Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

HÃY NÓI LỜI LY BIỆT




Chim Cu gù thương chiều bèo bọt
bóng thời gian đâm thọt chốn ta ngồi
lục bình trôi dòng đời chảy vội
tình chống chèo bến vắng bạc vôi


Em sống trong ta cùng thinh lặng
đêm ăn nằm sương khói ngỗn ngang
vầng trăng lặn ngụp dở dang
dây câu không lưỡi nào câu đặng tình


Nói đi em
hãy nói lời ly biệt
để kiếp này ta chẳng phải đợi nhau
để anh thôi câu thời gian bến đợi
thả tình trôi nổi vào kiếp sau...

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Cảm thức về thời gian trong nhạc Trịnh



Nhiều nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn viết nên những nỗi niềm của người phụ nữ trong bước chuyển của thời gian, vạn vật.
Cách đây không lâu, trong bộ phim có doanh thu cao nhất lịch sử điện ảnh Việt Nam - Em là bà nội của anh, ca sĩ trẻ Miu Lê khoác thêm hình hài mới cho những ca khúc của Trịnh Công Sơn. Trong trẻo, mộc mạc và hiện đại, phần thể hiện của Miu Lê như kéo người trẻ xích lại gần thêm với di sản âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa Việt Nam.
Trong phim, ca khúc Còn tuổi nào cho em được khán giả đặc biệt ưa thích. Đây là một bài hát nặng hoài cảm, đầy tình mến thương của Trịnh Công Sơn dành cho phái đẹp.

“…Tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay
Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời
Tay măng trôi trên vùng tóc dài
Bao nhiêu cơn mơ vừa tuổi này
Tuổi nào ngơ ngác tìm tiếng gió heo may…”

Phụ nữ hay ngoái đầu nhìn lại, hay nhớ tiếc thời gian, hay cảm thấy sự tàn lụi cả khi đang rực rỡ thanh xuân nhất. Có những chiều bâng khuâng, nhìn lá vàng rụng, người đàn bà không khỏi chạnh lòng nhớ về thời thơ trẻ.
Thời gian lúc nào cũng vội, chỉ vài cái chớp mắt, nàng đã chẳng còn là người thiếu nữ “ngồi hát mây bay ngang trời”, với đôi tay măng, vùng tóc dài. Lời bài hát còn vương chút ngơ ngác của kẻ tỉnh dậy đã thấy mình đi qua cuộc đời tựa hồ như đi qua những giấc chiêm bao.
“…Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai
Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời
Xin cho tay em còn muốt dài
Xin cho cô đơn vào tuổi này
Tuổi nào lang thang thành phố tóc mây cài…”

Còn tuổi nào cho em họa nên hình ảnh của một người đàn bà âm thầm chải tóc khi chiểu phủ bóng, nhìn lá vàng, miên man với hồi ức. Năm tháng chưa bao giờ vì thấy phụ nữ là phái yếu mà bớt phũ phàng, khắc nghiệt. Điều đó đặc biệt đúng với những người đàn bà Việt thường có thói quen hy sinh quá nhiều vì người khác đến quên cả bản thân. Ca khúc này, vì thế, chỉ có thể được thấu cảm tận cùng bởi những người đàn bà Á châu.
Màu của thời gian, cảm thức về sự thay đổi vận hành của mùa, của vạn vật - những điều tưởng như rất trừu tượng - đã được chạm khắc vào những ca từ của Trịnh Công Sơn một cách thật gần gũi, nồng nàn.
Bởi ông đã đặt bước đi của thời gian ấy vào những hình bóng yêu kiều của những người đàn bà, của những cuộc tình, hay rộng lớn hơn là của tha nhân. Trong Diễm xưa, hình ảnh hiện tại và quá khứ của người phụ nữ như đan hòa vào nhau qua màn mưa gợi nên một nỗi hoài vọng, nâng niu:

"Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu..."
(Diễm xưa).

Chính từ sự yêu thương, nâng niu ấy, dường như có lúc, Trịnh Công Sơn muốn thời gian ngừng lại, để mái tóc người ông thương vẫn giữ mãi nét thanh xuân, để sự vĩnh cửu của thời gian ướp hương cho vẻ đẹp ấy còn mãi:

"Ru mãi ngàn năm giòng tóc em buồn
Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm
Trên mùa lá xanh ngón tay em gầy
Nên mãi ru thêm ngàn năm
Ru em từng ngón xuân nồng"
(Ru em từng ngón xuân nồng).

Hình ảnh những đôi “vai gầy” luôn trở đi trở lại trong những sáng tác của Trịnh Công Sơn. Ông thương cho những “Vai em gầy guộc nhỏ - Như cánh vạc về chốn xa xôi” (Như cánh vạc bay) hay từng “Gọi nắng trên vai em gầy - đường xa áo bay” (Hạ Trắng). Nếu vai gầy tạo cảm giác mỏng manh, yếu đuối thì những mái tóc mây luôn chảy dài bất tận trong những sáng tác của ông như một sự ám ảnh, như một khoảng trời mơ mộng, một dòng thác không cạn của những tâm sự.

Với phụ nữ, Trịnh Công Sơn dường như thừa dịu dàng. Ông lúc nào cũng tự nhún mình, trân trọng, nâng niu phái đẹp. Trong Ru tình, ông từng viết “Ru em ngồi yên nhé, Tôi tìm cuộc tình cho”. Trong Biết đâu nguồn cội, ông khiêm tốn “Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài”. Trong Còn tuổi nào cho em, Trịnh Công Sơn như thầm cầu xin tạo hóa vô tình hãy nhẹ bớt bàn tay, đừng quá phũ phàng với người đẹp: “Xin cho tay em còn muốt dài”, “Xin cho cô đơn vào tuổi này”. Người đàn ông nhỏ bé ấy thấu hiểu và thương yêu một cách sâu sắc, trọn vẹn thân phận của người đàn bà.

“…Em xin tuổi nào còn tuổi nào cho nhau
Trời xanh trong mắt em sâu
Mây xuống vây quanh giọt sầu
Em xin tuổi nào
Còn tuổi trời hư vô
Bàn tay che dấu lệ nhòa…”

Nhạc Trịnh thường tạo cảm giác buồn bã man mác. Nỗi buồn thường đẹp đẽ, mơ hồ, không rõ hình hài với một chuỗi những cảnh trí ẩn hiện trong những lớp sương dày của ký ức. Người nghe thoáng thấy hình ảnh của một đôi “mắt sâu”, một “mái tóc mây cài”, “vai gầy” hay “những ngón tay muốt dài”. Giai nhân trong nhạc Trịnh chẳng bao giờ đẹp lồ lộ ngỡ ngàng mà thường nép mình trong ký ức, chấp chới như những cơn mơ, không thể nắm bắt.

Nhạc Trịnh chưa bao giờ đánh đố ở câu từ. Những từ ngữ ông sử dụng thường rất giản dị, dễ cảm, dễ hiểu. Tuy nhiên, để đọc được “thông điệp dưới bề mặt” của tác phẩm không phải là một điều đơn giản vì người nghe thường không chạy kịp với mạch tư duy của nghệ sĩ. Nghe nhạc Trịnh, ta dễ choáng ngợp bởi một chuỗi hình ảnh, những liên tưởng có vẻ rất ngẫu hứng và ngẫu nhiên. Ca khúc như một mạch nguồn bất tận của cảm xúc, ký ức và hình ảnh, khiến người nghe – kẻ ngoài cuộc – dễ cảm thấy bị chới với, cuốn theo và đắm chìm.
Trịnh Công Sơn đã viết nên những nỗi niềm - cả vui sướng lẫn tuyệt vọng - đầy nâng niu và trìu mến về đàn bà. Để từ tác phẩm của ông, phụ nữ tìm thấy một tri kỷ rất đỗi dịu dàng.

Anh Trâm

LẠC GIỮA MIỀN HƯ ẢO




Ta và người có nợ gì đâu
sao phải chia nhau nỗi sầu lá rụng
mùa thu trong ta rơi từng nỗi nhớ
người nhặt làm chi vàng úa niềm đau


Nụ hôn buồn người đã trao
tim ta rớm máu tự hôm nào
vầng trăng trên cao tròn thiên đạo
nhốt ta vào mộng ảo khát khao

Người nhặt làm chi từng chiếc lá nát nhàu
may chị tấm áo của kiếp sau
có nợ gì đâu khi đời chia ngã
đường ta đi nào có bóng người qua

Người đã xa bóng cũng xa
mùa thu rớt lá có chi là
cây lại nẩy mầm khi xuân đến
áo lá người may sẽ nở hoa

Riêng ta lạc giữa miền hư ảo
nào có luân hồi được kiếp sau

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

LOÀI HOA BẤT TỬ
















Ta lãng đãng
trong một ngày cô tịch
nhặt lá vàng thấm đẫm hơi thu
thành phố sương mù thiu thỉu ngủ
lũ ếch nhái râm ran kể chuyện cây đa
cung hằng nào có tiếng ca
vầng trăng đã ngã lên bờ tàn phai

Có lẽ nào ta đang say
nên loài hoa bất tử bừng nở
đôi môi em hé mở nụ hôn
lở dở đất trời niềm đau nỗi nhớ
chập chờn vẽ tên

Chiếc lá cuối cùng chưa kịp rơi
trên cành nênh nổi nhìn mùa trôi
thu qua rồi lá sầu đơm nụ
thả lên trời nỗi nhớ nở hoa

Cung hằng nào có tiếng ca
vầng trăng đã ngã lên bờ tàn phai
cây đa chú cuội cũng say
ta nào có tỉnh đến ngày lá rơi
























CÁNH ĐỒNG QUÊ

ĐÔNG LA


Dường như không phải ở nơi Tạo Hóa đặt ngày tạo
Thiên lập Địa
Mà ở tận cùng sâu thẳm của ký ức
Nơi mây bông đêm đêm vẫn lót đệm ta nằm
Những hạt mưa mát lành vẫn tắm gội tuổi thơ ta trong
những giấc mơ sâu
Nơi có đêm trăng mười sáu ta đã bất chợt được chiêm
ngưỡng một vầng trăng khác cũng tròn mười sáu
Em tắm sông hay là em tắm trăng?
Những giọt trăng lung linh đậu trên mịn màng da thịt
Đêm mỏng manh không che được nữa rồi
Em chưa biết hay quên mình đã là mười sáu?
Để ta sững sờ sau bụi cây thưa
Để ta một đời tơ tưởng mộng mơ
Ôi cánh đồng quê!
xxx
Ta nhớ xiết bao con đường ghồ ghề sau làng gồng lưng
cõng những dấu chân nhọc nhằn cấy cày khuya sớm
Những số phận dầu dãi trong nắng lửa mùa hạ, trong
gió bấc mùa đông
Người thì nhẹ mà nỗi lo thì quá nặng
Đất như bị lột da vẫn không kịp cho những vụ chiêm mùa
Những vụ mùa xếp hàng chờ nhau đến lượt
Không ủ ấm được bao cuộc đời bao số phận mong manh
Khi những đám mây như bị phơi khô trong mùa hạn hán
Mặt đất cũng bị nghiêng cho mùa nước lụt tràn đê...
xxx
Ôi quê hương!
Đã bao thế hệ sinh ra như chỉ để bất hạnh
Cả cuộc đời ông lang bạt kỳ hồ vẫn không ra khỏi những
cuộc chiến triền miên
Cuộc đời cha cũng nằm gọn trong dai dẳng nỗi nghèo đói
Tuổi thơ con lăn lóc trong lam lũ nhọc nhằn
Những con chữ cũng bị đói lây trong giờ lên lớp
Ngón chân tím bầm suốt mấy mùa đông
Ôi, nếu cuộc đời có số phận thì số phận của mỗi người
chính là số phận của đất nước
Dường như ta đã trải qua cả mấy cuộc đời
Đã từ bỏ được điều lặp lại nghiệt ngã
Đôi chân lấm bùn rong ruổi khắp đó đây
Những cung điện nguy nga đền đài hùng vĩ
Những hành lang dát vàng, căn phòng dát vàng...
Nhưng sao vẫn cháy lòng đêm đêm nỗi nhớ
Nỗi nhớ về một vùng đất rách nát và ẩm mốc
Cánh đồng quê!
xxx
Sao là cánh? Sao là đồng? Sao lại Chùa Mô, Đằng Miều,
Con Cóc?
Những cái tên lạ lùng đã khắc dấu hồn ta
Nhớ vệt bùn hôm nao em làm ta lấm áo
Em đã đền nụ cười sáng cả chiều quê
Bộ ngực trinh nguyên đã rung lên dưới lớp áo mờ...
Ôi quê hương!
Ta yêu người xiết bao vẫn phải rời bỏ quê hương
Ta không thể mang theo con đường, dòng sông, gốc đa
da trâu mài nhẵn thín
Ta cũng không thể mang theo đêm trăng âm vang
tiếng cá quẫy
Nhưng ta vẫn tìm được cho riêng mình một cánh đồng quê
Ta đặt cánh đồng trong mơ, trong sách vở, trong suy tư
Giống như mẹ năm nao con trồng cây lúa
Nhưng con không bón phân gio mà bón những mảnh
tri thức
Chúng không lớn lên trong nắng mưa mà lớn lên
trong ý nghĩ của con
Ôi, có nơi đâu kỳ lạ như những cánh đồng Việt Nam
Tưởng nước không phải là nước mà mồ hôi
bao đời đọng lại
Đất không phải là đất mà thịt xương bao đời tạo thành
Mỗi ngọn cỏ gốc cây cũng rưng rưng huyền thoại
Nơi có những bà mẹ nghèo nàn nón lá áo tơi
Những bà mẹ tảo tần không một chữ cắn đôi
Lại sinh ra bác học, kỹ sư, nhà thơ, nghệ sĩ
Vóc hình mỏi mòn lại sinh những anh hùng tướng lĩnh
Bao trẻ trâu bết bùn đã đến bục vinh quang!
xxx
Ôi những bà mẹ anh hùng sớm tối lúa khoai!
Nhưng hạt giống của mẹ không chỉ mọc lúa khoai
mà nảy lên cả tùng, cả bách
Những tuổi tên đã làm rạng danh đất nước
Đất nước của những cánh đồng quê!

KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM VONG LINH LIỆT SỸ

Nguyễn Văn Thịnh 





Ngày 3 tháng 3 vừa qua, tại quán café Sỏi Đá đường Ngô Thời Nhiệm, Quận III, TPHCM, Ban Vận động thành lập Văn đoàn độc lập (mãi mà chưa biết bao giờ mới thành lập được) tụ họp phát cái gọi là giải thưởng Văn Việt lần thứ hai cho một số người.
Người dự chừng vài ba chục, xem ra già nhiều trẻ ít, đủ cả đàn ông, đàn bà, trai, gái – có thanh lịch không chỉ trời biết, nhưng đều được coi là trí thức. Người có bằng Tiến sỷ Nguyễn Quang A bao thầu kiêm việc quay phim và dẫn chuyện cho nhà thơ Nguyễn Duy quen nói hài. Nhà văn Nguyên Ngọc cười nhiều, nói ít và câu động viên đàn em con cháu có giá nhất của cụ là “Năm sau chúng ta sẽ trao giải thưởng tại Hội trường dinh Thống Nhất”! Chả hiểu cụ nắm được thiên cơ ra sao nhưng thiết nghĩ cái mốc năm sau thì chắc chắn là chưa. Cầu mong nhà văn lão thành sinh năm 1932 được trời thương cho hưởng lộc bách niên mà vẫn giai lão để được mục sở thị một nhà nước Việt Nam độc lập có chủ quyền sẽ ra sao.
Về cái giải thưởng thì khỏi phải bàn vì tiền đã có đại gia dân chủ Quang A chịu chi 290 triệu VNĐ cho hai lần giải. Tuy nhiên có đúng là tiền lần từ hầu bao của vợ ông ra thì khó mà biết được. Dù sao cũng chẳng hà lạm vào đồng tiền mồ hôi xương máu của dân thì trao giải cho ai là quyền của các vị. Ai thích cứ tìm mà đọc, khen chê tùy khẩu vị mỗi người.
Có điều sau đó, các nhà văn dân chủ bày chuyện tào lao rất vô liêm sỉ là chuyển sang nói chuyện khôi hài về nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu!
Tấm gương Võ Thị Sáu – người anh hùng chết cho muôn đời sau, cả nước từ thiếu niên đến người lớn đều biết hơn nửa thế kỷ nay với lòng cảm phục và kính trọng.
Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược phương tây thực ra phải kể từ những năm giữa thế kỷ XIX tới gần cuối thế kỷ XX mới hoàn thành. Một cuộc chiến lâu dài như thế với tương quan lực lượng giữa người tự vệ với kẻ cướp nước chênh lệch như thế, lại trong bối cảnh thế giới đảo điên như thế, thì việc giành lại được chủ quyền dân tộc, thống nhất đất nước, dựng nền độc lập, tưởng như chỉ thấy trong mơ. Niềm vui quá lớn và nỗi đau cũng lớn. Nhưng biết làm sao. Sách trời định phận cho dân tộc mình như vậy, phải nhận thôi! Hôm nay, được sống trong hòa bình, ổn định, chăm lo làm lụng học hành, mong sớm vươn lên bằng người thì càng không ai được phép quên những người vì nước quên thân. Cùng với việc mau chóng giải đi nỗi đau do hậu quả chiến tranh để lại, là việc phải thể hiện lòng kính trọng ghi ơn sâu nặng tới những người hy sinh vì Tổ quốc. Đó là đạo lý truyền thống của con người ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở nước mình. Những anh hùng liệt sỹ được nêu danh chỉ là một số tấm gương tiêu biểu hiện thân trong biển người tận trung với nước, tận hiếu với dân. Cách ứng xử thế nào là thể hiện nhân cách của từng người. Đôi chút lạ lùng thấy trong cuộc họp mặt này có một số người vào hàng lão trượng và từng có một quá trình cống hiến đáng ghi nhận. Nhìn những vẻ mặt hớn hở với những cái mồm móm mén nốc cạn chén rượu tây rồi há hốc ra cười khoái trá lại càng thấy xót xa trong số đó không ít người thản nhiên ăn mày vào dĩ vãng của đồng bào, đồng chí nhưng lại “vất cha nó quá khứ (của mình) vào đống rác bên đường mặc cho ruồi nhặng kéo đến làm tình đẻ dòi đẻ bọ chơi” (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai)! Suy cho cùng thì đó cũng là cái tình đời dung tục khi xã hội có sự đổi thay xáo trộn. Như ở Liên Xô, sau cuộc chính biến 1991, nhiều tượng đài lãnh tụ bị xô đổ, nhiều tấm gương anh hùng bất khuất trước quân phát xít tội phạm của loài người cũng bị làm vấy bẩn, như câu chuyện về người con gái Nga anh hùng Dôia bị vu là điên. Phan Huy Lê liền học đòi theo đó, mưu toan xô đổ tượng đài Lê Văn Tám. Cuối tháng 2/2005 tại Hà Nội ông ta công khai tiết lộ: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật! Tôi (PHL) đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này trong thời gian sớm nhất”! Vậy mà mãi bốn năm sau, khi dư luận bức xúc, lờ đi không được, sau khi “tiếp cận với sự việc càng rõ ràng”, ông ta xuống nước: “Lê Văn Tám không phải là tên nhân vật lịch sử có thật (đã chắc chưa?) nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hy sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng”. Bá ngọ con ong! Vậy mà ông ta còn lý sự: “Mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học, khách quan, chân thực”. Sử học là chuyện liên quan tới con người, giữa thời hiện tại vẫn có chuyện cần tranh cãi huống chi thời quá khứ hỗn độn mù mờ mà ông đòi hỏi phải khách quan chính xác, thì sao không thể hỏi: Phan Huy Lê có đích thực là con của ông Phan Huy Tùng với bà Cao thị? Cho dù y học tiến bộ đến đâu thì nguyên lý “không có gì tuyệt đối” luôn là chân lý của khoa học khách quan!
Thua keo này bày keo khác, những người cùng hội cùng thuyền với ông ta bày ra câu chuyện liệt nữ Võ Thị Sáu “chập”, “khùng”, bị những người kháng chiến lợi dụng vào việc “diệt ác phá tề”, bị bắt vẫn “nổ” nên chịu án tử hình. Bị giam trong khám tối vẫn luôn miệng hát (những bài ca cách mạng) và khi đem ra pháp trường vẫn tỉnh queo, lại hái hoa cài lên mái tóc…! Chẳng lẽ tòa án của nước đại Pháp văn minh với những tên tuổi tỏa sáng toàn thế giới như Voltaire, Rousseau, Hugo… lại dễ dàng khép án tử hình một người con gái ở tuổi vị thành niên? Tinh thần bất khuất của người con gái vùng Đất Đỏ, ngay cả các thế hệ cách mạng tiền bối lúc đó đang bị cầm tù tại nhà lao Côn Đảo cũng tỏ lòng ngưỡng mộ và lấy đó làm gương. Người viết vẫn có cảm giác rùng mình mỗi khi nghĩ tới 13 liệt sỹ bị đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Ông Nguyễn Thái Học giơ tay chào mọi người với lời nhắn lại: “Rồi thế nào cách mạng cũng thành công”! Ông Phó Đức Chính nói: “Đại sự không thành chết là vinh”! và giật băng bịt mắt đòi nằm ngửa để nhìn lên cỗ máy chém khổng lồ lao xuống cổ! Cái gì đã làm con người trí thức ở tuổi 23 can tràng như thế? Người viết chợt nhớ tới mấy câu thơ của Chế Lan Viên: “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Một mái nhà xinh rủ bóng xuống tâm hôn/ Hạnh phúc chứa trong một tà áo đẹp”. Sự nghiệp của Cụ Hồ thành công bởi bằng việc làm và tấm gương đạo đức của mình, Cụ đã khơi dậy lòng yêu nước thương dân tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam và làm cho tính người trong mỗi con người lớn vượt trội lên. Phải chăng trong hoàn cảnh đặc biệt, người ta chẳng nuối tiếc gì khi được chết vì đại nghĩa? Khi liệt nữ Dôia hiên ngang bước lên giá treo cổ là báo hiệu ngày tận số của quân phát xít! Vào lúc hừng đông ngày 23/1/1953, khi liệt nữ Võ Thị Sáu hồn nhiên trước họng súng của bầy lang sói báo hiệu chỉ một năm sau đội lính Lê dương đó nhục nhã theo nhau xuống tầu về nước!
Trở lại cuộc bù khú chén chú chén anh giữa thành phố Hồ Chí Minh đang từng ngày từng bước đi lên. Miếng ăn quá khẩu thành tàn, khi quá chén rồi chẳng còn biết mình là ai nữa, tới mức xúc phạm tới vong linh anh hùng liệt sỹ thì đâu còn gì để gọi là nhân cách nữa!
Ông Nguyên Ngọc có nhớ ông từng nói: “Cái cốt yếu của văn chương là tính nhân đạo” và “Văn chương giúp cho con người không sa xuống thành con vật”. Những lời bộ sậu các ông đang nói có mang tính nhân văn nhân đạo hay không? Và ngay tại cái quán Sỏi Đá ngày hôm ấy, không khó nhận ra bao nhiêu con người đã sa xuống cấp do ông nhà văn đàn anh cho sập bẫy! Đấy là cái tài và cũng là công lớn để đời của ông ta!
Như nhà thơ Nguyễn Duy đấy, ông ta lỉn xỉn khoa tay múa chân lè nhè kể ra những chuyện nhặt nhạnh ở đầu đường xó chợ về một người con gái đã bị lũ đầu trâu mặt ngựa trói thúc ké vào cây cọc để một bầy ma quỷ mắt xanh mũi lõ nhằm thẳng vào cái thân hình bé nhỏ tội nghiệp ấy mà nhả đạn! Cách đây ngót hai chục năm, lúc sinh thời ông Võ Văn Kiệt, mọi người còn nghèo, giới văn nghệ sỹ càng nghèo, hẳn ông Sáu thì không. Nhà thơ Nguyễn Duy được thay mặt giới tài tử văn nhân đọc một bài thơ than thân trách phận nửa nạc nửa mỡ gây cười, láu cá thọc lét mấy ông lãnh đạo. Lúc ấy nhìn Nguyễn Duy tội nghiệp mà dễ thương, tấm thân gày, da xám xạm, giọng hài hài, bộ ria cụp mà chẳng ai chê. Bây giờ vẫn con người ấy, hồng hào, béo tốt, ria nửa đen nửa bạc, cười nham nhở, giọng đầy hơi rượu nửa đểu nửa hài, thiên hạ kháo của chìm thì không biết nhưng của nổi ông ấy có hai cái nhà giữa thành phố đấy! Tất nhiên là với mấy tập thơ hài hài tếu tếu nửa thành thị nửa quê mùa mà chẳng chứa nội dung gì lớn lao và với mớ rổ rá thúng mủng chổi cùn rế rách đề thơ bán rao đầu hè quán sách thì chẳng thể có được cơ nghiệp ấy. Chỉ kẻ tiểu nhân mới ganh với người giàu. Nhưng giàu mà chẳng thành nhân là họa!
Tiến sỹ Nguyễn Quang A thoạt nhìn hao hao giống Năm Cam. Tuy là giới anh chị nhưng y sướng từ thuở nhỏ nên mày râu nhẵn nhụi dễ lừa đời và quả là y đã làm cho mấy vị đại quan chết nổi chết chìm. Còn ông A có một tuổi thơ mồ côi vất vả vẫn còn in vết hằn trên mặt thì dù có nên danh nên giá lắm của nhiều tiền nhưng chẳng có phép màu nào xóa đi, chẳng thể lừa ai! Tôi từng một thời là lính chiến, sống chết với anh em bộ đội, từng nhiều lần chôn cất anh em thương binh tử sỹ trên rừng sâu hay dưới bưng biền. Nhiều huống cảnh thương tâm lắm, chẳng nên mang nặng trong lòng. Tuy nhiên tôi cũng biết có những cái chết oanh liệt oai hùng nhưng có những cái chết hoàn cảnh cần xá cho nhau. Giữa trận mạc giao tranh, mấy ai chứng kiến được đồng đội mình ngã xuống thế nào. Gặp bạn nằm đấy thì bảo nhau tìm cách tải về thôi. Làm sao ông A biết tường tận lúc cha mình ngã xuống? Nhưng ông A đã được hưởng đầy đủ lộc đời. Tổ phụ, tiền nhân mong có đứa đích tôn nhang khói. Xã hội mong có được một truyền thống như mạch nước ngầm trong trẻo. Một nhà khoa học háo danh hiếu thắng mà thành tri kỷ tri âm với một nhà văn lão làng tài ba công tích, dọc ngang nào biết trên đầu có ai, chẳng biết liệu có bền?
Xã hội đang ở trong giai đoạn chuyển mình lắm điều bức bối. Thiếu gì chuyện để nói để bàn, bày cách cho xã hội đi lên. Người dân đủ tỉnh táo phân biệt điều hay dở, đúng sai. Nhưng các nhà dân chủ nhằm mục tiêu trái đạo, làm cho xã hội bất ổn để đục nước béo cò. Chẳng lạ gì các ông khi đương chức đương quyền thì miệng ngậm tăm, chỉ biết cúi mặt mà ăn. Nhưng khi hết thời thì tức khí bày trò đòi quyền tự do dân chủ cái mà các ông đã được hưởng chán chê! Nhà văn Đông La ví von nghe ra hợp lý hợp tình: Cái nhà dột thì chịu khó lợp chắp vá lại, ở tạm rồi cũng qua, chừng nào tích góp đủ sức đủ tiền thì làm mới lại. Chớ nghe ai phá phách banh ra giữa lúc người khôn của khó thì toàn gia lâm cảnh màn trời chiếu đất, nheo nhóc bơ vơ, chẳng thể trông chờ vào một mái ấm tình thương của ai hứa hão! Nhìn người ngẫm ta lấy đó làm gương để tự lo liệu cho mình.


Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/3/2017

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

DỊ TÍNH [1]



Nước bỏ chỗ cao, mà chảy xuống chỗ thấp – ngày đêm, nước làm việc chẳng ngừng. Trên trời, nước làm mưa, làm sương. Dưới đất, nước sinh sông, sinh lạch. Đâu đâu nước cũng thấm nhuần, tắm gội. Nước làm ích cho mọi loài. Nước luôn tuân phục, không kháng cự. Đắp đê ngăn thời nước ngừng; mở cửa cống cho thoát thời nước chảy. Nước cũng đổi hình thù vuông tròn tùy theo bình chứa. Con người thường có khuynh hướng khác hẳn. Con người luôn ưa lợi lộc, luôn luôn vị kỷ. Vì thế con người phải bắt chước làm nước. Kẻ nào hạ mình để phục vụ người, sẽ được mọi người thương mến, và không bị ai chống đối

DỊ TÍNH [1]
易 性

Hán văn:
上 善 若 水. 水 善 利 萬 物 而 不 爭, 居 眾 人 之 所 惡, 故 几 於 道. 居 善 地, 心 善 淵, 與 善 仁, 言 善 信, 政 善 治, 事 善 能, 動 善 時. 夫 唯 不 爭, 故 無 尤.
Phiên âm:
Thượng thiện nhược thủy.
Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ [2] ư Đạo.
Cư thiện [3] địa, tâm thiện uyên, dữ [4] thiện nhân, ngôn thiện tín, chính thiện trị, sự thiện năng, động thiện thời.
Phù duy bất tranh, cố vô vưu. [5]
Dịch xuôi:
Bậc trọn lành giống như nước.
Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nên gần Đạo.
Ở thì lựa nơi chốn; tâm hồn thời thâm trầm sâu sắc; giao tiếp với người một mực nhân ái; nói năng thành tín; lâm chính thời trị bình; làm việc thời có khả năng; hoạt động cư xử hợp thời.
Chính vì không tranh, nên không ai chê trách oán thán.
Dịch thơ:
1. Người trọn hảo giống in làn nước,
2. Nuôi muôn loài chẳng chút cạnh tranh.
Ở nơi nhân thế rẻ khinh,
Nên cùng Đạo cả mặc tình thảnh thơi.
3. Người trọn hảo, chọn nơi ăn ở,
Lòng trong veo, cố giữ đức nhân.
Những là thành tín nói năng,
Ra tài bình trị chúng dân trong ngoài.
Mọi công việc an bài khéo léo,
Lại hành vi mềm dẻo hợp thời.
4. Vì không tranh chấp với ai,
Một đời thanh thản, ai người trách ta.

BÌNH GIẢNG

Có nhiều cách bình giảng chương này:

a. Vương Bật, Hà Thượng công, Tống Long Uyên toàn đề cập các đức tính của nước.
b. James Legge và Duyvendak cho rằng chương này nói về sự trọn hảo.
c. Có nhiều tác giả khác như Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần áp dụng chương này vào «bậc trọn hảo», vào thánh nhân. Tôi cũng chủ trương như vậy.
Ở chương này, Lão tử khuyên các bậc thánh nhân phải bắt chước nước. Nước bao giờ cũng chảy chỗ trũng, chỗ thấp, làm ơn ích cho muôn loài muôn vật.
Bậc thánh nhân cũng phải như vậy: phải sống cuộc đời khiêm cung, từ tốn, quên mình vì người, không tự cao tự đại có như thế mới gần Đạo gần Trời. [6]
Ngoài ra thánh nhân phải:
(1) Chọn nơi ăn chốn ở, vì chỗ ăn ở ảnh hưởng rất nhiều đến toàn thể con người. (2) Phải sống thâm trầm, không phù phiếm, xốc nổi.
Tham Đồng Khế 參 同 契 của Ngụy Bá Dương 魏 伯 陽 có câu: «Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung.» 真 人潛 深 淵,浮 游 守 規 中 và giải rằng đó là luôn giữ được Nguyên thần ở Nê hoàn.[7]
3. Giao tiếp với người bằng một lòng nhân ái.
4. Nói lời thành tín.
5. Nếu cầm quyền chính, sẽ đem bình trị lại cho thiên hạ.
6. Khi làm công việc, tỏ ra có khả năng.
7. Hoạt động uyển chuyển theo thời. Chẳng những thế thánh nhân sẽ không tranh chấp với ai.
Cát Trường Canh toát lược chương này như sau: «Nước bỏ chỗ cao, mà chảy xuống chỗ thấp – ngày đêm, nước làm việc chẳng ngừng. Trên trời, nước làm mưa, làm sương. Dưới đất, nước sinh sông, sinh lạch. Đâu đâu nước cũng thấm nhuần, tắm gội. Nước làm ích cho mọi loài. Nước luôn tuân phục, không kháng cự. Đắp đê ngăn thời nước ngừng; mở cửa cống cho thoát thời nước chảy. Nước cũng đổi hình thù vuông tròn tùy theo bình chứa. Con người thường có khuynh hướng khác hẳn. Con người luôn ưa lợi lộc, luôn luôn vị kỷ. Vì thế con người phải bắt chước làm nước. Kẻ nào hạ mình để phục vụ người, sẽ được mọi người thương mến, và không bị ai chống đối.» [8]
[1] Dị tính 易 性: sống giản dị, theo tính tự nhiên.
[2] Cơ 幾: gần.
[3] Thiện 善: (a) ưa thích, chịu. (b) nên, tốt,... mới tốt. (Ví dụ: Tâm phải sâu xa mới tốt. Lời nói phải tín thành mới tốt.)
Duyvendak theo James Legge, dịch câu này như sau:
On considère:
- bon pour la demeure, le lieu (favorable)
- bonne pour le cœur, la profondeur,
- bonne pour les rapports sociaux, l’humanité
- bonne pour la parole, la bonne foi
- bon pour le gouvernement, l’ordre
- bonne pour le service, la capacité
- bon pour l’action, de saisir le moment favorable
Duyvendak, Tao Te King, p. 19.
[4] Dữ 與: sự giao tiếp.
[5] Vưu 尤: lỗi lầm oán trách.
[6] Thánh nhân dĩ khiêm thoái tự xử, dĩ ti hạ tự an, ninh khúc kỷ dĩ toàn nhân, bất hiếu cao nhi tự đại. 聖 人 以 謙 退 自 處, 以卑 下 自 安, 寧 曲 己 以 全 人, 不 好 高 而 自大 . Tống Long Uyên, Đạo đức kinh giảng nghĩa, tr. 11.
[7] Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung... Tùy chân tức chi vãng lai, nhiệm chân tức chi thăng giáng, tự triêu chí mộ, nguyên thần thường thê ư nê hoàn… 真 人 潛 深 淵, 浮 游 守 規 中 ... 隨 真 息 之 往 來, 任 真 息 之 升 降, 自 朝 至 暮, 元 神 常 棲 於 泥 丸 ... Phục mệnh thiên vân: «Hội hướng ngã gia viên lý, tài bồi nhất mẫu thiên điền. 復 命 篇 云 : 會 向 我 家 園 裏, 栽 培 一 畝 天 田. Thiên điền 天 田 là thiên tâm 天 心, thiên cốc 天 谷, nê hoàn 泥 丸) Chu dịch tham đồng khế phát huy 周 易 參 同 契 發 輝, quyển trung, tr. 18b.
[8] Xem Léon Wieger, Les Pères du Sytème Taoïste, p. 25.

NHỮNG CUỘC TÌNH BÓNG MÂY






Những cuộc tình thoáng qua
sao một đời vật vả
ta đã thành xa lạ
người cũng xa quá xa


Người đi nào vật vả
ta vẫn ngồi đợi ta
lắng nghe tình trăn trối
theo từng lá thu rơi

Những cuộc tình nông nổi
người đi nào có lỗi
riêng ta hoài sám hối
trong dòng đời trôi xa

Những cuộc tình phôi pha
trên dấu chân người lạ
ta vẫn tô màu lá
giữa mùa thu tàn phai

Những cuộc tình bóng mây
người đi không trở lại
ta vẫn còn ở đây
trông vầng trăng tròn đầy

Đêm chồng đêm khắc khoải
ta chấp vá hình hài
người đi nào có hay
tình về trong bóng mây

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

BẢN TÌNH CA LƯU LY




Ta vẫn đợi mùa hè
thèm được nghe bầy ve thỏ thẻ
những cơn mưa sinh sôi
cây cỏ đâm chồi
loài hoa lưu ly thơm từng đêm bổi hổi
vĩnh vòi
nụ hôn


Khi những đám mây bồn chồn lên xuống
gió chực bờ thương đưa giọt nhớ qua sông
đâu còn con sóng mênh mông vỗ dòng ngăn cách
ta bế bồng em trong cơn mưa lấp sấp
ướt sũng tình đêm ngóng ngày trông


Em còn nhớ hay không?
đêm rộn ràng nhịp đập ái ân
bầy ve ân cần cất tiếng ngân
bản tình ca hiến dâng
hoan lạc
giao mùa


Ta vẫn đợi mùa hè
thèm được nghe bầy ve ra rả
hát khúc tình ca
trong cơn mưa dồn vả
hơi thở em thơm lơi lả mùi hương
lưu ly
mãn khai

“Tiếng chim hót trong bụi mận gai” - Tiếng ca buồn thương mà đẹp đẽ đến nao lòng



“Bởi vì, tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại... Ít ra là truyền thuyết nói như vậy".“Truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian... Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca ấy đáng cho sơn ca và họa mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất có một không hai, bài ca phải đánh đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và thượng đế cũng mỉm cười. Bởi vì, tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại... Ít ra là truyền thuyết nói như vậy".


Đã từ rất lâu rồi, lời tựa cho cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nữ văn sĩ Colleen McCullough vẫn khiến tôi tự hỏi: “Ta đang kiếm tìm điều gì trong cuộc sống? Hạnh phúc ư? Tình yêu ư? Ta đang mỏi mắt tìm hay cố gắng trốn chạy nó?”. Mỗi lần đọc “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”, tôi lại cảm nhận vị mặn chát ở đầu môi. Tôi mơ hồ hình dung những sợi tóc vàng bay trên cánh đồng đầy gió, tiếng chuông ngân dài trong buổi chiều tàn và cây thánh giá lặng thinh nơi thánh đường tĩnh mịch. Tất cả, tất cả đều ám ảnh đến nao lòng…

“Tiếng chim hót trong bụi mận gai” kể về câu chuyện tình của Mecghi xinh đẹp và Cha xứ Ranfơ. Vì thân phận, địa vị, linh mục Ranfơ buộc phải chạy trốn cảm xúc lứa đôi. Tình yêu đối với ông có lẽ chỉ - được - phép dành cho Chúa Trời, đấng vô hình thiêng liêng mà không có chỗ đứng cho nhi nữ thường tình. Mecghi vì cố quên Cha mà đành kết hôn với người đàn ông khác - người đàn ông giống Ranfơ đến lạ lùng! Nhưng định mệnh vốn dĩ vẫn thích trêu ngươi. Tình cờ cả hai gặp lại nhau, ngọn lửa âm ỉ trong lòng bấy lâu lại bùng lên hơn bao giờ hết, họ lại yêu nhau, lại sưởi ấm trái tim nhau và cuối cùng tình yêu hóa thành bi kịch.

Trải bao nỗi đớn đau, ngọt ngào, hiến dâng và kiêu hãnh, tình yêu giúp Mecghi vượt qua định kiến, lễ giáo và cả đức tin ràng buộc con người. Mecghi yêu Ranfơ hơn sự sống, hơn cả bản thân mình! Tình yêu khó kiếm tìm giữa cuộc đời rộng lớn, nếu vụt mất đi có lẽ suốt cuộc đời không tìm lại được. Vậy nên nàng chấp nhận tình yêu không lối thoát. Nàng đã yêu một người không - được - phép - yêu, một người ở thế giới khác, thế giới chỉ có tình yêu quảng đại cho Chúa, Thánh thần và tồn tại những con chiên ngoan đạo. Để bảo vệ giọt máu của Ranfơ, Mecghi đã âm thầm hy sinh và chịu đựng. Phải chăng huyết mạch ấy chính là kết tinh những gì tốt đẹp nhất mà con người ta phải trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại của đời mình? Cả cuộc đời, cả tuổi xuân cho đến khi khi bóng chiều đổ xuống mái tóc vàng óng ả, nàng cũng chỉ tôn thờ một tình yêu duy nhất. Sự giằng xé nội tâm của cô gái đáng thương với mối tình ngoài tầm tay chợt khiến người đọc quặn thắt cõi lòng…
Nếu có ai đó kể một truyền thuyết về người con gái chỉ yêu một lần trong đời, nhưng yêu bằng tình yêu mãnh liệt nhất thế gian thì trong lòng tôi sẽ xuất hiện hình ảnh nàng – Mecghi xinh đẹp. Con chim chết đi trong bụi mận gai để lại tiếng ca muôn loài ghen tị, Mecghi cũng vượt lên nỗi đau đớn xác thân và linh hồn để chiến thắng Chúa Trời. Nỗi đau cũng chính là niềm kiêu hãnh trong nàng. Bởi có ai dám vì tình yêu mà giành giật cả linh mục – người sinh ra vốn đã thuộc về Chúa? “Chính ta đã xếp đặt số phận của ta như thế, ta không đổ lỗi cho ai và ta cũng không hề tiếc nuối về một phút giây nào trong quá khứ…”.

Giá như Cha Ranfơ chịu hy sinh địa vị, chịu từ bỏ danh phận linh mục hư vô kia để sống thực với lòng mình, thì liệu mối tình ấy có trở thành bi kịch? Dù sao Cha Ranfơ cũng là con người bằng xương bằng thịt, có những lý tưởng riêng của cuộc đời. Dẫu không phải là con chim lao mình vào gai nhọn, để yêu trọn vẹn thể xác linh hồn, nhưng cuộc đời ông ít nhiều cũng đã nếm trải hương hoa của hạnh phúc. Cái cảm giác tỉnh giấc buổi mai bên cạnh người con gái mình yêu thương, thật ấm áp diệu kì. Bình yên và cứu rỗi - đôi khi lại được gởi trao bởi những con người quá đỗi bình thường và từ những điều rất ư giản dị...
Có lẽ, cuộc sống là chuỗi dài của những sự mâu thuẫn. Nó luôn đẩy con người ta vào sự lựa chọn, hoặc cái này, hoặc cái kia, mà không cho phép sự vẹn tròn tồn tại. Nếu có sự lựa chọn vẹn toàn cho tình yêu và danh vọng, đỉnh cao địa vị và hạnh phúc đơn sơ, thì có lẽ thế gian đã trở thành thiên đường... từ rất lâu rồi. Kết thúc một sự lựa chọn cũng là lúc con người tự tạo ra cũi lồng nhốt mình vào đó, với giáo lý, với đức tin, với những điều bác ái tưởng như vĩ đại không cùng. Linh mục Ranfơ phải đối mặt với nỗi cô đơn suốt cuộc đời, cô đơn khi đối diện với bản ngã của mình, cái kết cục cô đơn vì không đủ can đảm vượt thoát xa hơn. Để đổi lấy vị trí đỉnh cao của danh vọng, đôi khi phải trả giá bằng nỗi cay đắng đến tột cùng.

Số phận của loài chim bé nhỏ mải miết kiếm tìm bụi mận gai, số phận cô gái mỏng manh đi tìm cho mình tình yêu đích thực giữa cuộc đời bao la vô tận... Mecghi, hay cũng chính là những người phụ nữ khao khát yêu thương, khao khát hiến dâng dẫu phải chịu ngàn lần cay đắng. Con chim mang chiếc gai của bụi mận cắm vào ngực tuân theo qui luật bất di bất dịch của thiên nhiên; bản thân nó không biết sức mạnh nào đã buộc nó lao vào mũi nhọn và chết mà vẫn hót. Để thế gian ngưng đọng, muôn loài lặng thinh, Thượng đế trên cao phải lắng nghe tiếng ca buồn thương mà đẹp đẽ. Thời khắc ấy tôi chợt nhận ra “lúc mũi gai xuyên qua tim, con chim bé bỏng không nghĩ đến cái chết sắp đến, nó chỉ hót, hót cho đến lúc mất tiếng đứt hơi… Nhưng chúng ta, khi lao ngực vào bụi mận gai, chúng ta biết, chúng ta hiểu. Tuy thế ta vẫn lao ngực vào bụi mận gai. Sẽ mãi mãi như thế!”…
Đình Đình