Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Người Việt Nam từ đâu đến?






Trương Thái Du 


Đất phát tích của văn minh Việt Nam hiện đại là châu thổ sông Hồng. Trước công nguyên nó vốn hoang sơ, vì cách đó 2.000 năm toàn bộ gánh lúa bắc bộ nằm dưới mực nước biển. Hồ Lãng Bạc, nơi Hai Bà Trưng quyết chiến với Mã Viện chắc chắn đã được sa bồi trong hoàn cảnh nước rút để tạo ra nền móng cho Hà Nội.

Người Việt Nam ngày nay chủ yếu là con cháu cư dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Cuối thời Tây Hán dân số hai nơi đó là 120.230 + 166.013 = 286.243 người. Năm 1932 Tản Đà viết: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.” Có tài liệu khác dẫn con số nhỏ hơn là 17,702 triệu người. Nghĩa là sau 1932 năm, dân số Việt Nam tăng từ 61,8 đến 87,33 lần. Theo một tài liệu tổng hợp nghiên cứu lịch sử dân số Trung Quốc[1], tỉ lệ tăng của họ trong khoảng tương đương với Việt Nam chỉ là 8,3 lần (500 triệu/60 triệu).

Mặt khác tỉ lệ tăng dân số Việt Nam sau hơn 2000 năm thấp hơn 3,5 lần tỉ lệ tăng dân số của quận Nam Hải thời Tây Hán, tức Quảng Đông ngày nay.
Đối tượng so sánh Dân số thời Tây Hán Dân số năm 2015 Tỉ lệ tăng
Việt Nam 286.243 92.000.000 321,4 lần
Quảng Đông 94.253 108.500.000 1.151,1 lần


Nếu ở Quảng Đông người ta chắc chắn sự tăng dân số kinh khủng như vậy là do dòng nhập cư bắt đầu từ đời Hán, 94.253 khẩu Tây Hán, đã vọt lên 250.212 khẩu thời Đông Hán. Con số ở Việt Nam phức tạp hơn, đòi hỏi các nghiên cứu sâu rộng và chính xác hơn, cũng như tham khảo kỹ lưỡng khoa học di truyền. Quyển sách này chỉ xin gợi ý vai trò của người di cư với cơ cấu dân số nói riêng và văn hóa lịch sử Việt Nam nói chung.

Dân gian Việt Nam hay nói: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”. Điều này không chắc đã sai, dù từ lúc Hai Bà Trưng bỏ mình đến khi Ngô Quyền xưng vương là chưa đến 900 năm. Nó đơn giản chỉ là thứ ca từ của dòng nhạc sến rẻ tiền, rên rỉ, sản phẩm của tư duy âm tính yếm thế, nhược tiểu. “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” khóc lóc gợi ý sự thương hại của tha nhân trên cơ sở bản ngã yếu hèn. Do đó đầu tiên nó phản bội Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai bà mẹ kiêu hùng của lịch sử Việt Nam, thà chết chứ không đầu hàng cường tặc. Bất cứ sử gia hạng bét nào trên thế giới cũng có thể đặt câu hỏi: Tại sao không phải là một ngàn năm đánh đuổi giặc Tàu?

Tuy vậy “nô lệ” hay “đánh đuổi” thực ra đều phiến diện. Nếu từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ mười, mảnh đất Việt Nam không dang tay bác ái với những người di cư yêu tự do và lao động, với các vị Hán quan lương thiện đã chọn quận Giao Chỉ và Cửu Chân làm quê hương, không tiếp thu Phật giáo đến từ biển, không học hỏi văn minh Hán; họ có thể tự cường để giành độc lập và kiến quốc được không?

Một lần nữa chúng tôi xin nhắc đến thuyết âm dương cổ điển, hay nhị nguyên đối lập như ngày nay người phương Tây định nghĩa: Nhân loại thích gọi thời gian có mặt ngắn ngủi của mỗi cá nhân trên địa cầu là đời sống, mặc dù sống là hành trình đi đến cái chết, chết vô biên mà sống thì hữu hạn. Người lạc quan và có tiền đồ thấy nửa ly nước sẽ bảo nó đầy một nửa, kẻ bế tắc luôn khẳng định đã vơi gần hết.

Theo quan điểm của chúng tôi, người Kinh ở Việt Nam hiện nay hình thành bởi ba nguồn gene và văn hóa:

1. Từ Dạ Lang, liên minh các bộ tộc Lạc Việt trong địa bàn các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam và Vân Nam hiện nay. Ở đỉnh cao nhất trong lịch sử phát triển của mình, thủ lĩnh Dạ Lang đã xưng vương, xây dựng thành quách, cung điện và những cơ cấu chính trị xã hội tiền phong kiến. Xung đột Dạ Lang và Ba Thục ở Hoa nam trước Công nguyên đã phản ánh vào truyền thuyết An Dương vương. Bắt nguồn từ Dạ Lang, ngôn ngữ Việt gọi quốc gia là nước, ký ức xa nhất là 3.400 năm từ thời bị giặc Ân đánh ở Hồ Bắc và Hồ Nam vẫn tồn tại trong truyện cổ tích Thánh Gióng. Người bản địa Lạc Việt ở châu thổ sông Hồng và người Dạ Lang ở Cửu Chân được ghi nhận rất rõ ràng trong Hán sử. Nó chứng thực về mặt chủng tộc và văn hóa, người Việt cổ và người Dạ Lang rất gần gũi. Truyền thuyết Dạ Lang cho rằng một trong những dòng vương hầu của họ có cùng tổ tiên với các vua Sở, mười tám đời vua Hùng bước ra từ đây. Âm Hùng chính là họ của vua Vàng thần thoại Trung Hoa và cũng là họ gốc của cao tổ hoàng gia Sở quốc.

2. Từ nước Việt thời Chiến Quốc. Sau khi suy tàn, quý tộc nước Việt một thời xưng bá ở Trung Nguyên trôi dạt dần về phương nam, đến Mân Việt (Phúc Kiến) rồi Nam Việt (Quảng Đông). Sau năm 111 BC họ lại tiếp tục những cuộc hải hành khó khăn đi về phương nam tìm kiếm tự do và ghé vào trước hết là Cửu Chân, sau đó mới đến quận Giao Chỉ. Họ mang theo totem rái cá và tục thờ chó xa xưa của tổ tiên mình, xâm mình, nhuộm răng đen và ăn trầu theo đó mà đi vào văn hóa Việt Nam. Lịch sử chủng Việt Chiến Quốc kéo dài từ 2.500 đến 3.000 năm.

3. Từ chính Trung Hoa, nguồn gene và văn hóa Hán trong quan binh viễn chinh, tù chính trị bị lưu đày. Họ trấn đóng ở quận Giao Chỉ và Cửu Chân đời này sang đời khác hơn một ngàn năm. Chưa kể quan lại Bách Việt gốc Hoa và người lai giữa Hoa tộc với Bách Việt tộc di cư xuống. Họ khiến ngôn ngữ Việt xuất hiện rất nhiều từ đẳng lập Hán Nôm như Chia Ly, Thân Mình, Hiền Lành, Quái Gở… Hơn nữa, những đợt di dân cách nhau hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm sẽ làm phát sinh những từ ghép đẳng lập Hán Việt – Hán Việt nhưng một âm là Hán cổ đã Việt hóa và biến đổi giọng đọc, và một âm Hán trung đại, như Hận Thù, Tranh Đấu, Hoan Hỉ[2]… Đáng kể nhất là tiềm thức của gene Hán có đúng 4.000 năm lịch sử! Nó sẽ phủ nhận bằng trực giác và cảm tính bất cứ luận chứng nào cho rằng lịch sử mảnh đất Việt Nam không thể dài đến mức ấy.

Lịch sử Việt Nam nên được nhìn bằng tư duy tích cực và thấu hiểu bản chất tương hợp biện chứng của văn hóa và di truyền. Sử học giành độc lập dân tộc đầu thế kỷ 20 đã thần thoại hóa cổ sử để xây dựng các biểu tượng siêu nhiên, nhằm động viên đại chúng và trao cho nhân dân sức mạnh tinh thần của cha ông họ. Tuy là bước lùi so với Khâm Định Việt Sử của nhà Nguyễn, nhưng nó đã giúp người Việt đồng lòng đứng dậy cởi ách nô lệ. Đáng lẽ sử học Marxist sau đó phải trở về với hiện thực, song họ không làm thế. Học thuyết thoát Hán (de-Sinicization) đã được thiết kế công phu bởi nhu cầu địa chính trị, tầm nhìn chỉ năm bảy chục năm. Sách sử tiếp tục huyền thoại hóa, bản địa hóa, tín ngưỡng hóa cổ sử, bất chấp mọi hậu quả. Phong trào bài Hoa – thoát Trung điên cuồng ngoài xã hội hiện nay là gì, nếu không phải sản phẩm của sử học chính thống Việt Nam, bắt đầu bằng Trần Trọng Kim – một trí thức uyên bác nhưng chấp nhận làm tay sai thực dân và sau đó là con rối của Phát Xít Nhật. Việt Nam Sử Lược là quyển sử bằng quốc ngữ đầu tiên nhưng hết sức phi khoa học và thiếu trung thực: Đưa hết truyền kỳ cổ tích hoang đường vào cổ sử, kéo lịch sử Việt Nam đến tận năm 2.897 BC. Trắng trợn biện hộ cho quá trình xâm lược Việt Nam của người Pháp, bẻ cong tất cả những sự kiện liên quan đến các quan Tây dù mới chỉ xảy ra vài chục năm.

Những sử gia chân chính và các nhà chính trị có tầm nhìn nên hiểu nguy cơ tự cô lập, bế quan tỏa cảng từ thời Minh Mạng – Tự Đức đang có khả năng hồi sinh ít nhất là trong dư luận xã hội. Biết đâu một lần nữa nó lại đưa cả dân tộc trở về những năm tháng đen tối, nếu không kịp thời hóa giải.

Cách đối xử với quá khứ của mỗi dân tộc sẽ định hình tương lai chính họ. Nếu yêu chuyện cổ tích hơn các bài học thực tế, họ sẽ chỉ gặt hái được những giả tưởng và ảo ảnh mà thôi./.

——————————————————————–

[1] http://www.china-profile.com/data/fig_pop_0-2050.htm

[2] Tham khảo: http://dvtuan63.blogspot.com/2013/07/nguon-goc-tu-kep-han-viet-viet-ong-nghia.html

HỌ NHÀ… ĐẠO!



ĐẶNG HUY GIANG


Trên báo Văn nghệ số 7 ra ngày 14/2/2009, tác giả Đặng Khánh Cường có bài "Một bài thơ Việt được dịch từ một bài thơ tiếng Việt" chỉ rõ: Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng đã đạo một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh.
Để "nói có sách mách có chứng", Đặng Khánh Cường đã trích 2 đoạn thơ để độc giả có điều kiện đối chứng. Và Đặng Khánh Cường kết luận: "Nếu ví bài thơ "Khúc hát tháng ba" của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh như một ngôi nhà, thì Nguyễn Ngọc Hưng đã chủ tâm dỡ ngôi nhà này ra, dùng tay nghề dựng thành một ngôi nhà khác.
Nhưng tiếc thay từ cột, kèo, đòn tay, cửa chính, cửa sổ… còn nguyên dấu tích của ngôi nhà cũ, chứng tỏ tác giả này không vô tình một chút nào khi biến cái của người khác thành cái của mình".
Kể ra, việc làm của Nguyễn Ngọc Hưng chưa... cao tay. Chỉ trong năm 2008 và 2009, chí ít tôi cũng tìm ra được hai bài thơ của hai nhà thơ đã "mượn" một cách lộ liễu điển xưa tích cũ vốn đã rất nổi tiếng và rất sâu sắc. Để minh chứng cho nhận định này, chúng tôi xin dẫn ra dưới đây để bạn đọc cùng suy xét.
Đây là bài thơ "Đêm" của nhà thơ Tô Nhuần đã đăng trên Tạp chí Nhà văn vào khoảng giữa năm 2008:
Đêm

Gặp người đi đường

Tay xách đèn soi bước đi chậm trễ

Lại gần
Mới biết
Đó là người hỏng mắt
Buột miệng
Tôi hỏi:
- Tại sao dùng đèn?
Người cười:
- Để người sáng mắt
Khỏi va vào bóng đêm.
Bài thơ này, theo tôi là được "phiên ngang", rút ngắn và nói theo chuyện "Giáo lý tối thượng" (trích từ "Giai thoại thiền", NXB Thuận Hóa - 1999):
"Thời xưa ở Nhật, người ta thường dùng những chiếc đèn lồng sườn tre phất giấy trong có gắn đèn sáp. Một đêm nọ, một người mù tới thăm bạn. Khi về, người bạn biếu một đèn lồng để soi đường đi. Anh ta nói:
- Tôi không cần đèn. Đối với tôi, tối và sáng cũng như nhau.
Người bạn đáp:
- Tôi biết anh không cần đèn để soi đường, nhưng nếu anh không cầm một cái, người khác có thể chạy đụng vào anh đó. Anh nên cầm một cái.
Người mù ra về với một chiếc đèn lồng. Anh ta đã đi khá xa, một người chạy đụng vào anh ta.
- Coi kìa, anh đi đâu vậy? - Anh ta than phiền với người lạ - Bộ anh không thấy đèn của tôi sao?
Người lạ đáp:
- Đèn sáp của anh tắt queo rồi, anh ơi!".
Còn đây là bài thơ "Khi cô gái ném đứa con..." của nhà thơ Trần Nhuận Minh đã đăng trên Tạp chí Thơ số 2 năm 2009:
Khi cô con gái ném đứa con vừa sinh vào lòng thiền sư

"Đây là con ông, ông hãy nuôi nó!"

"Thế à?" - Thiền sư chỉ nói vậy thôi và nâng đứa bé trên tay…

Khi đứa bé lớn lên thành một chàng trai
Có người đàn ông đến đòi con: "Tôi mới là bố nó!"
"Thế à?" - Thiền sư chỉ nói vậy thôi và đứng nhìn theo
Cho đến khi hai cha con người kia khuất vào trong xóm ngõ…
Bài thơ này, theo tôi cũng là được phiên ngang, rút ngắn và nói theo chuyện "Thế à?" (cũng trích từ "Giai thoại thiền" của Viên Đức, NXB Thuận Hóa -1999):
"Thiền sư Haikuin được những người chung quanh ca tụng là người sống trong sạch. Một gia đình người Nhật có một tiệm bán thực phẩm gần nơi Hakuin ở.
Họ có một cô con gái xinh đẹp. Bất ngờ, một hôm cha mẹ cô gái khám phá ra cô có thai.
Việc này làm cha mẹ cô gái nổi giận. Cô gái không chịu thú nhận người đàn ông cô chung đụng là ai, nhưng sau bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Hakuin.
Phẫn nộ vô cùng, cha mẹ cô gái đến ngay vị thầy này. Hakuin chỉ thốt lên vẻn vẹn hai tiếng: "Thế à?" rồi thôi.
Sau khi đứa bé sinh ra, nó được mang tới trao cho Hakuin. Lúc đó, Hakuin đã mất hết danh dự, nhưng việc này không làm Hakuin buồn. Hakuin săn sóc đứa bé rất tử tế. Hakuin xin sữa của những bà mẹ hàng xóm và những đồ dùng cần thiết cho đứa bé.
Một năm sau, cô gái không còn chịu đựng được nữa. Nàng nói sự thật với cha mẹ nàng rằng: Người cha thật sự của đứa bé không phải là Hakuin mà là một thanh niên bán cá ngoài chợ.
Lập tức, cha mẹ cô gái đến ngay Hakuin xin Hakuin tha lỗi và xin đứa bé về.
Hakuin ưng thuận. Khi trao lại đứa bé, Hakuin cũng chỉ thốt hai tiếng:
- Thế à?".
Giá như hai nhà thơ khi viết hai bài thơ trên chỉ cần ghi thêm mấy chữ: “Theo Giai thoại thiền", chắc hẳn đã không có bài báo này. Nhưng nếu họ làm thế thì làm gì có... "họ nhà... đạo" nữa nhỉ?










Nguồn: Văn Nghệ Công An

NGÀY ĐẾN RỒI ĐI...





Ngày đến rồi đi chẳng vay mượn chi
nên có gì đâu để ta phải trả
đời cứ thế ngô nghê đến lạ
dấu chân qua trôi dạt bến bờ xa


Thấp thỏm đứng ngồi những hồn ma
tà dương mở cửa mộng bước ra
trăng mang bóng về cười chớt nhả
ta mượn tình em tắm phôi pha

Một cánh vàng ươm nở trả vay
sắc hoa đỏ thắm máu tim này
em ơi hãy đến cùng ta hái
duyên nợ ba sinh vẹn hình hài

Ngày đến rồi đi dưới gót giày
trả vay ai hẹn ở tương lai
bóng kéo trăng gầy xây xẩm mộng
lô nhô nấm mộ tạ ơn ngày...

THÁNG NĂM...








Em có về thăm đàn cò trắng
chiều tháng năm mưa ướt chỗ nằm
gió lên đồng thơm hoa cúc dại
ngày còn say tà áo em bay


Bàn tay kỉ niệm run run nắm
nỗi nhớ thì thầm dưới bóng râm
em ngồi đếm đàn cò về tổ ấm
đếm đi đếm lại vẫn thừa ta


Em nghiêng mái tóc thả tình qua
bên bờ lau sậy ngơ ngẩn hoa
có con cò nhỏ trên cành nhó
vỗ cánh kêu to : có có cò


Hạt mưa lưa thưa chiều to nhỏ
đàn cò về tổ đã đủ chưa?
ta đếm thời gian hoài thừa mứa
mà sao mãi thiếu tháng năm xưa.

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Đối thoại bao giờ cũng hơn… đối chọi

Nếu câu nói: “Không sợ đối thoại và tranh luận” của ông Thưởng được các báo chí tường thuật đúng, thì vẫn chưa tránh được bệnh “kiêu ngạo cộng sản” mà Lê Nin đã phê phán gần thế kỷ trước đây. Đáng lẽ ông Thưởng phải nói: “muốn đối thoại và tranh luận” bởi vì muốn và không sợ về ngôn ngữ của tiếng Việt hoàn toàn khác nhau.

Nói “không sợ đối thoại” tức là chưa nhận thức được rằng đối thoại là con đường phát triển của tư duy, mọi người đều cần, chứ không phải là việc đối phó với nhau vì áp lực. Nói không sợ đối thoại, tức là tự cho mình cái quyền cho phép hoặc không cho phép đối thoại. Quyền tư duy là quyền của con người.




Đối thoại bao giờ cũng hơn… đối chọi

Tác giả: Tô Văn Trường

Các hiệp sĩ ngày xưa không cứu được đất nước, không bảo vệ được nhân dân, đành cố gắng bảo vệ một chút mái ấm gia đình và cùng bạn bè rong chơi “một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ” (Trịnh Công Sơn) … đành đổ thừa cho sự may rủi của số phận cá nhân và dân tộc trước các ngã rẽ cuộc đời.

Công luận bán tín, bán nghi, khi nghe ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu ngày 18/5/2017 “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

Đối thoại bao giờ cũng hơn đối chọi để tháo gỡ khó khăn và tìm lối ra cho đất nước cho nên có ý kiến hoan nghênh Đảng muốn đối thoại, dù là công khai hoặc thậm chí không công khai, miễn là chân tình đối thoại, đừng biến đối thoại thành thủ đoạn tuyên truyền hoặc câu giờ.

Đối thoại và tranh luận là những hoạt động thường nhật không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống tinh thần, tri thức và sản xuất,… của các cộng đồng xã hội từ muôn đời nay.

Nhà cầm quyền ở các nước tiên tiến đối thoại với người dân và giới trí thức là chuyện xưa như trái đất chẳng có gì phải ầm ĩ vì họ sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật do chính người dân tạo dựng và thông qua lá phiếu của mình. Vậy mà đến nay, ở Việt Nam người đại diện cho thể chế nhà nước mới công khai về chấp nhận đối thoại và tranh luận (mới ở mức không sợ!) khiến công luận quan tâm sâu sắc và gợi lên nhiều luồng suy nghĩ, chứng tỏ đây là một vấn đề rất quan trọng.

Mất lòng tin là mất tất cả

Cách đây khoảng 15 năm, thời còn ông Nguyễn Đức Bình được Bộ Chính trị giao cho việc thành lập Tạp chí tranh luận và trực tiếp làm Tổng biên tập, song thực tế không triển khai được.

Nếu câu nói: “Không sợ đối thoại và tranh luận” của ông Thưởng được các báo chí tường thuật đúng, thì vẫn chưa tránh được bệnh “kiêu ngạo cộng sản” mà Lê Nin đã phê phán gần thế kỷ trước đây. Đáng lẽ ông Thưởng phải nói: “muốn đối thoại và tranh luận” bởi vì muốn và không sợ về ngôn ngữ của tiếng Việt hoàn toàn khác nhau.

Nói “không sợ đối thoại” tức là chưa nhận thức được rằng đối thoại là con đường phát triển của tư duy, mọi người đều cần, chứ không phải là việc đối phó với nhau vì áp lực. Nói không sợ đối thoại, tức là tự cho mình cái quyền cho phép hoặc không cho phép đối thoại. Quyền tư duy là quyền của con người.

Lần này, người dân không biết Đảng đã có chủ trương “đối thoại và tranh luận” hay đây mới chỉ là chủ trương của Ban Tuyên giáo Trung ương? Người dân, đặc biệt là giới trí thức có quyền nghi ngờ về thiện chí lắng nghe, đối thoại của Đảng vì không ít lần Đảng hô hào góp ý (ví dụ sự kiện góp ý sửa Hiến pháp 2013) sau khi nhận bản kiến nghị thẳng thắn, tâm huyết của 72 vị trí thức ký tên đại diện cho hàng chục nghìn người dân thì bị người có thẩm quyền “chụp mũ” cho là “tự diễn biến, tự chuyển hóa” vv…Và nhiều thư kiến nghị tập thể, kể cả của các vị lão thành cách mạng về những vấn đề quốc kế dân sinh đều rơi vào “im lặng đáng sợ”, rồi một số người bất đồng chính kiến bị ‘trấn áp” làm khó dễ trong cuộc sống… cho nên dân mất lòng tin cũng không có gì lạ!

Trong cuộc sống, tôi đã được gặp một số vị trí thức thực sự tài năng, tâm huyết hay nói như người đời, họ là những người rất “khó chịu” vì họ cứ làm cái việc đánh thức thiên hạ, không cho người ta ngủ. Nhưng rồi, họ cũng chán nản thời cuộc, xếp bút nghiên, để du ngoạn, ngắm trăng, đánh cờ vì cho rằng ý kiến của mình có đưa ra cũng như “ném đá, ao bèo”! Họ chia sẻ và đồng cảm với cụ Nguyễn Khuyến thời xưa:

“Câu thơ viết, đắn đo chẳng viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa”.

Đối thoại & tranh luận cái gì? như thế nào?

Đối thoại & tranh luận đều nằm trong nội dung của phản biện, là một khâu/bước không thể thiếu trong việc thẩm định một đề xuất hay ý tưởng, đánh giá kết quả giải quyết thực hiện (cái đạt/chấp nhận được và không được) của một hay một số vấn đề ở một cấp độ hay lĩnh vực nhất định.

Đối với tầm quốc gia đối tượng để phản biện là một chủ trương, quyết sách hành động,… cũng như đánh giá kết quả thực hiện một vấn đề hay lĩnh vực ở một giai đoạn nhất định. Và từ đó, phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn chứng luận cứ lý thuyết và thực tiễn,… tạo ra sự thành công cũng như xác định được những yếu tố dẫn đến thất bại (không đạt, không chấp nhận được), cuối cùng phải mở ra được điều kiện cho sự phát triển tiếp tục những kết quả thành công và đề xuất giải pháp ngăn chặn và khắc phục các yếu tố sai lầm, gây tác hại.

Để có được cơ sở cho phản biện hay đối thoại và tranh luận để xây dựng xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền trước tiên là khuyến khích, bảo vệ và lắng nghe để có được tất cả các phát biểu khác nhau của các cá nhân hay tập thể với trình độ hiểu biết ở tất cả các mức độ, từ đơn sơ, mộc mạc, đến sâu sắc, phức tạp hay gai góc, thậm chí trái chiều,… không bị cản trở và hạn chế bởi nguồn thông tin, tài liệu làm căn cứ và tham khảo.

Nếu đối thoại và tranh luận là chủ trương của lãnh đạo Đảng và Nhà nước thì cần công khai văn bản nào, Ai ký? Ban Tuyên giáo cần đề xuất một chủ trương chính thức và thể chế hoá phương thức thực hiện.

Đàm đạo với một số vị trưởng thượng, trí thức lão thành cách mạng cũng suy tư đặt vấn đề, Đảng định đối thoại về những chủ đề gì, với những ai, nội dung đối thoại có công khai minh bạch cho xã hội theo dõi và đánh giá hay không? Đó là vấn đề chính là những điều giúp cho đối thoại đi vào thực chất, không phải là một kiểu PR.

Đề tài đối thoại có thể xuất phát từ hai phía. Tốt nhất là Đảng chủ động đề xuất đề tài, hoặc hỏi dân muốn đề tài nào? Để tránh đục nước béo cò, xuyên tạc, bị lợi dụng… theo tôi, Đảng nên chủ động gặp trước một số trí thức có uy tín, bàn trước với họ nên tiến hành đối thoại như thế nào? Hỗ trợ cho đối thoại là nên sớm có nhiều tự do hơn và tiến đến có tự do thật sự cho báo chí. Dù bất cứ cách làm nào, cũng đòi hỏi Đảng phải thực lòng.

Trong bối cảnh đất nước ta hiện nay, sỹ phu ở cả trong và ngoài nước vẫn trăn trở, “vắt óc” nghĩ suy, kiến nghị, góp ý kiến với những người có thẩm quyền đó là hồng phúc của đất nước.

Trong đối thoại và tranh luận điều quan trọng nhất là biện luận khách quan thuyết phục cao. Muốn phản biện có ý nghĩa, có tác dụng xây dựng tích cực, thì người/cơ quan phản biện và người/cơ quan nhận phản biện (đặc biệt là Ban Tuyên giáo và cơ quan an ninh tư tưởng) phải có văn hóa phản biện, biết phản biện, và biết hoan nghênh, biết lựa chọn tiếp nhận phản biện khách quan, thuyết phục. Hiểu và làm được điều đó sẽ luôn đem lại lợi ích cho sự phát triển của toàn xã hội và nâng cao uy tín của chế độ thì có gì phải sợ như ông Võ Văn Thưởng đã nói.

Những trí thức tài giỏi thực sự, có nhiều đóng góp cho đất nước cũng chính là “hiền tài và hào kiệt”. Họ rất tự trọng, luôn có ý thức tự hoàn thiện mình và phấn đấu không ngừng, luôn hướng tới các “chân trời mới” để khám phá và cống hiến.
Tuy nhiên, không bao giờ có “chân trời thực” cả, vì thế đó chỉ là hướng đi để người trí thức và các bậc hiền tài, hào kiệt dốc sức vươn tới mà thôi. Cả đời người cũng chẳng ai có thể đi tới chân trời đó cả! Nhưng đó vẫn là động lực để người trí thức sống lạc quan và hết mình cho sự hưng thịnh, hùng cường của đất nước. Đó cũng là điều chúng ta ngưỡng mộ và tôn vinh họ.

Thế nhưng ngày nay, sự phát triển của bản lĩnh ấy có gặp trở ngại, do thiếu sự trân trọng bảo đảm quyền tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận của con người. Một số người cầm quyền muốn mọi người phải nhất theo mệnh lệnh có sẵn. Rất may là thực tế cuộc sống đang diễn ra đúng như giáo sư Hoàng Tụy đã viết, tôi nhớ đại ý như sau: “Điều kỳ diệu là trong trí thức và trong các tầng lớp nhân dân ta, những tấm lòng yêu dân, yêu nước, nhưng ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ có nhiều, chỉ miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe, đó là niềm hy vọng và niềm tin của chúng ta”.

Lời kết

Không phải ngẫu nhiên, mà ông Võ Văn Thưởng phát biểu mạnh mẽ như viện dẫn ở đầu bài báo này. Biện chứng không chỉ tồn tại trong một thời gian mà thôi đâu, nếu Đảng CSVN đã thành công trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đã có một Nhà nước, người ta không bao giờ quên tác nhân quyết định của thành công đó đến từ đâu, đó là biết kết hợp nội tình với tình hình quốc tế, nhưng sự kết hợp đó phải do những đầu óc sáng suốt thực hiện.

HÈ...





Nắng đổ lên tóc những gam màu
mùa hè sáng -tối, nóng -lạnh
bầy ve lanh chanh
gọi sầu


Ánh mắt ký ức đỏ quạch
cành phượng đu đưa khoe những vết mưa bầm
gió lưa thưa chạy trên cánh đồng xanh mướt nỗi nhớ
mùa chia tay không hình hài

Trong bóng tối trung hòa sợi tóc bạc hắt lên màu tức tưởi
những bông hoa bưởi lộ dưới ánh trăng
quyến dụ lũ côn trùng ân ái
lọt qua cửa ngày
hơi thở mùa hè cháy giấc mơ tôi

Tiếng chuông nhà thờ đổ vội
tội lỗi rơi trong sám hối góc đời
không có thanh âm của em -của tôi
xỏ xâu tiếng gọi đục ngầu sầu ve

SỰ THẬT VỀ VIỆN PHAN CHU TRINH, PHE NGUYỄN THỊ BÌNH – CHU HẢO, VÀ SỨ QUÂN CÁT CỨ Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG -





I. Diễn biến thực tế của việc thành lập Viện Phan Chu Trinh


Ngày 07/02/2017, ở thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, một tổ chức mang tên Viện Phan Chu Trinh được thành lập.

Cho đến nay, Viện Phan Chu Trinh vẫn chưa có website. Vì vậy, những thông tin chính thức về tổ chức này chỉ được lấy từ ba nguồn. Thứ nhất là diễn từ của ông Nguyên Ngọc trong buổi lễ ra mắt Viện Phan Chu Trinh, được đăng trên trang Văn Việt, website của Văn đoàn Độc lập:

http://vanviet.info/…/dien-tu-cua-nh-van-nguyn-ngoc-trong-…/

Tiếp đó là hai bài báo, một trên báo điện tử Dân Trí, một trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn bản điện tử, thuật lại lễ ra mắt của Viện hôm 07/02:

_ “Hội An: Ra mắt Viện Phan Chu Trinh”:

http://dantri.com.vn/…/hoi-an-ra-mat-vien-phan-chu-trinh-20…

_ “Viện Phan Châu Trinh sẽ phát huy di sản tinh thần nhà khai sáng”

http://www.thesaigontimes.vn/156646/a.html

Ngoài ra, ngày 18/02, Salon Văn hóa Café Thứ Bảy tại 19B Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM có tổ chức một “buổi café và đối thoại” mang tên “Viện Phan Chu Trinh & Vai Trò Trong Xã Hội Hiện Đại”. Gương mặt được mời đối thoại là ông Nguyên Ngọc, người chủ trì sự kiện là ông Nguyễn Văn Trọng, cả hai đều là thành viên Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh.



II. Những sự thật mà ít người để ý



1. Người của Viện Phan Chu Trinh chính là người của Đại học Phan Chu Trinh, Quỹ Phan Chu Trinh và Viện IDS

Khó có thể nói rằng Viện Phan Chu Trinh có phải là một tổ chức mới hay không. Vì trong thực tế, hầu hết nhân sự chính thức của tổ chức này trùng khớp với nhân sự của Đại học Phan Chu Trinh (vừa giải thể), Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh và Viện IDS.

Cần nhớ rằng Đại học Phan Chu Trinh thành lập năm 2007, và Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh thành lập năm 2008, khi thành phố Hội An đang dưới quyền ông Nguyễn Sự, đương kim Phó Chủ tịch Hội đồng Viện Phan Chu Trinh. Còn Viện Nghiên cứu & Phát triển (IDS) thành lập năm 2007, đặt trụ sở tại số 53 Nguyễn Du, nơi ông Chu Hảo, một Phó Chủ tịch khác của Viện Phan Chu Trinh, đặt trụ sở NXB Trí Thức.

Nhân sự hiện tại của Viện Phan Chu Trinh bao gồm những gương mặt sau:



a. Chủ tịch Danh dự:

_ Bà Nguyễn Thị Bình, cháu gái ông Phan Chu Trinh, cựu Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, cựu sáng lập viên Đại học Phan Chu Trinh



b. Chủ tịch Hội đồng Viện:

_ Ông Nguyên Ngọc, Ủy viên Hội đồng Quản lý Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Phan Chu Trinh, cựu thành viên Viện IDS



c. Phó Chủ tịch Hội đồng Viện:

_ Ông Chu Hảo, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ, Giám đốc NXB Tri Thức, Phó Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, cựu Phó hiệu trưởng Đại học Phan Chu Trinh, cựu thành viên Viện IDS

_ Ông Nguyễn Sự, cựu Bí thư Thành ủy Hội An, cựu Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hội An



d. Ủy viên Hội đồng Viện:

_ Ông Vũ Thành Tư Anh, cựu thành viên Hội đồng Khoa học Đại học Phan Chu Trinh

_ Ông Vũ Ngọc Hoàng, cựu Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

_ Ông Lê Tiến Công, cựu Bí thư Chi đoàn Đại học Phan Chu Trinh

_ Ông Phạm Vĩnh Cư, người nhận Giải Dịch thuật 2009 của Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh

_ Ông Huỳnh Như Phương, Ủy viên Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh

_ Ông Bùi Văn Nam Sơn, Ủy viên Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, thành viên Hội đồng Khoa học Đại học Phan Chu Trinh, người nhận Giải Dịch thuật 2007 của Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh

_ Ông Nguyễn Văn Trọng, Ủy viên Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh

Ngoài ra, còn có TS. Trịnh Văn Định, TS. Phan Hồng Giang, TS. Nguyễn Đức Lộc và nhà báo Võ Thị Mai Nhung.



2. Viện Phan Chu Trinh được thành lập để giữ khu đất vàng của Đại học Phan Chu Trinh

Trong thực tế, những người sáng lập Viện Phan Chu Trinh đã ém nhẹm đi một sự thật. Đó là mới đây, Đại học Phan Chu Trinh, do họ sáng lập và điều hành, đã phải giải thể. Hội đồng Quản trị trường đã đi đến quyết định này do trường vẫn quá thiếu sinh viên, trình độ sinh viên quá thấp, và phải bù lỗ liên tục sau 10 năm hoạt động, dù đã dựa dẫm vào nguồn tiền tài trợ của rất nhiều bên.

Trong hoàn cảnh này, phe Nguyễn Thị Bình – Chu Hảo, thế lực đứng đằng sau Đại học Phan Chu Trinh và Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, đã buộc phải gấp rút thành lập Viện Phan Chu Trinh như một kế ve sầu thoát xác. Trụ sở của Viện chẳng ở đâu khác, ngoài khu đất của Đại học Phan Chu Trinh. Cần nhớ rằng đây là một khu đất vàng nằm giữa khu du lịch Hội An, mà thời còn tại vị, ông Nguyễn Sự đã giao cho phe Nguyễn Thị Bình – Chu Hảo, tức phe của ông.

Ngoài việc quên báo tử cho Đại học Phan Chu Trinh, những người sáng lập Viện Phan Chu Trinh cũng quên không giải thích xem vì sao một viện nghiên cứu lại cần một khu đất rộng như thế.




3. Quảng Nam – Đà Nẵng đang trở thành một tụ điểm của những gương mặt chính trị chuyên mượn hoạt động văn hóa – nghệ thuật để bành trướng

Trong đó, phải kể đến những lực lượng sau:



a. Cánh Hậu Hiện đại

Ít ai biết rằng Quảng Nam – Đà Nẵng đã vượt qua Hà Nội và Sài Gòn, để trở thành thị trường buôn bán các sản phẩm nghệ thuật hậu hiện đại lớn nhất Việt Nam. Đây cũng là nơi nhiều hoạt động văn hóa – nghệ thuật lớn thuộc khuynh hướng này, như trại sáng tác, thường xuyên được chọn làm địa điểm tổ chức. Cần nhớ rằng khuynh hướng hậu hiện đại qui tụ, hoặc được cổ vũ bởi không ít gương mặt hiện diện trong các phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam – như Bùi Chát, Lí Đợi, nhóm Mở Miệng, Nguyễn Hưng Quốc, Tuấn Khanh, Nhã Thuyên… Trong thực tế, khuynh hướng này chỉ làm ăn phát đạt ở Việt Nam sau khi được trang Tiền Vệ – một website của các nghệ sĩ chống Cộng lưu vong – nhập khẩu và dắt mối buôn bán.

Trong cánh hậu hiện đại đang chọn Quảng Nam – Đà Nẵng làm tụ điểm gặp mặt, một trong những đường dây có tiềm năng phát triển lớn là CUCA, tổ chức tự xưng là “Mô hình Giáo dục, Nghiên cứu và Thực hành Nghệ thuật Độc lập”. Ngay từ khi thành lập, CUCA đã bày tỏ một mối quan tâm đáng ngạc nhiên đối với việc quảng bá phong cách mỹ thuật Champa – vương quốc cổ từng đặt thủ phủ ở Quảng Nam. Năm 2015, CUCA tổ chức “Art Tour Thực địa” mang tên Con Đường Champa kéo dài 5 ngày, xuất phát ở Đà Nẵng. Ông Nguyễn Đức Thành, thành viên Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR), người điều phối Liên Minh Nông Nghiệp, người mở ra và điều hành nhiều đường dây NGO trẻ trên cả nước, là người bảo trợ và diễn giả quen thuộc của CUCA. Ông Thành là lớp trưởng lớp CUCA Guerilla (CUCA Du kích), và trưởng đoàn của CUCA Guerilla trong chuyến đi Myanmar. “New Zero Art Space”, không gian quảng bá nghệ thuật đương đại mà “CUCA Du kích” ghé thăm trong chuyến đi này, được mô tả trên báo chí phương Tây như một tụ điểm của cánh nghệ sĩ muốn làm chính trị thông qua các tương tác trực tiếp với dân chúng:

http://www2.readingeagle.com/article.aspx?id=151807



b. Cánh VOICE

Nguyễn Anh Tuấn, thành viên Luật Khoa Tạp chí đại diện và người phân phối tài chính của VOICE ở Việt Nam, là người Quảng Nam và đang sống ở Đà Nẵng.

Trương Minh Nhật, một thanh niên từng được VOICE đưa đi đào tạo ở Philippines, đang sống ở Đà Nẵng. Trương Minh Nhật là người sáng lập và lãnh đạo Vừng Ơi – một nhóm thanh niên quan tâm đến các vấn đề văn hóa, nghệ thuật, chính trị, triết học ở Đà Nẵng và Quảng Nam. Nhóm này từng có các buổi sinh hoạt hằng tuần, để thảo luận về các chủ đề văn hóa, nghệ thuật và triết học. Trước khi được đào tạo bởi VOICE, Nhật đã bước vào các hoạt động chính trị – xã hội qua Khóa học Mùa hè, do VEPR của Nguyễn Đức Thành tổ chức.



III. Phản ứng của các thế lực



Ngày 22/01/2017, VOA đăng tải bài “Viện Phan Chu Trinh có hướng đến tinh thần Phan Chu Trinh?” của ông Phạm Chí Dũng:

http://www.voatiengviet.com/a/vien-phan-chu-tr…/3734933.html

Trong bài viết, ông Dũng đưa ra nhiều cáo buộc. Những cáo buộc đó có thể được tóm tắt như sau:

_ Trong khi Viện Phan Chu Trinh tập hợp một số cựu quan chức, như bà Nguyễn Thị Bình (cựu Phó Chủ tịch nước), ông Chu Hảo (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ), ông Nguyễn Sự (cựu Bí thư Thành ủy Hội An) và ông Vũ Ngọc Hoàng (cựu Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương), và nhiều khuôn mặt mà ông cho rằng “tiêu biểu cho khuynh hướng phản biện trung thành”, tổ chức này lại “không có được một khuôn mặt phản biện độc lập nào”.

_ Sau một thời gian rất dài, Ban Vận động của Văn đoàn Độc lập vẫn giữ một tư thế “an toàn thái quá trong đối sách và trong quan hệ với chính quyền”.

_ “Trong thực tế, Ban vận động Văn đoàn độc lập Việt Nam có thể được xem là tổ chức ít bị công an trấn áp, đàn áp và sách nhiễu nhất trong số các tổ chức xã hội dân sự độc lập.”

_ Việc “Viện Phan Chu Trinh mới ra đời nhưng đã có ngay 4 công trình nghiên cứu mà có thể nhận ngân sách nhà nước, trong khi nhiều hội đoàn nhà nước đang bị cắt giảm đến 50% hoặc hơn từ ngân sách hàng năm” cho thấy Viện Phan Chu Trinh giống “một hội đoàn mới của chính quyền và trực thuộc… tỉnh ủy Quảng Nam”, hơn là một tổ chức dân sự độc lập.

_ “Liệu có một chủ trương của chính quyền để Viện Phan Chu Trinh trở thành nơi thu hút những người nhà dân chủ nửa vời và vẫn nằm nguyên trong quỹ đạo “đổi mới không đổi màu” của đảng?”

Tuy nhiên, khi đưa ra những cáo buộc trên, ông Dũng không giải thích rõ thế nào là những “khuôn mặt phản biện độc lập”, và muốn được ông coi là “độc lập”, người ta phải đạt những tiêu chuẩn nào.

Ông Dũng cũng không cho biết vì qui định nào, do ai đặt ra, mà các “hội đoàn dân sự độc lập” của Việt Nam được phép nhận tiền tài trợ và dự án của nước ngoài, nhưng không được phép nhận những công trình nghiên cứu do chính quyền địa phương đặt hàng và tài trợ.

Ông Dũng cũng không giải thích việc Văn đoàn Độc lập “vẫn giữ một tư thế an toàn thái quá”, và “ít bị công an trấn áp nhất” có trái với pháp luật và đạo đức không, mà nếu không thì ông phê bình chuyện đó vì đâu.

Quan trọng hơn, ông Dũng không giải thích vì sao trong một bài viết về Viện Phan Chu Trinh, ông lại liên tục công kích Văn đoàn Độc lập, trong khi tổ chức này chẳng có bất cứ mối liên hệ chính thức nào với Viện Phan Chu Trinh. Giữa hai tổ chức thực ra chỉ có một điểm chung công khai: do ông Nguyên Ngọc đứng tên lãnh đạo.

Ngày 18/03/2017, trang Boxitvn đăng bài “Viện Phan Chu Trinh, Nguyên Ngọc, tôi tin” của Bùi Minh Quốc. Bài này không đưa ra được bất cứ lập luận nào để phản bác các cáo buộc của ông Phạm Chí Dũng. Thay vào đó, ông Quốc chỉ lặp đi lặp lại một ý, rằng ông tin Viện Phan Chu Trinh vì ông tin dũng khí của ông Nguyên Ngọc.

Sau hai bài đối đáp trên, các tranh luận về sự ra đời của Viện Phan Chu Trinh khép lại trong lặng lẽ, khi kết luận còn bỏ ngỏ.



IV. Phân tích



1. Về bản chất của Viện Phan Chu Trinh

_ Dựa vào nhân sự, không khó để khẳng định rằng Viện Phan Chu Trinh là vỏ bọc mới nhất cho hoạt động của phe Nguyễn Thị Bình – Chu Hảo – Phan Diễn. Đây là thế lực chính trị điều khiển hầu hết các sinh hoạt “trí thức phản biện” trong một thập kỉ trở lại đây, thông qua việc kiểm soát nhiều đường dây, như NXB Tri Thức và các nhóm thanh niên mà nó bảo trợ, các sinh hoạt văn hóa, học thuật ở L’espace Tràng Tiền, Viện IDS, Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh, trang Boxitvn, Hội Nhà văn Hà Nội, Café Thứ 7 và Văn đoàn Độc lập…

_ Dựa trên diễn văn thành lập Viện Phan Chu Trinh của ông Nguyên Ngọc, có thể hiểu rằng viện này được thành lập để hoạt động chính trị chứ không phải để làm nghiên cứu. Các nghiên cứu mà tổ chức này nhận từ chính quyền tỉnh Quảng Nam không nhằm mục đích nào khác, ngoài giúp nó hợp thức hóa tài chính và hoạt động.

_ Nhìn thân thế của những thành viên Viện như Nguyễn Thị Bình, Chu Hảo, Nguyễn Sự, và sự ưu đãi liên tục mà chính quyền tỉnh Quảng Nam dành cho viện này từ năm 2007, có thể khẳng định rằng Viện Phan Chu Trinh không phải là một tổ chức dân sự cộng tác với chính quyền Quảng Nam. Thay vào đó, nó chính là nhóm lợi ích kiểm soát chính quyền tỉnh Quảng Nam.

_ Việc cố sống cố chết giữ lại khu đất đắc địa của Đại học Phan Chu Trinh cho thấy phe Nguyễn Thị Bình – Chu Hảo – Phan Diễn muốn bảo lưu một kế hoạch lâu dài, là đặt tổng hành dinh công khai ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng. Họ chẳng có lí do gì để giữ trọn một khu đất rộng như thế, trừ phi có dự định dùng nó làm đất tổ chức những sinh hoạt văn hóa lớn, chẳng hạn như một trại sáng tác hoặc triển lãm nghệ thuật cho giới “nghệ sĩ cấp tiến” thường xuyên ghé qua Đà Nẵng – Hội An. Cần nhớ rằng lâu nay, thế lực này vẫn kiểm soát hầu hết những “không gian sinh hoạt văn hóa và học thuật” tiếng tăm nhất ở Việt Nam, thông qua những địa điểm như L’espace, trụ sở NXB Tri Thức và Café Thứ 7.

Phan Chu Trinh là thủ lĩnh của các phong trào đấu tranh Quảng Nam hồi đầu thế kỷ 20, và là ông ngoại bà Nguyễn Thị Bình. Hiện nay, phe Nguyễn Thị Bình – Chu Hảo – Phan Diễn đang chiếm chắc chính quyền tỉnh Quảng Nam, và công khai hoạt động chính trị ở tỉnh này, nhân danh thần tượng Phan Chu Trinh, trên một khu đất rộng quá mức cần thiết cho một viện nghiên cứu. Cộng với sự bất tuân quen thuộc của chính quyền Quảng Nam – Đà Nẵng trước chính quyền trung ương, không khó để nhận ra ở vùng đất này, có một sứ quân cát cứ đang chuẩn bị cho các biến động chính trị. Sứ quân này chủ động thu hút đến Đà Nẵng những gương mặt có hai điểm chung: quan tâm đến thế hệ sinh viên, và xây dựng lực lượng chính trị thông qua các hoạt động giáo dục, văn hóa, nghệ thuật.

Trong những gương mặt của Quỹ Phan Chu Trinh, người có đủ điều kiện để kết nối ba thế hệ nhất là Nguyễn Đức Thành.



2. Về các tranh luận xoay quanh việc thành lập Viện

_ Trong bài công kích của mình, Phạm Chí Dũng vô tình đánh đồng Viện Phan Chu Trinh với Văn đoàn Độc lập, dù đây là hai tổ chức hoàn toàn khác nhau. Điều này cho thấy bài của ông Dũng không đơn thuần công kích Viện Phan Chu Trinh, nó là bài tấn công cả phe chính trị đứng sau nó. Tuy nhiên, nhìn lại lai lịch, quá trình hoạt động và các dòng tiền của ông Dũng, ta không dám chắc ông làm việc này với tư cách một tiếng nói độc lập, đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa các phe.

_ Ông Nguyên Ngọc đang bị cả hai phe đẩy ra làm bia đỡ đạn. Trong khi đó, không khó để nhận ra rằng xét khả năng nắm giữ các mối quan hệ, dòng tiền, truyền thông và không gian giao lưu, Chu Hảo mới là kẻ đang thật sự nắm quyền kiểm soát. Chỉ nhìn việc Nguyên Ngọc phải sống dựa vào cơ sở vật chất của Viện, thứ được duy trì bằng tiền tài trợ mà Chu Hảo mang về, trong khi Hảo sở hữu nhiều biệt thự lớn ở Hà Nội và Đà Nẵng và chơi golf đều đặn hằng tuần, cũng có thể hiểu ai đang đứng ở thế trên.

Nguồn : Nhungnhadanchudoctai

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

TÌNH MƯA





Cuối tháng tư đổ đốn mưa dầm
tháng năm về nằm có sáng được không?
ngày đơ đớ thân đêm ngơ ngớ lòng
mù mây bối rối lạnh lối chân đi


Bầy ve mỏi cánh sầu ly
mùa thi còn đó người đi đi rồi
cành phượng sân trường buông câu hỏi
tình rơi đỏ ói dưới chân tường

Bài toán chia đường hai đứa chụm đầu
nào đâu giải được nỗi sầu tiếng ve
em vào đại học xa quê
tôi vào bộ đội lết lê chiến trường

Đạn ghim cánh nhớ nổ cành thương
lá thư em viết mùi hương thưa dần
tôi trở về đáy ba lô nhẹ hẫng
đôi vai trầy nằng nặng gánh tình mưa

Đường quê trơn ướt chân xưa
áo ai lấm tấm bùn đưa đón bùn
tháng tư trời đất não nùng
tháng năm về có tương phùng được đâu?

CHỖ NGỒI





Vua ngồi ngó xuống trông quan
Quan ngồi ngó xuống trông dân
Dân ngồi ngó xuống ...đất

Đời tranh đua tất bật
chỗ ngồi ngó xuống trông lên
tôi ngồi một chỗ mình ênh
vua quan dân cũng cùng tên... chỗ ngồi

Tôi ngồi thỏa thích váo vênh
trông lên ngó xuống là do...bụng người

Chữ







Không một chữ, ừ. Không một chữ.

Giấy trắng trước mặt. Tôi bấm bút, ngoáy thử. Chưa chữ nào chịu phun xuống mặt giấy dù mực vẫn ăm ắp trong ruột. Bút bi màu đỏ, thứ bút dùng để chấm điểm và viết lời phê. Tôi không cố tình chọn màu mực này. Nhiều năm qua, tôi dùng mực đen. Chữ trên giấy phải luôn màu đen. Màu xanh thì đẹp. Xanh dương hoặc xanh cây cỏ, sắc biếc sậm của biển hiền, phù chú của vàng, tím, hồng, chàm, nâu đất, trắng bông gòn…cũng là lựa chọn không tồi với mỗi họa sỹ. Nhiều tranh lấy trắng làm áo khoác, cũng trắng là màu của trinh tiết sương mù, của cõi tuyệt âm tuyệt mù tuyệt náu, và trắng chỉ như lát tuyết ngắn, một dấu chân, kẽ nứt của sự sống trên bầu trời ngùn ngụt đủ thứ màu loang vỡ trong hố sâu. Vàng, của hoàng gia, của kim quang đất Phật, cũng vàng nhấn chìm mọi thủ phủ chọc trời trong sắc rữa, ủng ôi của xác mẹ vắng con. Đen, vật choàng ám muội, phù chú của yêu ma nhưng cũng đen đấy, an toàn, bình yên và bí hiểm, gọi thức lòng can đảm dũng sỹ phải liều mình khám phá từng lớp từng lớp. Người sống sợ màu đen nhưng chỉ ngủ say khi đen đã buông màn. Đêm sục ngầu và cũng trắng. Thực ra nếu đêm đã há hàm, cách ly vạn thằng người trong phòng hơi ngạt thì đỏ cũng khiến mắt mất sáng.

Tôi chưa từng vẽ, chỉ viết.

Tôi từng viết rất nhiều. Gan lì tôi luyện mình trước khi ra những trang bản thảo, khuôn đúc thành sách và chường mặt ngoài cuộc đời. Một bản thảo thường chấm dứt số phận cậu ấm khi đã thành sách. Những đầu sách vào lửa khi vừa chào đời, cũng lắm sách biến dạng, lở loét, sách được nựng, rồi sách bị truy sát, hỏa táng và cấp số nhân trong những xưởng in( bất hợp pháp) vì con người.

Trí óc tôi minh mẫn, nửa giờ trước tôi đã uống rượu. Rượu Xo nhắm cùng đĩa tôm khô. Tôi bật nhạc. Nhạc tôi chọn là những âm thanh của rừng của núi, tiếng sóng vỗ, gió thổi, lá reo vui được thâu lại. Thứ nhạc này giúp bữa nhắm ngon lành hơn. Bữa trước tôi uống rượu cùng chút đồ nướng mua từ nhà hàng danh giá nhất thành phố. Tay dĩa tay dao, tôi xắt nhỏ miếng thịt. Hớp một ngụm rồi nhai một miếng. Nhai thật chậm, tôi gắng quên tạp âm phía ngoài. Đĩa nhạc phát một bản mưa. Cơn mưa rừng nhiệt đới. Những giọt va mạnh xuống cây, khoét xuống đất bùn. Sẽ tuyệt vời nếu xong bữa, tôi viết được gì đấy. Giấy trước mặt, bút trước mặt. Giấy trắng.

*

Viết đi nào. Tôi cố ừ, thôi thúc mình. Tôi hút xì gà. Xơi một điếu, tôi thấy sảng khoái. Chất kích thích sóng não phải làm việc. Hơi thuốc quyến luyến lúc lâu rồi tan vào khí quyển. Tôi đương nghĩ sẽ viết về gì đấy. Cái gì nhỉ, tôi chưa hình dung ra.

Lật lại nhiều năm lịch chất rác trong quá khứ, tôi thấy mình từng viết rất hăng. Vẫn một căn phòng, vẫn mùi thuốc vẩn không khí và vẫn cái bàn với giấy trắng, bút bi. Lắm lúc tôi viết nhằm giảm tải những chướng vật quá ngổn ngang trong đầu, viết bởi cơn nhức lồng ngực, viết sau khi ngốn ngấu một chồng sách, chữ của thế nhân thấu thẳng vào óc, bồi bổ và thách thức tôi lấp đầy giấy trắng bằng ngôn ngữ riêng mình. Một thời gian, đầu tôi rỗng như cái ly úp ngược xuống đất, ừ, tôi không quên mình từng mút ngón tay qua ngày, ngậm đến nhăn nhúm, vẫn chẳng thấy giọt mật nào, trí lực như cái túi thủng. Viết, tôi chẳng biếng. Đói sách và đói viết, hai bi kịch của mỗi thằng chữ. Bấy giờ tôi bạc đãi mình quá, bao nhiêu tiền nướng sạch vào những chồng sách vỉa hè. Khát sách như con bạc, tên ngáo kinh niên. Tôi thấy ngạt và tìm khí thở trong sách, uống từng dòng từng dòng. Nếu giấy ăn được khéo tôi sẽ chén sau khi hút cạn mật.

Trước mặt tôi là một tủ sách, sau lưng cũng tủ sách lớn. Ngày đấy, tôi từng mong có một cái tủ cao chạm trần, trên mỗi ngăn ních đủ thứ sách. Phải là sách gáy dày, nhiễm bụi trăm năm. Triết học, tôn giáo hay văn chương không phải ưu tiên hàng đầu. Lắm lúc tôi bày sách khắp nhà, chất sách cả lên bàn thờ và làm gãy cánh tổ tông. Sau cái cúi xưng tội, tôi vớt sách lên, ừ, sách vướng tàn hương. Nếu bụi là dấu tích thời gian thì tàn hương là vết linh hồn. Tằng tổ nhà tôi đã lần tay, và sách được thương, được trân quý thêm một lần. Bởi sách bày khắp nơi, xếp thành chồng, thành dãy, vây quanh tôi tứ phía nên xẩy chân là vấp ngã. Ngã xuống sách, tấm thảm chữ, êm và dịu ngọt như ngả vào cơ thể thánh nữ. Khoái lắm những cuộc ăn chữ miên viễn hết tối lại ngày. Tôi đọc đến mờ mắt. Trong mơ tôi mộng thấy mình mỏng dính, được đóng vào một cuốn sách.

Thời gian cháy xèo xèo khiến tôi chỉ mong mình có phép co giãn thời gian, cuồng đồ hơn là giấc mơ đóng băng cả thế giới, chỉ tôi với sách tồn tại, yêu nhau và cấy giống nhau bằng những bản thảo kìn kìn chữ. Một triết gia từng bảo rằng chỉ muốn bôi mực khắp mình và lăn trên giấy.(1) Tôi không đồng thuận với quái ý này. Với tôi lão râu rậm, mũi lõ nào cũng chỉ là món thiên thực, thứ rượu nho ngàn năm chưng cất nơi bầu sữa Gaia. Xơi từng trang từng trang, tôi thèm ăn thêm, no nữa, no nữa và khi gân cốt đủ nóng, cơ bắp căng quá độ, những sợi thần kinh nóng bỏng đòi một trận điên, tôi húc mình xuống giấy. Giấy rũ sẵn váy, đợi chờ tráng sỹ ngày rỉ máu. Đọc, chỉ rèn ra một vũ khí, một giáp trụ liền mình với ngựa chiến đầu sừng. Viết thì khác, một đấu trường. Nơi đấy, nhà văn đối đầu với những gã khổng lồ trong số sách mình đã nhai nuốt. Gục rồi đứng. Lắm lúc trong đường gươm sắc chẻ đôi vũ trụ, thiến hết Hoàng Đạo tinh, y, thằng viết bắt gặp tiếng Chúa chết, gã mù trong pháo đài sách, tên ngậm tẩu nôn nao(2), ừ, tôi từng mắc kẹt trong mớ dây chằng bằng tơ tằm. Tơ này bền, dai và không sắc nhưng cứa được. Cưỡi trên mình con trâu đen, tôi bẻ sừng, vặn nó theo lối chỉ dẫn. Bộ guốc quăng quật, hất mạnh cái đầu sừng, tôi văng đi. Trong rối bời, tôi ợ một mẩu giấy, nhai, nhai mãi cho đến khi giấy tan đi, ngấm từ cuống lưỡi. Trận đấu với con trâu chưa thắng bại. Con thú một nẻo, tôi một nẻo và cả hai gặp nhau trên một cây cầu. Tôi lẫn nó đối đầu một lần nữa. Kết quả là giấy trắng, đúng hơn giấy vẫn ngòm ngòm mực nhưng đấy là khoảng rỗng đầy ngờ vực. Không dấu hỏi. Một dấu phẩy ngờ vực. Tôi có lúc reo lên sau khi xong một cuốn sách, thấy mình chế ra thứ hương gây nghiện cả thế gian, buồn thay chỉ là hương liệu dùng lại. Thay vì ướp dâu tây nguyên quả, tôi ướp nửa trái dâu, quên vặt lá. Lên đạn, bắn vào một đám mây. Mây không oặt thành những hài nhi hay tái tạo. Mây rơi. Những miếng mây sắc như và muốt đến mức soi gương. Nhặt một miểng mây lớn nhất, Kant cười kì lạ. Mảnh mây khác, sáng quắc khuôn mặt chia đôi, một của Faust, một của Mehisto(3). Gầy nên một cơ ngơi, tôi bỏ trống gian thờ. Lời nào trong sách rằng, đừng tận tin gì ngoài chân lý sau sương mù. Vác thập tự không phải lựa chọn bắt buộc. Thập giá có thể chẻ đóng thuyền, đóng cầu thang, làm củi đun nước thánh hay từ khối gỗ ruột đặc, tôi nhóm lửa cứu mình cứu những tha nhân co giật. Chân lý là thứ theo đuổi chứ không phải vật sở hữu. Chân lý nào nắm được trong tay, sẽ thành tà thuyết.

Chưa chữ nào. Và giấy trắng.

Tôi tính đặt một câu, câu gì, câu đơn hay ghép. Thử một chữ cái. Tôi viết rồi xóa lem nhem. Bởi xóa quá mau, tôi quên mình viết gì.

Giấy vẫn trắng. Không ai bắt đầu bằng dấu câu cả. Dấu ngoặc được đấy. Sau ngoặc phải là chữ. Tôi nghĩ, chống cằm nghĩ. Ý tưởng bay hơi. Tôi nhìn quanh nhà.

Xóa ngoặc.

*

Sách. Tôi đọc không thấy chữ và chẳng bỏ bụng. Sách nhà tôi chất hết trong tủ. Cái tủ gỗ thật bền, có bọc giấy vàng. Tủ rất mới, kính tủ cũng sáng bong, sau kính là sách. Giấy sách thơm, giấy đẹp, mịn, hoa văn cũng đẹp. Vớ bừa một cuốn, tôi giở và thấy một trang chưa rọc. Đọc một dòng, tôi quên một dòng. Viết một dòng, tôi xóa một dòng.

Nhạc không còn hiệu lực. Trước kia tôi…Tôi từng viết trong lúc đói. Cảm giác rã ruột vẫn phải ngồi trên bàn, bị gió cắt da, khi ướt sũng dưới nắng mặt trời còn trong đầu. Cơn đói rút bao tử, tiếng ục sôi của chảo dầu. Vừa nghĩ đến một cái bánh đầy đủ pate, thịt, mẩu khúc xích lớn với ớt và nước sốt, xà lách tươi, giòn tan, tôi viết xuống. Từ ngòi bút, tôi vấy mực và soạn đại tiệc cho mình. Tôi bắn rụng một cánh phượng và nướng lên. Cục đá trong tay, tôi ném gục con trâu ngày nào. Sau món nướng, là món nướng khác. Các đầu bếp tí hon vừa nhảy nhót vừa xẻo thịt trâu. Mực đen toát mùi thơm của thịt cháy. Nằm sau lớp lông huyền đen, là thớ thịt mềm với các chữ nổi gờ như vẩy cá. Lửa nhóm hết củi, nhóm miếng thịt chữ. Miếng ăn không cần gia vị, gặm rất khoái khẩu. Cái dai không bàn, trong lúc ngấu nghiến tôi thấy điển thư trong mình dày thêm, chữ nối chữ, trang nối trang. Tôi chia thịt cho đám tí hon, chia cho những sinh linh nhỏ kéo đến bởi mùi nướng. Lông phượng chất một đống. Cây bút như đũa thần, chữ tôi kéo một phép màu. Từ đám lông, một cánh chim xuyên lên, khoét cả mây cả gió, hủy hết nắng độc tháng tư. Từ đống bầy hầy thịt, con trâu gượng dậy. Thịt rơi lả tả, chỉ còn xương. Khung xương trắng, chi chít chữ viết. Cái sừng lắc lư, rồi con thú cũng đi. Bộ guốc vừa như khuất khỏi tôi vừa như đi vào đầu tôi. Cánh rừng cao lên, ngọn núi chữ đồ sộ. Đền vàng cháy xa xa. (4)

Tôi chắc lúc đấy mình viết nhiều vì đói. Viết không cứu đói, viết giúp tôi quên đi những thèm muốn phàm tục.

Tôi bỏ đói mình và suýt ngã gục. Một bữa thịnh soạn với đủ loại dưỡng chất, rượu ngon và đá lạnh. Tôi ních no mình. Cái bụng lớn dần lên và căng cứng. Cây viết trên bàn, giấy trên bàn. Giấy trắng, tuyệt không một vân chữ.

No quá, tôi muốn ngủ. Những tháng này hễ no là tôi ngủ. Giấc thật sâu. Tôi đã ngủ, đúng hơn, chỉ lịm đi. Không có lấy một giấc mơ ngắn. Không ý tưởng, không tưởng tượng, không mơ. Tôi thường đắn đo giữa viết và mơ luôn có mối liên kết, tương hỗ nhau. Trí tưởng tượng là hiện thực của mọi hiện thực đời sống. Thứ hiện thực bị giấu che trong cái bóng không ai nhìn. Quấn-Quýt cũng như một trạng huống trăn lấy bản ngã mình. (5) Một cuốn sách bay được, trước hết kẻ viết ra nó đã có một trí óc quái đản, thích mộng du lúc thức và luôn mơ giấc chẳng lành.

Quên đi giấc mơ khi vừa tỉnh dậy với lý do trí nhớ chẳng mấy thuyết phục. Sự thật thì tôi chẳng cảm giác mình đã mơ. Giấc rất đều, êm trong bình yên. Thứ khoái cảm bị rượt đuổi, bị nắm gáy, ném đi, sự thoi thóp khi mở một căn phòng chỉ tìm thấy đủ thứ chìa khóa mở những căn phòng khác xuyên vào lâu đài, cái cẫng mình hồi hộp, tróc da gà đòi thoát mộng bằng cú nảy bật khỏi chỗ nằm, đâu rồi sự vã mồ hôi lạnh, những tín hiệu may rủi khi rụng răng rụng tóc, nhện đốt, rắn nuốt, bay lên và tan chảy dưới xe ngựa…không thấy nữa. Giấc ngủ lành. Có lúc tôi ngủ dài, say sưa cả ngày trời. Ngủ dai dẳng đến mức khi tỉnh lại thấy khô khan. Óc tôi không nặng nhưng cứ ù ù, như có ai đang thổi tù và trong đầu. Tiếng tù rất to nhưng không rõ âm, chỉ biết nghe chối, vừa lù phù vừa ong ong như mấy ông già hết hơi thao thao chủ nghĩa xã hội. Chân tay rã rời, buồng tim tôi loạn nhịp. Tỉnh táo lại, tôi bước vào bàn và chẳng viết được gì. Những dòng viết bạt mạt rồi cũng bị xóa sổ.

Tôi từng viết rất mau về tình trạng bươm nát. Đôi phút rỗng ruyếch khô hết ý tưởng cũng giúp tôi viết ra trường đoạn hàng chục trang. Bệnh trạng nào cũng là thời cơ của bút. Bội phản đâu phải xấu xa. Nếu Đại Đồng luôn là tấm giáp của Độc Tài, bần cố nông sau khi vang danh, liền chém đi bàn chân đất để viết rằng mình sinh từ trời, con của rồng của phượng của thánh, nếu cõi người mong các phép màu từ Như Lai hơn phật pháp, bất chấp việc sẽ kéo ông khỏi Niết Bàn, bắt ông phải nhập vai tượng gỗ vô tri, thì người phản người là lẽ thường. Mọi cú huýnh, nhát đâm là mồi, là thuốc dẫn giúp thằng người hết đái dầm.

Túng chữ quá, tôi sẽ lôi cổ từng cuốn sách, hớp từng ngụm chữ nhằm đắp đầy mực. Và rồi, tôi bổ mình xuống giấy. Tại sao nhỉ, giờ này giấy trắng vẫn giấy trắng. Kẻ ngang hay ô ly không quan trọng. Tôi vừa uống một ly café chồn, loại cao cấp nhất được sàng kỹ lưỡng từ cao nguyên. Rồi một tách capuchino thật đặc. Mắt tôi sáng quắc, đừng mong cơn buồn ngủ sẽ chụp xuống và tiễn tôi vào tấm rèm mông lung. Nhưng không một chữ. Cả khi tôi đánh lừa mình rằng giấy không đủ mịn hay bút quá tồi, không vừa tay, hay chăng nhai sách chưa đủ thì đấy vẫn chỉ là cắc cớ vụng về. Mất ngủ là hiệu quả của café.

Hàng tiếng trời, tôi hết gật gù lại chống cằm. Hút thêm thuốc. Và nhạc, vẫn thứ nhạc thiên nhiên được thu trong cd. Sau khi viện cớ chán chê rằng âm hưởng rừng thiếu sự tĩnh tại, tôi chuyển sang tiếng lá rơi nhẹ, bấm sang chương sóng rì rào, suối nước, sáo diều vi vu đùa cùng mây. Nhạc nhẽo không tạp âm, ừ, cánh cửa. Cửa kính nhà tôi không cách âm nhưng đủ dày để lọc hết tạp âm bên ngoài. Hễ hé mở cửa là tai sẽ chảy nước. Bấm bút, rồi bấm bút, tôi tắt béng nhạc. Tôi tỉnh táo, quanh tôi tĩnh như không gian vừa được tắm gội.

Bàn viết. Không một chữ, ừ, không một chữ.

*

Mực tôi chọn, đỏ. Tôi thường viết mực đen. Các bản nháp luôn phải màu đen, à, đen là thứ màu vĩnh viễn nhất, sách nào in ra cũng chữ đen. Viết bằng bút đen chữ không đẹp hơn, ấy chỉ là thói quen. Tôi không nhớ mình quen viết mực đen bao giờ. Giấy không lấm màu đen, thì vẫn trắng. Mực đỏ là chọn lựa của riêng tôi. Không có phá cách nào như một đầu sách chỉ viết chữ nghiêng, không chấm không phẩy không xuống dòng, nhân vật không tên. Một bản thảo chỉ với một màu chữ đỏ đậm nhạt tùy ngẫu không ấn tượng lắm dù với cá nhân tôi hay người biên tập. Trừ việc nhức mắt. Sẽ có người sẵn sàng bỏ thời gian để tô lại chữ trên bản thảo dù bằng mực xanh hay mực đen.

Cắm ngọn bút xuống giấy. Một dấu chấm đỏ. Tôi dự tính từ hạt nhân này sẽ trồng cái gì đấy. Bút cắm thế. Đầu tôi không ngổn ngang, mọi thứ còn trật tự và gọn gàng nhưng tuyệt nhiên không còn háo hức.

Quá nhiều lần, tôi nhìn tháp Big Ben và phết lên giấy đủ thứ kỳ quặc. Không phải lớp tuyết dày, đóng băng tháp đồng hồ và khiến thời gian trễ đi, hai mươi tư tiếng nhân đôi nhân ba nhân bốn rồi tắc lại, tuổi xuân kéo dài, rồi thì những em bé mãi là em bé dù trí óc có thông thái hơn. Không có cái trống sắt, không luôn cả tiếng hét cắt thủy tinh. Chỉ là những đứa trẻ lớn và không bao giờ chết. Đừng phì cười vì một vương quốc toàn búp bê. Kim đồng hồ kẹt trong băng. Thời gian là vô tận, hãy sống thêm nhiều cuộc đời. Viết rằng mỗi Noel, ông già tuyết lại cưỡi tuần lộc bay lên ngọn tháp. Các ống khói không có dấu vết xâm phạm, bít tất rỗng vẫn rỗng. Đêm đấy, ông già ném quà từ nóc tháp đồng hồ, quà dành cho cả người lớn lẫn trẻ em, cả trẻ ngoan lẫn không ngoan. Sau khi mở túi, một điều ước được hiện thực. Phép màu chỉ giành cho người nghèo và những ai đã cầu nguyện dưới chân Chúa. Thế rồi, Noel nọ, một tiếng súng và không ai còn thấy ông già. Số quà tứ tung LonDon, đều rỗng không. Cũng tháp đồng hồ, tôi từng gắn biết bao ngọn nến, lửa nến lúc nào cũng cháy, riêng mùa đông thì kết băng. Băng ấm, sưởi ấm cả Anh quốc. Bao giờ nhỉ…chuyến bay đã đưa tôi đến Anh, tháp Big Ben trước mặt. Năm đấy, mùa đông không ai tặng tôi quà.

Dấu chấm xuyên xuống giấy, đậm và loang.

Năm…tôi đã viết về những xác cá trắng biển. Nước mắt dân nghèo không chữa nổi chất độc nạo buồng trứng. Chất trắng đùn ngày một nhiều, rộng và bao la hết mặt biển. Mùi thối dày lên thành những tầng những tầng. Không khí như bị trục vét, hóa khí độc. Một cái hít quá sâu, sẽ thở ra một cái chết. Bút cắm phập. Xác cá nổi mặt nước và nổi cao hơn mặt nước, hướng trời. Từ lưng chừng, mùi ung thối đã sát thủ nòi giống được tẩy sạch. Cá không sống lại. Xác được gói trong mây, và mây, an táng cho những sinh linh tội nghiệp. Những sinh vật biển nghe tiếng đồng loại, cũng chào biển, bay lên. Tôm, mực, sứa, sao biển, ốc nối nhau leo lên, cá voi nổi chậm còn chàng mũi kiếm phóng một đường thật dài, cá mập trắng hiền đi và bơi khỏi dòng nước uế, gia tộc bạch tuộc cũng trèo lên, mỗi xúc tu giữ một rặng san hô. Cá xuyên qua mây và biến mất. Một chốn với nước sạch và gió trời bao dung đợi cá. Nơi đấy, không có giống hai chân. Biển hết cá, cũng bay hơi, để trơ trơ giữa địa cầu một sa mạc sâu hoắm như thấu xuống Vô Gián. Hết một cây bút là một cây bút. Tôi lờ mờ nhớ mình đã viết biển dâng cao, nuốt hết mặt đất, xóa sổ giống độc ác đã hủy biển bằng chính thứ nước nồng nặc phenol. Một ngẫu đoạn, tôi viết rằng biển cạn khô sinh vật, sóng dềnh lên rác thải. Xú uế muôn nơi. Xác người chết trôi ngổn ngang. Không còn cá, xác chỉ nuôi ra giòi. Và giòi, khi no bụng sẽ hóa ruồi. Và ruồi, bay kín trời đất, nhấm nháp mọi thứ còn sót lại. Biển cạn nước, chỉ rác đùn lên những pháo đài lớn. Đấy, vương quốc mới, triều đại mới của dòng Diptera. Trời đất chỉ thấy ruồi. Tiếng vù vù, bóng đen cả hành tinh. Chữ được nhuộm đen, cứ vậy đâm xuống giấy. Chữ chồng chữ, cộn hải triều. Tôi như viên đường, kích dụ loài kiến đạn kéo đến xé phanh. Ngón tay tôi run run, có lúc cứng đơ rồi thì ngón tay rỉ máu. Lúc đấy, tôi mong mình có một cây bút không bao giờ hết mực cùng xấp giấy vô tận, hết lại có. Viết hết giấy trắng, tôi viết xuống bàn, ghi chép khắp mọi nơi trong phòng. Lắm khi tôi mong có thể viết lên chính cơ thể mình. Để chữ phá khỏi nòng bút, xăm vào da, thấu đến xương. Khi tôi chết, họ sẽ tìm thấy một cái xác đầy chữ như cuốn sách da người.

Dấu đỏ lớn lắm. Mực lấm xuyên trang giấy. Không một chữ.

Tôi lùng đọc sách, mở sách điên loạn như cố cướp bóc tiền của thiên hạ để xây lên triều đại mang tên mình. Kéo hết cửa kính, tôi lấy hết sách. Những tầng sách ở quá tầm với thì tôi dựng thang. Vác từng chồng từng chồng. Các ông tổ Hy Lạp, binh đoàn La Mã, Thiết Mộc Chân, tôi ném lão râu xồm lẫn Mao Trạch Đông xuống. Lôi hết thánh thần, bảy mươi hai phép biến hóa, vét sạch Mộc Tinh, Diêm Vương tinh, dải ngân hà được kéo như rút hết len trong áo, chẳng để chừa dù anh em nhà Grim hay chàng thủy thủ lúc tí hon lúc khổng lồ…Sách chồng lên nhau, cao dần cao dần rồi đổ ập. Thang kênh, rồi đổ nhào. Ngã, không đau, chỉ ê ẩm vì các gáy sách bìa cứng. Thời gian lúc này là ngọn nến, phải tranh thủ từng giọt sáp trước lúc ngọn đăng teo thành đống sáp xù xì.

Sách khắp nhà. Chồng cao chồng thấp, xếp thành vòng tròn, đổ dồn dưới đất như lát gạch. Đi đâu cũng dẫm phải sách. Tôi không định dọn thật gọn sách để có một lối đi, không xúc phạm con chữ. Giấy thơm, không ngai ngái mê luyến (6) như số sách tôi đọc nhiều năm trước. Trong một góc nhỏ với cây đèn nhỏ, khi thì gầm cầu thang, trên căn xép cao, một góc ảm đạm trong thư viện, quán café hết thời, tôi cúi đầu xuống trang sách. Giấy vàng hoặc nhợt vàng. Mùi sách cũ với lỗ chỗ vết lủng của răng mối. Chính thứ mùi ương, mốc của thời gian này đã chuốc nghiện tôi. Thế là tôi mê mệt, chữ chui hết vào mắt, xâm chiếm não bộ và tái sinh lại các mạch máu chết. Các dòng gạch chân, khoanh vùng không khiến sách xấu đi. Nếp quăn gấp, một trang bị xé lìa nhét vào túi học là bằng chứng toàn hảo cho việc sách đã sống. Kẻ viết sách rồi sẽ quắt queo, chết xấu xí trong một cơ thể bệnh tật. Khi trút hơi tàn, hắn sẽ bị tống vào một cái hộp gỗ chữ nhật và táng xuống đất. Và sách, nếu còn được đọc, chữ được truyền qua nhiều cái đầu, nhiều cửa tim và bị tranh giành sở hữu thì đời kẻ viết đã không phí phạm.

Tôi từng ngốn không sót chữ nào. Nướng hết sách kinh điển đến tôn giáo, triết học, không buông tha hồi ký hay bút ký, chuyên luận ngắn, dài, sách phản Chúa, rồi thì triết duy vật, duy tâm, tiểu thuyết phản địa đàng. Đọc không để no, cái đọc chừng ấy cũng khác xa việc dùng tri thức để xổ hết bã cặn từ mười hai viên thuốc. Tôi chỉ biết đến sách vở, sẵn lòng bỏ sọt rác mọi vật chất, đoạn tuyệt hết quan hệ người người. Tin cậy sách vở cũng là tin cậy những gì tốt đẹp nhất trong tâm hồn người.

Sách mở hết ra. Chữ nghìn nghìn. Tôi đã chăm chú, nhưng chữ, oái ăm, cứ trơn đi. Quanh tôi sách là sách. Sách chất cao, nghiền mọi đồ đạc còn lại trong nhà xuống đáy. Chữ trên giấy mới, không một dấu vân tay, không nếp gấp, không cả bụi đóng. Chúng được mua và bị hắt hủi.

Quá mệt, tôi nằm lăn trên đống sách. Mồ hôi ướt sũng khắp người. Tôi thấy mệt, thấy nặng vì những múi thịt lớn, cái bụng lớn giấu đi cái rốn lồi. Tiếng tôi thở phì phò, và tiếng ngáy lớn.

*

Sách khắp nơi. Tôi khựng một chỗ, cơ thể này dốc không có gì.

*

Không còn nhạc từ đầu đĩa cd. Tôi mở cửa kính. Bởi đóng cửa quá lâu, bụi làm rít thành ra khó kéo. Dốc sức đẩy, cánh cửa chỉ dịch xê chút ít. Tiếng phía ngoài len lỏi, râm ran nhói óc. Tôi đẩy mạnh, dẫm cả vào một cuốn sách nằm dưới thềm. Giấy nhàu và bẹp dúm dưới bàn chân mập.

Cú đấm. Tiếng loảng xoảng. Từ cái ngách lớn, tôi nhìn ra ngoài.

Tiếng gì đấy, ừ, tôi đập thêm kính. Một cú, thêm một cú, mảnh kính sắc làm trầy máu. Cảnh phía ngoài thoạt tiên chỉ như khe hở, được khoét rộng ra, hệt bộ vuốt bị cắt để thấy bàn tay lành. Phía dưới, thành phố lớn. Các cao ốc đâm thẳng lên trời và rỗng con người. Thang máy chết cứng từ bao giờ, riêng điện đóm vẫn chóe sáng. Đèn giăng khắp các tầng, loại đèn công suất cao khiến tòa nhà như một ngọn núi lửa. Cao ốc xây theo dạng uốn, gập một chữ U tham vọng. Tòa thì nóc nhọn, tòa nóc vuông, năm cánh sao lộn nhào. Chúng đều rất sáng, sáng đến mức lòa con mắt. Dãy phố nào cũng không bóng râm. Nhiều năm trước cây vẫn rợp, đổ vết đen mỗi lúc nắng. Sang Hạ, cây gọi gió và gọi ve bay đến. No nhựa, ve cười cả đêm. Hoa sữa khiến các cặp đôi tìm đến nhau, kiếm mật dù nơi mái tóc quên gội, đôi môi chưa lấm son. Dưới gốc liễu rủ, lứa đôi trao nhau hơi thở. Chàng rất cao, còn nàng phải kiễng chân, hai tay quàng cổ, đóa hoa tìm vào đóa hoa. Gió hà hơi, tóc liễu lòa xòa, tóc nàng cũng ve vẩn. Gió phồng miệng, thổi khí lạnh. Vòng tay người tình xiết mạnh. Chiếc hôn thôi phớt lờ và chặt hơn, sâu hơn, ngon lành như miếng dorayaki. Ngày hôm nay sẽ tàn qua, riêng thời khắc này là vĩnh cửu. Tôi đi trong mùi hoa sữa. Đặt xuống cái ghế nhỏ, tôi ngồi dưới cây phượng và mở sách, cúi đầu. Hương sữa ướp thơm giấy sách. Lá phượng rơi rơi, phủ lên đầu, dính trên trang sách. Tôi đã không rũ lá, tôi để vậy, lưu giữ chúng trong sách. Ý tưởng nhảy nhót, dẫm trên lá cây rơi, nhún cái mạnh và mắc võng vào gió, cứ vậy rong chơi. Tôi bấm bút và trải cuộn giấy. Rồi thì viết…

…Cây đã trụi hết tóc, bị nhổ khỏi đất mẹ. Trên tấm thớt màu hỏa, cây bị chặt, chia khúc như cái bánh ngọt Trung Hoa. Tên đao phủ nào đã núp bóng thần Kali để triệt sản nòi cây xanh. Tiếng cây đổ không còn vang. Sau lớp kính vỡ, tôi thấy những hố thủng, ừ, dấu tích cột mốc danh dự bị nhổ. Nhiều lắm, những cây mới được cấy xuống đất. Chúng trụi lủi, không lá không cành, bộ rễ cũng yếu, không ăn vào đất. Một trận bão là đổ nhào. Khắp nơi chỉ thấy các cọc lớn, cái cao cái thấp, khấp khiểng như bộ răng hỏng. Màu tươi của gỗ bị nạo. Số cọc không dưới sông, không nhọn để đâm giặc Hán. Các cọc cắm trên đất liền, táng xuống cư dân nước tôi, lủng qua tim. Mỗi cọc tương ứng một đầu người, một cái giá treo mình. Rào chắn khắp nơi. Mỗi ngày, giở báo lại thấy tin báo tử. Kia kìa, một người nhảy sông. Căn phòng với đầy đá trong túi không đắm(6) mà nổi lên, nhão nhoét như tờ giấy hỏng. Đèn khắp nơi, dây điện muôn nẻo, phố phường sát vào nhau. Kiến trúc nhà trong ngõ sâu hoắm đời đời không xê dịch. Diện tích hẹp lại, chật ních. Tôi tưởng như thành phố này như một sinh thể sống. Ngóc ngách liền vào nhau nhưng các mô máu, các tế bào luôn xung đột, ăn thịt, đào thải nhau. Thức ăn vào bụng bị chia ra, không thể bài tiết nên dồn ứ lại. Cái bụng lớn cứ trương lên, ậm ạch, và luôn đói. Tôi nhìn ra xa. Vắng tiếng người. Sau những tiếng máy móc két vào nhau, họ im lìm. Ai cũng run rẩy. Có bầm dập không lý do, có bị tiếng còi tầm cắn đứt màng nhĩ, vẫn vô tư. Ai nấy nói vào tai nhau, nói nhỏ, thều thào. Nhà cửa như có ma, đuổi hết ông chủ ra đường. Nơi cánh cửa toang đến gãy cánh, kẻ lạ hoắc bước vào, nói tiếng hẹ. Giấy đấy ư, một tấm giấy tuyệt không khoảng trống. Tất cả bị phủ nhòa trong mực đỏ, thứ mực tôi đã chọn. Đỏ này làm hoa mắt, khiến ai cũng run sợ như thấy máu. Thế rồi, một cái lật tay, giấy úp xuống. Hình in lồi qua mặt sau, mờ mờ. Đừng cố lần vào sợi dây chằng, càng đi sâu sẽ thấy con nhện lớn. Nhện, ừ, nhện đói. Con quái này bắt người không lý do. Chết là sự cố không ai muốn. Không có toà án cho khẩu súng chợt cướp cò, nhà tù thiết quân luật với lũ trộm bánh mỳ. Trong trà có gián, nhưng trà là trà, gián là gián. Kẻ phiền nhiễu, gây rối đáng bỏ tù. Cư dân lết theo cái bóng người khác. Nếu không suỵt thì phải cố cắt lưỡi ngắn đi, nhét thật đầy hạt mận vào họng. Hướng chỉ tay lên trời. Đèn vẫn sáng, choang choang khắp nơi. Dưới đất, xác ve chết yểu. Đàn ong ủ rũ. Hết cây, hết hoa, không còn mật. Tiếng mẹ ơi vừa thốt ra liền bị vặn nhỏ. Mất mẹ, ơi ai bây giờ. Họ điều lao công vệ sinh đến. Chổi sắt quét hết chữ rơi, nước muối đặc sát trùng, vòi phun nước sạch rửa hết chứng tích. Đường xá sạch bong. Bốt. Rào chắn. Súng hướng trời. Nòng súng không chỉ trời. Đạn nhiều lắm.

Tôi lùi một bước, không còn nhạc. Ngoài kia, tạp, ừ, tạp âm trong này. Tay tôi đã ráo máu. Sắp có sẹo. Tay tôi. Hết nhìn tay trái, lại nhìn phải. Tay cầm bút, ừ, tay cầm bút.

Thấy cái bóng mình, tôi đấm. Các cú đấm nhiều, liên tục và mạnh đến mức khiến vết thương há miệng. Cái bóng quét đất, cao hơn cả tôi. Nó bất diệt. Tôi đau.

Nhìn khối sách lớn, tôi như gục. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi…

*

Rầm. Cửa gãy cánh.

Cửa kính thứ nhất đã vỡ, tôi tháo lìa vứt đi. Như con ốc chính bị tháo, số cửa còn lại lung lay.

Cánh thứ hai, thứ ba, thứ tư…Tuần tự thế, cả căn phòng tróc mảng. Sau một cú đẩy mạnh, những mặt kính ngã va vào nhau. Tiếng loảng xoảng kéo đoạn, phòng sang phòng, tầng xuống tầng. Đồ đạc vỡ theo, đèn đóm tắt ngúm, các đĩa Cd lìa tan tành, tủ rượu quý, cái giường với nệm da hổ, gối bông của Pháp, sàn nhà tróc hết, vàng tứ tung. Tôi tụt xuống từng tầng một. Không va đập, không níu vào đâu. Cứ thế rơi. Rồi thì Rầm…

Còn lại tôi với đống sách. Trong sách, toàn giấy trắng.

Giấy trắng, ừ, giấy trắng. Chữ đây rồi.

Tru Sa

9/2016





(1) Paul Nguyễn Hoàng Đức.

(2) Niezche ( người viết rằng Chúa đã chết), Borges, Jean Paul Satre.

(3) Goetheo.

(4) Ngôi Đền Vàng, tiểu thuyết của Mishima Yukio

(5) Tiểu Thuyết ngắn của Romain Gary (dùng bút danh Romily Ajar), viết về một người sống cùng con trăn có tên Quấn-Quýt.

(6) Chữ “mê luyến” trong tiểu thuyết “Con Cú Mù” của Sadegh Hedayat (Hà Vũ Trọng dịch), người viết dùng lại.

(7) Virginia Woolf, tự sát bằng cách nhét đầy đá vào túi và nhảy xuống sông River Ouse, căn phòng, tức “Căn Phòng riêng”, tiểu luận của bà.