bãi biển phía trước quê nhà của họ; và ở đó họ chờ đợi thời cơ thích hợp để trở về, về lại vùng cây bụi rậm ở Corsia. Bà biết rằng Nicolas Ravolati đã trốn tránh ở chính cái làng đó.

Ðơn độc một mình, suốt ngày dài ngồi bên cửa sổ, bà nhìn xa xăm nơi đó và hoạch định chuyện trả thù. Làm thế nào bà có thể thực hiện mà không có sự giúp đỡ của người khác, huống hồ là bà đã quá gầy yếu và đã gần đất xa trời? Nhưng bà đã hứa, đã thề trước xác con. Bà không thể quên, mà bà cũng không thể chờ đợi nữa. Bà sẽ làm gì đây? Ban đêm bà không thể ngủ được, bà không còn ngủ được cũng như không còn thấy thanh thản; bà miên man tìm kiếm cách giải quyết. Con chó nằm ngủ dưới chân bà thỉnh thoảng ngóc đầu dậy và tru lên. Từ khi chủ nó qua đời, nó vẫn thường tru lên như thế, như thể nó gọi anh, như thể cái tâm hồn của con vật, không nguôi thương nhớ, vẫn cứ giữ mãi những hồi ức không phai của người chủ.

Một đêm nọ, khi Semillante lại đang bắt đầu rền rĩ, bà mẹ bỗng nảy ra một ý tưởng, một ý tưởng hoàn toàn hợp lẽ với lòng hận thù sâu sắc và tàn bạo. Bà trầm tư cho đến sáng, thế rồi khi mặt trời ló dạng, bà đến nhà thờ. Bà cầu nguyện, quỳ gối trên nền đá, phủ phục trước Chúa, bà van xin Ngài giúp đỡ bà, cứu rỗi bà, ban cho cái thân hình suy sụp của bà một sức mạnh cần thiết để trả thù cho con trai.

Rồi bà trở về nhà. Trong sân có một thùng rượu cũ dùng để hứng nước mưa, bà úp lại, đổ nước đi, gắn chặt xuống đất bằng chiếc cọc và những hòn đá; kế đến bà xích Semillante vào chiếc cũi đó, rồi vào nhà.

Sau đó bà bắt đầu bước tới bước lui trong phòng, không nghỉ ngơi, mắt bà vẫn hướng ra vùng biển Sardinia. Hắn ở đó, tên sát nhân.

Suốt một ngày và đêm dài con chó cứ tru. Vào buổi sáng bà già cho nó một chút nước đựng trong chén, và không cho thêm gì nữa, không súp, không bánh mì.

Một ngày nữa trôi qua. Semillante kiệt sức, lơ mơ ngủ. Ngày hôm sau hai mắt nó sáng lên, lông dựng ngược và nó liều lĩnh giật sợi xích.

Một lần nữa, bà già không cho nó ăn gì. Con vật điên cuồng vì đói, sủa khàn cả giọng. Một đêm nữa trôi qua.

Lúc rạng sáng, bà mẹ Saverini đi sang hàng xóm để xin hai bó rơm. Bà lấy chiếc áo cũ đã hư của chồng nhồi rơm vào bên trong giống như một hình nhân.

Trồng một cái trụ trên sân trước chiếc cũi của Semillante, bà cột vào đó cái hình nộm mà giờ đây trông giống như một người đang đứng. Rồi bà trang trí cái đầu hình nộm với một sợi dây vải đã cũ. Con chó, ngạc nhiên nhìn người đàn ông bằng rơm, yên lặng, mặc dù bị cơn đói hành hạ.

Bà già đến nhà người bán thịt lợn và mua một miếng dồi thật dài. Khi trở về nhà, bà đốt một bếp lửa nhỏ ở sân sau, đóng chiếc cũi chó lại và nướng miếng dồi lợn. Semillante, điên cuồng, lồng lộn và nước bọt sủi đầy mép, mắt nó như gắn vào món ăn, mùi thơm phức đã cào cấu bao tử nó.

Với miếng dồi bốc khói bà mẹ làm thành một chiếc cổ áo cho hình nộm rơm. Phải rất lâu bà mới có thể buộc miếng dồi vòng quanh cổ sao cho nó ngập vào bên trong hình nộm. Khi công việc xong xuôi, bà thả con chó ra.

Với một cú nhảy vọt, con vật lao lên cổ họng hình nộm, móng chân nó bấu trên vai hình nộm và bắt đầu cắn xé. Con vật rơi xuống với một mếng dồi trong miệng, nó lao lên lần nữa, cắn ngập răng chiếc cổ áo làm bằng dồi ấy và xé thành những mếng vụn, nó lại rơi xuống lần nữa, rồi lại lao lên, ngấu nghiến một cách bạo tàn.

Với những miếng ngoạm lớn, nó bứt khuôn mặt và xé toàn bộ phần cổ ra manh mún. Bà già theo dõi, lặng lẽ và bất động, một niềm hy vọng loé trong tâm tưởng của bà. Thế rồi bà xích con chó lại lần nữa, bỏ đói nó hai ngày nữa, và lặp lại cuộc diễn tập khác thường đó.

Ròng rã ba tháng trời bà huấn luyện cho con chó chiến đấu theo kiểu ấy, đoạt lấy bữa ăn bằng những chiếc nanh nhọn. Bà đã không còn xích con chó nữa mà chỉ cần ra dấu là nó tấn công hình nộm.

Bà đã dạy cho con chó cắn nát và nhai ngấu nghiến cái hình nộm không có thức ăn giấu bên trong cổ họng. Sau đó bà thưởng cho nó miếng dồi lợn mà bà đã làm sẵn.

Ngay khi thấy hình người, Semaillante run lên, nó hướng mắt về phía bà chủ - người sẽ ra lệnh cho nó: ”Ði” trong tiếng huýt sáo kèm cái phẩy tay.


***

Khi cảm thấy giờ phán quyết đã điểm, một sáng chủ nhật bà mẹ Saverini đi xưng tội và rước lễ với một vẻ vô cùng thành kính; thế rồi bà khoác vào người bộ trang phục đàn ông giống như một người ăn xin. Bà mặc cả với một ngư dân Sardinia, để ông ta đưa bà cùng con chó sang bên kia eo biển.

Trong chiếc túi vải bà đựng một miếng dồi lợn thật lớn. Semillante đã không được ăn uống gì hai ngày nay. Cứ mỗi phút, bà già lại cho nó ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức, kích thích cơn đói của nó.

Họ đến Longosardo. Người đàn bà đảo Corse bước đi bằng những bước khập khiễng. Bà đến nhà một người làm bánh và hỏi thăm nhà của Nicolas Ravolati. Hắn đã trở về lại nghề cũ, làm thợ mộc. Hắn đang làm việc một mình phía sau xưởng.

Bà già đẩy cửa và gọi hắn:

“Ê! Nicolas! ”

Người đàn ông quay lại; thế là, bà thả ngay con chó và la lên:

“Ði đi, cắn nó đi, cắn nó!”

Con thú điên cuồng lao tới và táp lấy cổ họng của hắn ta.

Người đàn ông chìa tay ra, túm chặt lấy con chó và lăn lộn trên nền đất. Hắn quằn quại vài phút, đập chân trên nền đất, thế rồi hắn nằm im bất động trong khi Semillante sục mõm vào cổ họng hắn và xé tơi tả.

Hai người láng giềng, ngồi trên bậu cửa thản nhiên kể lại rằng đã thấy một lão ăn mày đi ra với một con chó gầy còm vừa đi vừa ăn một thứ gì đó màu nâu mà chủ của nó cho.

Chiều hôm ấy, bà già trở về nhà. Ðêm đó bà ngủ rất ngon.

Nhị Tường dịch

Người đàn bà không nhan sắc


Trần Lệ Thường

Thơm đứng bên cửa sổ, tóc buộc ở sau gáy bằng một sợi dây thun màu vàng. Trong ngày, hễ có lúc nào thuận tiện chị lại đứng bên cửa sổ nhìn ra khoảng sân xi măng rợp bóng cây bàng. Gió đưa những chiếc lá xào xạc, lá nào vàng thì lìa cành rơi xuống sân. Hoàng hôn với những bóng râm sẫm lại giữa những cây bàng trong khi bầu trời vẫn còn giữ được một màu nhôm đánh bóng. luồng ánh sáng lấp lánh cuối ngày ví như tia hy vọng mỏng manh ở trong chị.

Đến tháng bảy mưa dầm thì chị về đây làm việc đã mười năm. Trước đó chị công tác ở một cơ quan hành chánh sự nghiệp trong thị xã. Quê ở vùng nông thôn sâu, bên dòng sông nước đục ngầu sáng chiều vẫn chở những mảng lục bình xuôi ngược. Khi chiến tranh kết thúc, mái nhà của gia đình chị chỉ còn là một hố bom khuất sau hàng dừa nước xanh rì. Cô bé Thơm lúc ấy mười ba tuổi, người gầy nhom đen đúa với đôi bàn tay, bàn chân thô kệch lại thêm tật lãng tai sau lần hụt chết vì một quả bom nổ rất gần - chẳng còn ai thân thích ngoài một người chú họ xa. Thơm được chú đưa về thị xã nuôi nấng và bắt cô phải học văn hoá dù cô đã qua tuổi tiểu học. Dù sau Thơm cũng qua được lớp năm phổ cập và đậu tiểu học. Năm Thơm hai mươi tuổi, chú Thơm xin cho cô vào làm việc ở một cơ quan hành chánh. Cô làm tạp vụ, tiếp phẩm và vô số công việc khác. Ban ngày, lặng lẽ chăm chỉ với công việc. Tối đến, lùi lũi về căn hộ chật hẹp ở khu tập thể, Thơm nằm co quắp trên chiếc giường gỗ cứng, mắt mở thao láo nhìn lên nóc mùng, cô cố vận dụng đôi tai bệnh tật của mình để lắng nghe tiếng gió thổi bên ngoài cửa sổ. Sáng ra, chưa sáu giờ, Thơm đã dậy nấu cơm, quét sân với đôi mắt trũng sâu vốn có tròng trắng nhiều hơn tròng đen.

Sau, nghe nói có làng trẻ mồ côi Thơm xin chuyển về đó. Ở đây, công việc có bận rộn hơn nhưng những đứa trẻ hình như khiến chị vui lên. Cùng với chị có hai người phụ nữ khác cũng làm công việc nuôi trẻ. Mẹ Hai, mẹ Tươi ngoài ba mươi tuổi có gia đình và con cái. Vì công việc đòi hỏi nên thỉnh thoảng cả hai mới về thăm nhà. Họ có một mái nhà riêng và một hạnh phúc riêng. Đôi lần chị thở dài khi chị nghĩ về họ rồi nhớ đến mình. Chú chị giờ đây đã về hưu sống với vợ chồng người con trai duy nhất, hoạ hoằn một năm có hai lần chú đến thăm chị, mặc dầu từ thị xã đến đây chỉ hơn hai mươi cây số. Lặng lẽ, cô đơn, đêm đêm ngồi đom những chiếc cúc áo đứt như người thư ký ngồi mân mê những chiếc đinh ghim mà mong cho đến giờ tan sở. Gần bốn mươi tuổi, chị chưa bao giờ nghe được một lời tỏ tình, một câu hò hẹn, nào đâu một bài thơ đẹp, nào đâu nhữngcánh bướm ép khô trong quyển vở học trò. Và chị chưa bao giờ nhỏ được một giọt nước mắt dỗi hờn trong một lần ai lỗi hẹn. Có lần xem phim truyền hình “Hoa Phong Lan” chị cứ bồi hồi day dứt. Giá mà có ai đó tặng cho chị một giò phong lan như vậy có lẽ chị hạnh phúc lắm. Thời gian cứ qua, mỗi ngày tóc chị mỗi ít đi, xơ xác, đôi vai gầy nhô lên qua lần vải áo rẻ tiền. Tự biết mình, một người đàn bà không nhan sắc, nên chị chẳng màng soi gương, không bao giờ quan tâm đến thân thể áo quần. chị chỉ cặm cụi với công việc và tìm vui trong tiếng cười của các đứa trẻ. Rồi bỗng dưng một tối ẵm thằng bé quấy khóc trên tay chị nẩy ra ý nghĩ có một đứa con riêng của mình. Thật hạnh phúc! Đó sẽ là niềm an ủi vô biên của chị! Và chị chọn đứa trẻ mà chị yêu mến nhất. Nó được mang đến đây khi vừa mở mắt chào đời được hai ngày, bây giờ đã qua tuổi thôi nôi. Trước tình cảnh của chị, ban giám đốc bằng lòng để chị nhận nuôi đứa bé. Mọi sinh hoạt chẳng có gì thay đổi, duy có đìều nó sẽ được khai sinh mang tên Lê Minh Nhựt, mẹ là Lê Thị Thơm.

Cũng chẳng có gì khiến cho chị phải ngóng trông khắc khoải nếu như không có một người trong đoàn từ thiện thường đến thăm trẻ muốn nhận nuôi bé Nhựt. Chẳng phải chú Sáu giám đốc đã cho anh ta biết bé Nhựt không phải là trẻ mồ côi đó hay sao... Nhưng anh ta vẫn tỏ ra quyến luyến bé, quan tâm đặc biệt đến nó làm như thằng bé bụ bẩm vừa biết nói bập bẹ này có sức thu hút đặc biệt đối với anh ta. Qua cô Huế y sĩ chị cũng biết đôi điều về anh ta. Tên là Phạm Văn Quân, đã từng đi bộ đội, có một mối tình dang dỡ trong chiến tranh. Hoà bình rồi, cuộc sống ổn định, anh ta có một cửa hiệu bán tạp hoá bên chợ Ba mươi tháng tư, sống với mẹ và một cô em gái… tất cả những chuyện về Quân chị không hề quan tâm. Huế nói thì chị làm ra vẻ chú ý, đầu gật gật. Những điều Huế được biết về Quân là qua những người cùng đi với Quân nói lại chưa biết thực hư thế nào. Cho dù có thực hay hư thì chị cũng không màng đến, cả đến dáng đi khập khểnh của Quân, nếu Huế không nói thì chị cũng không biết. “Anh ta là thương binh, bị thương ở chân trái”. Điều chị lo lắng là bé Nhựt rất mến Quân. Trẻ con được ai thương yêu chiều chuộng cũng đều quyến luyến người đó. Nào đồ chơi, nào quần áo, nào quà, nào bánh… Nó thường cười nắc nẻ mỗi khi Quân nhấc bổng nó lên cao. tiếng cười của cả hai làm vỡ toang không gian yên tĩnh của buổi trưa êm ả và muốn làm vỡ tung lồng ngực chị. Những lúc ấy Thơm từ trong cửa sổ nhìn ra rất khó chịu. bản tính ích kỷ của người phụ nữ trổi dậy ở trong chị, chị không muốn ai đụng vào một sở hữu của chị dù rằng họ không làm mất mát một thứ gì. Thêm nữa đó lại là lẽ sống của đời chị. bởi vậy chị thường tìm cách giữ rịt lấy thằng bé ở trong nhà mỗi khi thoáng thấy Quân đi vào hay đang đứng nói chuyện với ai đó cạnh cây bàng. Còn bé Nhựt vừa nhác thấy Quân đã vứt bỏ cả đồ chơi, bỏ dỡ chén cơm đang ăn tất tả chạy ra ngoài “Ba! Ba Quân! ”. Nó hét to lắm. Thật là ghét! Thơm bị lãng tai mà còn nghe nó hét inh ỏi. mỗi lần nghe như vậy chị lại thấy tưng tức, mặc dù tất cả trẻ ở đây đều gọi Quân là “Ba Quân”. Có lần Quân đến vào lúc bé Nhựt đang ngủ trưa. Thật may! Trưa nó ngủ dậy muộn. Chị khắp khởi mừng thầm. “Nó ngủ rồi”. Chị nói ngay khi Quân vừa bước vào. “Vậy à! ” Quân đưa mắt nhìn về phía thằng bé đang nằm ngủ như để yên tâm về những lời chị vừa nói. Thơm hả hê trong lòng khi thấy Quân có vẻ ngượng ngập, tay cầm một món gì đó trong chiếc hộp giấy. Chị vờ chăm chú xếp quần áo. “Nó mới ngủ thôi. Đừng đánh thức nó”. “Ờ! ” “Mà nè! ” Hôm trước nó ăn sôcôla của anh cho nó đau bụng cả đêm. Lần sau đừng để phần cho nó nữa, cứ chia hết cho mấy đứa kia đi”. Không ngẩng lên nhưng Thơm biết Quân đang nhìn chị khó chịu. “Tôi có bắt mất nó đâu mà chị ghét tôi quá vậy... ” Quân hỏi lớn tiếng, nhưng không phải vì đang bực mình mà vì anh biết chị bị lãng tai. Anh toan đi ra cửa nhưng chưa đi vội mà đưa chiếc hộp về phía chị. “Đưa bé hộ tôi”. chẳng biết chị có nghe hay không nhưng chị vẫn bình thản gấp chiếc áo trên tay và không buồn ngẩng lên. Quân thở ra, đặt chiếc hộp trển đầu giường rồi khập khểnh ra khỏi phòng. Tiếng chân của anh vang lên không đều và chị cũng không nghe thấy.

Lại một buổi chiều, mọi sinh hoạt đang dần đi vào buổi tối, tất cả trẻ đều đã tập trung vào nhà sau bữa ăn chiều vậy mà Quân còn bế bé Nhựt ngồi trên thành xi măng ở gốc cây bàng. Những người cùng đi với Quân chờ anh không được đã đi về trước. Đã vậy, đến lúc anh lên xe bảo nó vào nhà để anh đi về nó cứ lắc đầu “hổng chịu! hổng chịu! ” và khóc đòi theo. Thơm bồn chồn từ nãy giờ, không nén được chị ra ẵm phắt nó vào còn phát vào mông nó mấy cái ngay trước mặt Quân. Anh nhìn theo cả hai một lúc lâu với vẻ mặt buồn bã. Đợi hai mẹ con khuất hẳn trong nhà, anh mới nổ máy xe chạy đi. Nghe tiếng xe nổ bé Nhựt càng khóc dữ dội hơn, nó dỗi không thèm nhìn chị mà úp mặt xuống gối đến khi ngủ thiếp đi. Đêm hôm đó chị mấy lần đến giường thăm chừng như thể sợ nó có thể bất ngờ biến mất, như sợ có ngọn gió lạ ùa vào phòng cuốn nó đi. “Tôi có bắt mất nó đâu mà chị ghét tôi quá vậy”. Câu nói của Quân như là tiếng chuông gõ vào đầu Thơm từng hồi, từng hồi khiến chị vô cùng hoang mang lo sợ. Liệu có một lúc nào đó Quân sẽ thực hiện lời nói ấy không... Và bé Nhựt, tự nó sẽ bỏ chị mà về với Quân. Chị không có thời gian dành riêng cho nó, ăn thì ngồi xếp hàng như các trẻ khác, ngủ cùng đồng loạt trên giường như nhau. Với chị chỉ có sự khắc khe và hình phạt còn Quân luôn mở rộng vòng tay đón với bao vuốt ve trìu mến, cả đến những sự nuông chiều có khi quá đáng. Chị cứ ngồi bó gối trên giường thằng bé cho đến sáng. Phải biết giành giật lấy những gì mình đang có. chị quyết tâm nghĩ như vậy nên sáng hôm sau chị lên văn phòng gặp chú sáu giám đốc. “Cái gì... Nghỉ việc à... ” Chú sáu muốn nhảy chồm lên trên ghế khi nghe nguyện vọng của chị. “Rồi hai mẹ con sẽ sống ra sao... Đâu cần phải trốn tránh như vậy…”. “Cháu phải đi chú à…”. “Chặc! Thôi để chú nói với Quân đừng đến đây nữa để cho cháu yên tâm. Chú hứa như vậy. Nhớ! Không được lén lút bỏ đi đâu. Nghe chưa...”.

Quân không đến thật! Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày… chị thở phào nhẹ nhõm như người vừa cất được gánh nặng khỏi vai. Chị không còn lúc nào cũng để mắt đến thằng bé nữa. Có lẽ vì vậy nên chị không thấy nó buồn và ngơ ngác. Một tuần, hai tuần, rồi ba tuần… một đoàn xe gắn máy chạy vào sân chưa kịp dừng lại bé Nhựt đã chạy ra ngoài hét to: “Ba Quân! Ba Quân! ” Thơm ôm một chồng quần áo trẻ em. Vừa bước vào nhà trẻ, trông qua cửa sổ chị thấy nó xẻn lẻn đứng nhìn những gương mặt lạ hoắc vừa mới đến. Một người cúi xuống bế nó lên nựng nụi. Nó buồn thiu sụp mắt nhìn xuống đất. Thơm quay mặt đi che giấu nỗi xót xa và cũng như chị trốn tránh không muốn nhìn nhận lòng cảm thấy trống vắng. Như Huy Cận “Vậy đó tự nhiên mà họ lớn”. Cái “tự nhiên” sao mà thật “tự nhiên”. Đã hơn nửa đời người lẽ nào vẫn còn “tự nhiên” đến vậy. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận một nỗi nhớ da diết dày vò tâm tư chị. Một sự tiếc nuối tưởng chừng như khiến chị ngạt thở. Thằng bé mỗi ngày càng bơ phờ thấy rõ, biếng ăn, lười chơi, đêm ngủ hay giật mình. Chị chợt nhận ra mình đã quá ích kỷ. Có lẽ không nên giành giựt những gì không thể giành giựt được. Về với Quân tương lai nó sẽ tốt đẹp hơn. Quân sẽ cho nó một mái nhà riêng và những gì nó mong muốn. Thơm muốn ứa nước mắt khi nghĩ đến lúc chị phải mất nó. Nhưng chị không thể vì chị mà không nghĩ đến tương lai của nó. Chị thầm mong Quân trở lại, lần này thôi, chị sẽ nói: “Tôi thua anh rồi!” và để Quân mang thằng bé đi càng xa càng tốt. Chị sẽ khóc, sẽ đau khổ lắm nhưng rồi chị sẽ quên, sẽ lại sống như những ngày tẻ nhạt trước đó. Không có bé Nhựt và không có cả Quân. Hôm trước, thằng bé ôm con gấu nhồi bông ngồi ở bậc thềm thì chú Sáu đến, thấy chú nó hỏi: “Ba! Ba Quân đâu...” Chú cười xoa đầu nó: “Bỏ rồi! Bỏ Nhựt rồi!” Rồi chú nhìn Thơm đang đứng cạnh đó. “Con có mẹ Thơm rồi”. Vẻ đắc ý của chú khiến Thơm phải nhìn xuống đất. Chị chỉ muốn nói với chú “Cháu đã sai rồi chú ạ!”

Hai mươi chín ngày rôi Quân vắng bóng. Mẹ Hai và mẹ Tư nói như vậy còn Huế y sĩ thì nói ba mươi ngày. Thơm thì cho là ba mươi mốt ngày. Chị tin là mình chính xác nhất. Từ buổi chiều Quân mặc chiếc áo sơ mi màu xanh dương và chiếc quần xam xám đứng vịn con ngựa gỗ cho thằng bé Nhựt cưỡi với vẽ mặt nặng trĩu. Chị biết, hôm đó chú Sáu đã nói những gì chú đã hứa với chị. Chú đâu biết là giờ đây chị cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Hình như là tiếng cười của Quân và thằng bé, hình như chiếc bóng của Quân ngã dài trên mặt sân, hình như… mọi cái điều hình như thoắt ẩn thoắt hiện ở trong chị, ở nơi người đàn bà không nhan sắc đã đi quá xa tuổi dậy thì. Chị bỗng dưng khắc khoải từng ngày, mong chờ từng phút mà hy vọng thì như ánh hoàng hôn sắp tắt ở cuối ngày.

Thơm vén mấy sợi tóc loà xoà trên má, nghe tiếng trẻ nhốn nháo chị biết chúng sắp sửa từ nhà ăn đi lên. Thơm định rời cửa sổ thì bỗng nhiên chị trông thấy Quân xuất hiện trên khoảng sân đã râm mát. Chị nhìn đăm đăm không chớp mắt như sợ chỉ cần chớp mắt một cái thì dáng người vừa xuất hiện kia sẽ biến mất như ảo ảnh. Trên sân Quân đang hối hả đi vào, về phía nhà trẻ, một tay xách vali, tay kia xách mấy túi nilon nằng trĩu. Anh có vẽ bơ phờ như vừa qua một chặng đường dài. Sau phút lặng người, Thơm như sực tỉnh quay đi toan tìm thằng bé thì nó đã cùng bọn trẻ chạy vào phòng. “Nhựt! Lại đây! Ba Quân! Ba Quân!” Chị gọi nó và chỉ tay ra cửa. Thằng bé ngẩn người ra nhìn chị một chút rồi chợt hiểu, nó ù chạy ra khỏi phòng. Bọn trẻ chạy theo nó nhưng đến cửa thì cả bọn dừng lại trố mắt nhìn nó đang lao vào vòng tay của Quân. “Ba! Ba!” Các thứ trên tay Quân bị vứt xuống sân. Anh nhấc bổng nó lên miết cằm vào mặt vào cổ nó. “Ôi! Nhớ quá! Nhớ quá!” Thằng bé cười nắc nẻ. “Bỏ! bỏ rồi!” “Bỏ à! Ai bỏ... Bỏ ai...” “Ba! Bỏ! Bỏ Nhựt!” Quân bật cười. “Không bao giờ! Không bao giờ ba Quân bỏ Nhựt”. Thơm đứng bất động bên cửa sổ với đôi mắt vô hồn. Cuối cùng thì ánh sáng le lói cuối ngày cũng tắt. Cuối cùng thì Quân cũng trở lại. Chị sắp mất tất cả rồi. Có ai như chị, đợi chờ để bàn giao lẽ sống của đời mình. Có cái gì đó dâng lên ngực chị đầy ứ, tức uất. Chị bỏ đi như chạy trốn ra phía sau nhà, đứng tựa vào bồn chứa nước, úp mặt vào hai bàn tay chị khóc nức nở. Khóc thật to như ngày nào người ta cho chị hay bom rơi ngay nhà của chị mà mẹ chị còn ở trong đó, như lúc người ta đưa cho chị chiếc nón tai bèo và chiếc khăn rằn của ba chị. Những giọt nước mắt đã từ lâu lắm rồi không thoát ra khỏi đôi mắt khô khốc của Thơm giờ như nguồn nước có muốn ngăn cũng không được. “Mẹ Thơm!” Tiếng gọi của thằng bé lôi khuôn mặt đầy nước mắt của chị ra khỏi đôi bàn tay, Quân đang bế nó trên tay đứng trước mặt chị. Thơm nhìn cả hai như qua một tấm kính phủ hơi sương. “Xin lỗi!”. Quân có vẽ bối rối. “Tôi thăm thằng bé một lát… tôi biết chị phiền. Xin chị thông cảm! Tôi đi thành phố vừa về đến đây thì ghé lại. Tôi … có quà cho hai mẹ con”. Quân đặt bé Nhựt xuống đất để nó chạy đến với thơm. Chị bế nó lên, úp mặt vào vai nó thổn thức. “Anh mang nó theo đi. Nó nhớ anh lắm… Nó rất cần anh…” Rồi chị sụt sùi khóc. Những tiếng nấc bị nén lại trong lồng ngực khiến đôi vai chị run lên. Tai chị lùng bùng nhưng chị vẫn nghe được tiếng Quân rõ ràng, chậm rãi. “Đi xa lâu ngày tôi cứ nôn nóng, linh cảm có người đang chờ đợi tôi. Không phải là bé Nhựt! Vì thằng bé, tôi biết nó nhớ tôi lắm, nó rất cần tôi. Và nó cũng rất cần chị” Quân bước tới một chút như sợ Thơm không nghe được lời anh. “Tôi cũng rất cần chị, nhưng… tôi không biết chị có cần tôi hay không?"


Thơm không trả lời, người người như nhẹ hẫng lâng lâng và chị như thấy trước mặt một giò phong lan thơm ngát.