Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

NGỌN GIÓ VĂN MINH





Người ta bảo đàn bà là biển cả
không có gió biển tĩnh lặng bao dung
ôm mọi con sông vào lòng cung phụng
hóa ngọt dòng đời chuyển cát hung


Một thoáng gió thôi biển thêm thi vị
đưa sóng thầm thì vỗ bờ đá vô tri
đưa con thuyền lạc neo tình ngơi nghỉ
biển và thuyền tri kỷ nhân duyên

Chỉ chút đảo điên gió cuồng biển động
trời đất khóc ròng sóng giết con sông
bờ tan bến nát đá chênh chông
thuyền chôn đáy hận lòng đau đớn lòng

Ta xin em đừng vì ngọn gió
mà trào dâng cơn giận bạc tình
ta chỉ là thuyền lưu bến nhân sinh
neo yên bình vào lòng biển mặn

Ngọn gió văn minh ta nào có đặng
nên em hãy là biển lặng hoang sơ
như cái thuở biển là nguồn sinh nở
sự sống lên bờ trái đất tươi xanh

GOODBYE 2017




Thành phố cuồng quay
âm thanh nhún nhảy
triệu triệu người hăng hái
Goodbye 2017


Tôi loay hoay
đẽo đá tạc tượng đài
nhờ ánh trăng lật luống cày
tìm chiếc bóng sợ hãi


Gió trên đồng trốn chạy
ngọn cỏ vờ lắt lay
dáng Cuội ngồi khắc khoải
chào gì ở ngày mai?


Goodbye 2017
Hello 2018
thành phố ngập tràn
ánh sáng tham lam


Goodbye 2017
tôi đẽo đá tạc tượng đài
đẽo đi đẽo lại vẫn là gương mặt nữ thần tình ái
hình hài chẳng giống ai


Dòng sông nhấp nháy
ánh trăng say
bóng Cuội đổ dài
hình hài tương lai


Goodbye 2017
tôi ngồi đẽo đá tạc hình hài
gương mặt nữ thần tình ái
trông chẳng giống ai


Goodbye 2017

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

NHỚ NÚI - DÒNG TỰ SỰ CỦA NHÀ THƠ UÔNG THÁI BIỂU



Nhận được tập thơ " Nhớ núi" của Nhà báo Uông Thái Biểu gửi tặng qua chị Thu Hương( Báo Tây Ninh), tôi thật sự bất ngờ. Mười mấy năm chưa lần gặp lại,cũng không liên lạc, ấy vậy mà Biểu vẫn nhớ dù anh không nhớ rõ chữ lót tên tôi.

Gặp nhau trong một dịp tôi tham gia Trại sáng tác ở Đà Lạt do Hội Văn nghệ Tây ninh tổ chức, lúc đó, Biểu đang là phóng viên thường trú của Báo Nhân Dân và cà phê với nhau gần trọn một buổi chiều. Duy chỉ có vậy nhưng cũng đủ để nhớ về nhau.,


Đọc bài thơ đầu tiên "Điệp Khúc", tôi đã bị cuồn hút ( cũng có thể nói đây là lần đọc thơ anh) bởi cái chất trầm lắng, sâu đọng và đặc biệt là cái cách dụng chữ vừa xưa, vừa nay đan xen nhau hết sức tự nhiên và tài tình của anh.

Không hoài cổ, cũng không bài xích "văn minh thành thị" nhưng chừng như ở anh có cái gì đó của sự hoài nghi, trăn trở, ray rứt và tự vấn...của một kẻ nặng tình trước sự đổi thay của con người và xã hội.

Điệp Khúc là một bài thơ hay trong tập thơ " Nhớ Núi" của anh

ĐIỆP KHÚC

Vẫn thế buồn vui của ngàn năm cũ
yêu ghét vẫn như xưa như thưở ông bà
em vẫn là em mai xanh mai bạc
hành tinh vẫn gần sát gót chân ta

Khắc khoải kêu một đời chim di trú
một đời mây bảng lảng đội trên đầu
sông vẫn cứ vơi đầy trong đục
cây một đời vấn vít gió Luy Lâu

Em gõ phím lập trình trên máy tính
những
ghét
yêu
cao thượng
thấp hèn
trên mặt đất hàng triệu người cày cấy
hàng triệu người ngồi nhặt trắng chia đen

Có lực hút gì mà ghê gớm vậy
những hạt li ti gắn mấy tỉ trên đầu
con cá buồn hiu đạp mình sông lạnh
chờ một ngày Lã Vọng ghé buông câu

GIẤC MỘNG KÊ VÀNG



Ta nhuộm thời gian bằng ánh trăng bàng bạc
em nhuộm ta bằng bảng lảng sương đêm
chiếc bóng kiếm tìm hình hài âu yếm
gánh lang thang vay nợ ba sinh


Ta trải cô đơn vẽ cuộc tình
trên giấc mộng động vàng hoa bướm
nơi em ươm nụ hôn lở dở
bỏ lại bên đường lớ ngớ dấu chân


Hoàng hôn loang lỗ màu thương nhớ
bình minh chấm phá nét dương quang
em lặng thầm thả hương thơm vào gió
ta đợi xuân tàn đỡ cánh hoa rơi


Ta hái thời gian giữa chơi vơi
vẽ chân dung gọi mời nguyệt lão
mượn dây tơ cột trời vào đất
nối phận duyên lạc bước chính chuyên


Thời gian ta cỏn còn con
năm tháng hao mòn đợi chờ rệu rã
em mãi là vầng trăng hoang dã
đến rồi đi như giấc mộng kê vàng

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

RỒI CŨNG CHỈ LÀ...





Rồi cũng chỉ là cơm áo gạo tiền
rồi cũng chỉ là nợ duyên vay trả
đời chỉ còn là niềm vui tơi tả
khi chân lý ù lì chẳng bước đi


Thế nhân lắm sự nhiễu phiền
chim sa mặt đất cá chìm đáy sông
thương cho con chữ quay mòng
sống trong ảo vọng tát lòng cạn khô

Rồi cũng chỉ là hỉ nộ ái ố
câu thơ cát bụi xô bồ
cắm cây thập tự lô nhô
vần tan nghĩa nát hư vô nấm mồ

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

HƯƠNG ĐÊM





Tình theo
gió đuổi
mây bay
vương vào sợi tóc
trần ai
lưu đày


Đôi vai
gánh nửa hình hài
trái tim
còn dại
cơn say
rượu nồng

Đường cong
gối mỏi
chân mềm
nụ hôn bóng chiếc
vỡ òa...
hương đêm

BỜ KHÔ CỎ CHÁY



Mùa đông thức giấc
gió khô hanh
bếp lòng nguội lạnh
mộng phong phanh


Bến hẹn ngày xưa giờ hoang vắng
bãi cỏ khô cằn úp mặt dung thân
trăng rơi lãng đãng trên dòng tĩnh lặng
ký ức ai ngân văng vẳng con đò

Cỏ xanh ngã mình nghe gió hát
hoa thơm dáo dát áng mây trôi
sông trăng bàng bạc màu hoan lạc
Em đưa ngan ngát giấc yên bình

Tôi ngày đó
bụi đời giũ sạch
chôn hận thù khâu lại vết thương
vá câu thơ chầm lên đôi cánh
bay đến thiên đường hái trái nhân duyên

Cắn mảnh tim khơi dòng máu chảy
em xuôi chèo về lại biển khơi
bến truân chuyên thiếu buồn trơ trọi
gió lôi thôi lắc cọc mồ côi

Thương vay rớt giọt sương đầy
bờ khô cỏ cháy nơi nầy còn tôi

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

NỐI SẦU BA NHỊP




Tây ninh quê tôi
êm ả tiếng phố phường
những con đường phơi nắng nằm sương
những chán chường cúi mặt soi gương
những yêu thương lẫn vào gió núi
đêm ngậm ngùi nghe mẹ gọi con


Tây ninh quê tôi
lặng lẽ sắt son
con sông Vàm về chia đôi ngả
mang phù sa bồi đắp thịt da


Người đã ngã trên cánh đồng rơm rạ
ngày hôm qua khúc xạ chiều tà
mẹ già còn trông thằng con về ngủ
đôi chim cu gù trên nấm mộ thiên thu


Chị còn mộng du ngày tháng lao tù
bên bến đợi chồng soi bóng đục trong
con nước lớn ròng trăng xuống mênh mông
đâu tiếng trẻ cười thổi bong bóng xà phồng


Em còn ngọng nghịu ra phố ê a
cánh diều cao xa lâu đài ai thả
ước vọng bay qua manh áo quê nhà
bước chân sỏi đá da diết tìm cha


Tây ninh quê tôi còn đó cây cầu*
nối sầu ba nhịp Mẹ- Chị- Em


* Cầu Quan 3 nhịp : di tích lịch sử được xây dựng từ thời Pháp thuộc

NGƯỜI ĐÀN BÀ KIÊU HÃNH




Người lặng lẽ sống đời cô độc
đêm lắng nghe tiếng gió thì thầm
trái tim bần thần mở toang cánh cửa
đưa thổn thức vào dụ dỗ giấc ngủ mồ côi


Ngày kiêu hãnh người bước đi mạnh mẽ
in dấu chân vụn vỡ niềm đau
hằn sâu
trên đường tình sầu
niềm tin đã chết

Người đàn bà thông minh và xinh đẹp
ngẩng cao đầu nhốt trọn khát khao
nở nụ cười cao ngạo
trước ánh mắt hau háu của những gã đàn ông khát dục

Người gieo niềm tin vào đời dung tục
những hạt mầm sợ hãi phân ly

Đêm màu mỡ
cô đơn tự do đâm chồi
cắt cứa thịt da
những giọt nước mắt tuôn ra
yêu thương nghèn nghẹn
giấc ngủ trọc trằn

Người đàn bà kiêu hãnh
thông minh và xinh đẹp
thả giấc mơ bay
không đến đích
cõi tình say....

Và ngày mai
người vẫn mạnh mẽ bước đi
đạp lên bóng chiếc
chẳng thể phân ly

Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

AI MUA BOSAI TÔI BÁN ĐÂY





Ai mua bonsai tôi bán đây
bán cây ngoài nắng chẳng che dù
mồ hôi bù khú lá xanh mướt
em đi phượt về có ghé thăm?


Bonsai tôi bán đã nhiều năm
cũng đủ ăn nằm với gió trăng
bốn mùa hoa nở khoe sắc thắm
tỏa chút hương thầm đợi quả nhân

Đôi lần em ngắm vẫn băn khoăn
bonsai tôi bán đã già khằn
khó khăn chăm sóc liệu có đặng
hoa xinh trái đẹp được mấy lần?

Có gì đâu mà em lấn cấn
bonsai tôi bán vạn sự tùy duyên
hữu tình hoa nở hương thơm ngát
vôi bạc cây tàn chết bên hiên

Ai mua bonsai tôi bán đây...

NÓI ĐI EM



Nói đi em
hãy nói lời yêu
để tháng ngày hoàng hôn ôm chiều dành dỗ
vầng trăng non chẳng tìm bóng đổ
lặng lẻ bên đời nhặt lá vàng rơi


Nói đi em
lời chưa kịp nói
tình chết rồi giọt nước mắt sẽ mồ côi
bên mộ anh lá vàng không người đốt
hồn lang thang mờ mịt lối luân hồi


Nói đi em
hãy nói trọn lời
kiếp này duyên nợ thành đôi... vuông tròn


Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017

NGUYỆN CẦU QUỶ DỮ




Đêm noel
Chúa sinh ra đời
triệu triệu lời xưng tội
bay sáng rực bầu trời


Tôi chìm trong bóng tối
cầu nguyện quỷ Sa tăng
tặng tôi hàm răng nanh
cắn cho tình bất tử


Cúi xin loài hung dữ
thôi ngấu nghiến rừng xanh
thôi đừng gây chiến tranh
cho thú tôi yên lành


Tôi xin một trái tim
làm bằng ma túy đá
phê cuộc đời xa lạ
quên thằng người hôm qua


Tôi xin làm đàn bà
trâm cài trên mái tóc
đâm vào đêm hỏng hóc
cứu khoảnh khắc nồng say


Tôi xin một chiếc hài
mang vừa chân tình ái
đưa em về hoang dại
xây lâu đài tương lai


Tôi xin quỷ đọa đày
làm thằng người hiện tại
mang vào thân oan trái
cho đời trọn trả vay

TA MẢI MÊ HẰNG NGA MÀ QUÊN TRẦN GIAN CÒN CÔ TẤM





Ta mải mê Hằng Nga mà quên trần gian còn cô Tấm
ngày qua ngày gánh thóc sang sông
mái tóc thả rông bết bồng mồ hôi của đất
da thịt mặn nồng mùi rơm rạ đồng chiêm
ánh mắt lá răm cong bờ hoàng hôn tím
bẽn lẽn phập phồng vồng ngực ngóng trông
câu hò mênh mông ửng hồng con sóng
nóng bỏng lưng ong cháy vạt cỏ non


Ta nát tang bồng say trăng vớt bóng
rượu thâu canh mê đắm vị đắng cay
bến tàn phai đợi chờ Hằng Nga tái thế
nối lương duyên bắn hạ mặt trời

Đôi chân chẻ bùn em vẫn gánh thóc qua sông
len lén đong tấm lòng vào bầu hy vọng
để ta say
ta sống với cuồng ngông
để ta say
ta sống với bão giông
để ta say
ta sống với đục trong

Ta mải mê Hằng Nga mà quên trần gian còn cô Tấm
đêm đêm lặng thầm góp nhặt câu thơ...

TA CỨ NGỠ CÕI TÌNH LÀ CÓ THẬT





Thịnh suy một cuộc bể dâu
người đi kẻ ở hạt sầu vỡ tan
đêm khoe bóng dưới trăng tàn
cuối đông một ngọn gió hàn nhói tim


Đường mơ quạnh quẽ kiếm tìm
cánh hoa trôi dạt bến tình bình yên
mùi hương dập nát ưu phiền
lắc lay thức tỉnh con thuyền đắm say


Phù du danh lợi sắc tài
nhục vinh thành bại võ đài trần gian
hành trang gốc cội mỏng manh
vô thường mang vác lỡ làng tử sinh


Ta cứ ngỡ cõi tình là có thật
nên tất bật kiếm tìm bến  đỗ nhân duyên

Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

NỤ CƯỜI THẢ TRÔI




Sông quê
sương trắng
chiều mù lòa
biển xa vẫy gọi con đò ra khơi


Buồm căng vội
gió xé tả tơi
chơi vơi người đứng
nửa đời vô duyên


Bỗng chừng
trời lạnh
gió lặng thinh
hoàng hôn đổ bóng cúi tìm
bình yên


Bài toán nhân gian ai đo đếm
trăng non xuất hạn chiếc liềm tử sinh
hỏi người sao cứ mãi lưu linh
tiếc chi
khoảnh khắc phân ly đôi bờ


Mồ côi vồn vã
con đò
Người neo nỗi nhớ
nụ cười thả trôi

VAY TRẢ






Ta vay loài người sinh mạng
trả lại một đời cặm cụi trở trăn
mấy tỷ thời gian tử tế, khó khăn
lãnh đạm công bằng
bi thương vay - trả


Ta sống cùng cõi vô thường
khởi đầu hành trình vay- trả
vạn kiếp bản ngã
vẫn chỉ là trả -vay


Hành trình dài thỉnh thoảng le lói sáng
chẳng có gì đáng để tự hào
như ngôi sao rơi rụng
đốt định mệnh huy hoàng.


Một vài người băn khoăn
ngắm sao băng ngẫm nghĩ kiếp con người
trả -vay
vay - trả
nào biết ai là
kẻ trả người vay

NƠI HÀNH TINH EM CHƯA KỊP TỚI





Con suối cạn
dòng sông cạn
rồi một ngày biển cũng sẽ cạn theo
mặt trời đổ xuống loài người cơn khát sống
họ ăn nhau trên con đường tìm kiếm một hành tinh


Em ăn ta bằng bằng lời giả dối
ta ăn chính mình bằng niềm tin lạc lối
nào đâu ai có tội
với sự sống của đất và cái chết của trời
như một sự thật tuyệt vời

Câu thơ chưa kịp rơi
tình đã vội nát rồi
nơi hành tinh em chưa kịp tới
có cỏ cây nào đâm lộc nở hoa?

Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

NGÀY RẰM NHỚ LẶT LÁ MAI



Truyện ngắn : Phạm Đình Trúc Thu


Nhà tôi có cây mai to, gốc u nần, bộ rễ đẹp. Nội kể, lúc sinh ba tôi, ông đã đem cây mai kiểng trong chậu ra trồng ngay giữa sân trước nhà với cầu mong ba tôi cũng có được sức sống mạnh khỏe như loài mai vậy.


Lúc nhỏ, tôi thường cùng nội lặt lá mai. Nội bảo : “ Cứ ngày rằm thì lặt lá, cây mai sẽ trổ bông đúng tết”. Năm nào cũng như năm nào, đến rằm tháng chạp là nội lặt lá, đến mùng một tết cây mai nở bông vàng rực, ai nhìn cũng phải lên tiếng khen. Vào dịp tết, cây mai luôn là niềm kiêu hãnh của tôi với bọn trẻ trong làng.


Ông bà nội chỉ có hai người con, ba tôi và chú. Ba tôi lớn hơn chú năm tuổi. Ba tôi học hết tiểu học thì nghỉ ở nhà phụ ông lo việc đồng áng. Riêng chú, được học lên trung học, rồi về Sài gòn học đại học.


Mỗi lần, lặt lá mai, nội vẫn hay kể chuyện. Nội nhớ đến ông, nhớ đến ba tôi. . Nội kể,chú về Sài gòn học, rồi tham gia hoạt động cách mạng. Ba tôi đã nghĩ ra cách đào hầm bí mật dưới gốc mai trước sân nhà để chú trú ẩn mỗi khi về thăm nhà,về quê tôi hoạt động.


Lúc tôi lên năm, một hôm lính ập vào nhà bắt trói ba tôi dẫn đi. Mẹ nói, ba tôi bị tra tấn, đánh đập rất dã man . Ba tôi được thả về thì lâm trọng bịnh, không lâu thì mất.Từ đó, chú không về nữa. Sau ngày giải phóng, chú về và làm lãnh đạo ở huyện, rồi lên tỉnh, đến giờ.Khi phong trào chơi kiểng rộ lên, có nhiều thương lái tìm đến nhà tôi hỏi mua cây mai, trả giá rất cao, hơn năm lượng vàng nhưng nội nhất mực không bán.


Rồi chuyện không may xảy đến với tôi. Tôi bị tai nạn giao thông, phải mổ. Vì lo cho tôi, nhà không tiền, nội đành dứt ruột kêu người bán cây mai. Mẹ nói, chú nghe được, chú về bảo Nội bán người ta bao nhiêu thì bán chú bấy nhiêu. Rồi chú đưa tiền cho mẹ , cho người bứng cây mai đem về nhà chú.


Tôi ở bệnh viện về,không thấy cây mai đâu, tôi hốt hoảng hỏi nội: “ cây mai đâu rồi nội ?”. Nội nheo nheo mắt cười, xoa đầu tôi : “ Cháu nội sống lại là nội mừng rồi.”. Mẹ bảo: “ Nội bán cho chú để lấy tiền chạy chữa cho con”. Tôi nghe lòng xót xa, chỉ biết trách mình.


Mùa đông năm đó, nội ngã bệnh, phải nhập viện. Thỉnh thoảng,nằm trên giường bệnh, nội lại kêu tôi hỏi: “ Hôm nay là mấy rồi con?”. Rồi nội nhắc : “ Ngày rằm nhớ lặt lá mai nghe con”. Tôi chỉ muốn khóc. Rằm tháng chạp, nội mất.


Đám giổ đầu của nội, tôi đem cây mai con trồng vào nơi cây mai của nội. Cây mai theo năm tháng lớn dần, năm nào đến rằm tháng chạp tôi cũng lặt lá là cây mai trổ bông đúng tết,dù không rực rỡ như cây mai của nội.


Cây mai của nội đem về nhà chú, được cắt sửa và ghép giống mai khác nở bông có đẹp hơn, nhưng mỗi lần gặp tôi ,chú than phiền là cây mai chẳng mấy khi trổ bông đúng tết. Chú lại hỏi tôi có cách nào để cây mai trổ đúng không.Tôi lắc đầu, những nghệ nhân chú bỏ tiền rước về chăm sóc còn không làm được huống gì là tôi. Có điều lạ,chính chú cũng thấy là cây mai tôi trồng lúc nào cũng nở rộ bông vào ngày mùng một tết. Có lẽ, tôi luôn nhớ lới nội dặn : “ Ngày rằm nhớ lặt lá mai nghe con !".


Bây giờ, tôi đã có gia đình và con trai tôi đã hơn ba tuổi. Đến rằm tháng chạp, con tôi lẽo đẽo theo tôi lặt lá mai và tôi lại dặn nó: " ngày rằm nhớ lặt lá mai nghe con".Thằng bé gật đầu nhưng chắc không hiểu vì sao phải vậy. Nó chỉ nhoẽn miệng cười thích thú lặt từng lá mai....


Xuân 2000
PĐTT ( đã chỉnh sửa)

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

TỰ SƯỚNG





Tôi vẫn luôn dối mình
khi chia tay cuộc tình
em vẫn xinh
và không phụ tình.


Tôi chỉ tự trách mình
không giữ được em trọn cuộc hành trình
tìm kiếm nỗi đau
trong hạnh phúc nguyên trinh.


Tôi lại một mình
bước lên đài hành hình
uống đợi chờ
ăn nỗi nhớ
giải trí với những giấc mơ
và tự dối mình
em nào phụ tình.


Tự sướng
như những người lính
hy sinh trên chiến trường
viễn chinh
nào nhận ra kẻ bắn mình...

NGÀY TRÔI...



Cất nỗi nhớ em
đêm
Tắc Kè ngủ muộn
trăng hạ tuần nhè nhẹ tàn phai
bóng ngã trên tay gió thôi thở dài
lòng gom lại với tháng ngày vay trả


Câu thơ độc vận còn dang dở
vần lững lờ trôi ở giấc mơ
người đến người đi có chi là bỡ ngỡ
đời vô thường
tình cũng lắm ngu ngơ


Cất nỗi nhớ em
dại khờ dậy sớm
hạt nắng vàng ươm hoa nở thơm
bước chân ra phố
ai cười hớn hở
vị tha về thong thả ngày trôi...

SÂN GA MỖI MỘT CON TÀU




Nơi người sống mùa này lạnh lắm phải không
con gió đông hẳn khát thèm ngụm lửa
đôi môi thơm có còn ươm mầm hứa
đón xuân về hôn miết tóc mây


Ở nơi nầy phố vẫn thơ ngây
phơi thân nắng đốt cháy tim gầy
đêm lẩy bẩy cùng gió cười run rẩy
đợi cơn say vun đắp giấc ngủ đầy


Giữa lưng chừng cành mai nở trắng
tiếng chuông nhà thờ lỡ dỡ lời kinh
đôi nhân tình giáng sinh thề hẹn
xây sân ga đón mỗi một con tàu


Nơi người sống những bông hoa có còn khao khát
nở rộ trên bờ nóng bỏng môi hôn
hơi thở phập phồng nồng thơm da thịt
tịch mịch sân ga hiến nụ xuân tình


Cơn say kết tụ bóng hình
người thương kẽ nhớ con tàu vô minh...

ĐÊM NGUYỆT TRÀN



Đêm nguyệt tràn dòng sông dậy sóng
cỏ ngã nghiêng che bến bờ thương
thiếu phụ buồn trầm mình e thẹn
gió cợt đùa vén tóc khoe khuôn


Đêm nguyệt tràn triều dâng ánh mắt
âm ẩm tình thôi thúc khát khao
sóng vỗ thì thào lời ân ái
niềm yêu lai láng đổ váng sông vàng


Dang tay em hứng nguyệt tràn
nỗi đau sinh nở vừa tàn trên mi...

Những tiếng thì thầm





bạn thân ơi,
nói thật là:
suốt một đời đứng đắn
tôi vẫn có rất nhiều điều
ân hận
rất nhiều điều
chẳng dám nói to.
như chuyện sáng nay thôi,
dù rất nhỏ,
cũng khiến tôi lấn cấn đến giờ.
có người ủng hộ tôi,
bảo: chả sao, chuyện bằng con muỗi.
nói thêm lại hóa dở hơi.
tôi cũng cho nó chẳng đáng phải nhắc trên đời.
giết con muỗi ai coi là suy đồi nhân cách?


nhưng cũng có người
dù không nghiêm mặt trách.
vẫn chỉnh huấn tôi: điều đó không nên.
tôi thì cho là họ đạo mạo thành quen.

nhưng,
không hiểu sao,
kể từ lúc ấy,
tôi cứ thấy buồn buồn thế vậy
cứ thấy lòng bứt rứt không yên,
cố thả lỏng người, hai mắt láo liên,
để cái vấn đề không trở thành thể rắn.
nhẹ như khí, chẳng thành hình,
không có trong đầu mình thì cũng chẳng trong đầu người khác.
đừng cho nó hiển ngôn là được,
vì chẳng có từ nào để diễn tả tương đương.
nếu ngữ ngôn như một đại lượng đo lường,
thì nó nhỏ thôi,
chỉ bằng 0,00000000….n 1 phần trăm của chiều ngôn ngữ.
nên sẽ rất sai lệch khi dùng câu chữ,
nói ra sẽ cấp thêm cho nó ti tỉ lũy thừa.

bạn thân à,
dù cố dửng dưng, tưng tửng như lá với nước mưa,
tôi vẫn thấy có chút gì cắn rứt,
dù chuyện nhỏ thôi, có điên mới quy về đạo đức,
họ và tôi là hai hệ thống khác nhau
tôi chẳng sai đâu.
nhưng từ lúc thấy trong người bứt rứt,
tôi biết hệ thống của mình đã bị thâm nhập
bởi những yếu tố ngoài,
qua tiến trình nội hóa.

thế nên,
bạn thân ạ,
chuyện không thể giữ mãi trong người,
tôi lại chẳng đủ can đảm để nói to,
vậy nên, ghé sát tai đây:
……abcdđ@#$%^&*…..
……………………….
(rất nhỏ)

suỵttttt!!!!

Nguyễn Hồng Phúc

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

TÌNH EM GIEO XUỐNG CÂU THƠ





Khởi sinh duyên nợ ở người
ta đành đón nhận phận đời trả vay
tình đến tình đi sầu trang trải
vàng phai sắc lá gió thu bay


Quả nhân gánh nặng hai vai
đôi vầng nhật nguyệt u hoài non cao
tang bồng chí cả khô khan máu
tình say một chén rượu khát khao


Xác thân chôn dưới cội hoa
hồn yêu trôi dạt bờ xa cách bờ
ngày hững hờ bước qua nức nở
đêm vật vờ chấp vá giấc mơ


Tình em gieo xuống câu thơ
đời ta nhặt chữ đợi chờ tàn phai

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

BUÔN SINH TỬ





Đại hạn, tiểu hạn đã qua rồi
Sang hèn, vinh nhục cũng đủ đôi
Nợ duyên, vay trả vừa cạn phận
Bóng người, lui tới vẫn bạc vôi
Vòng đời còn lại dài hay ngắn ?
Ngày đêm cười khóc bước đơn côi
Thôi thì xuống phố buôn sinh tử
Xin em trả giá một lần thôi !

NGUYỆT LÃO



Có ai vay nợ tôi không?
Trả tôi một sợi tơ hồng ta leo.


Tìm lên Nguyệt lão tôi trèo
Mấy sông, mấy suối, mấy đèo cũng qua
Đến nơi chỉ thấy tòa nhà
Trống quơ, trống hoác như là nhà ma


Thì ra Nguyệt lão khật khà
Sớm say,chiều xỉn như tôi thôi
đành quay về lại phố côi
Nghêu ngao hát khúc bạc vôi vô thường


Tơ hồng một sợi dây thương
Nào ai biết được qua đường mắc dây?
Bởi gì lão Nguyệt tỉnh say
Nên tôi say tỉnh ,tỉnh say một đời.

ĐỜI LÁ NGỦ




Đêm băng lạnh vỡ quên thành nhớ
dưới ánh trăng tàn tôi đỡ lá rơi
sương bịn rịn ru đời lá ngủ
nghiêng chao mình nhỏ giọt mồ hôi.


Em hất tình sầu lăn vũng ngực
nước mắt mặn mòi đặcquánh đơn côi
tôi rơi dĩ vãng ướt mềm ký ức
mơ vẽ lên trời nửa dấu son môi


Em với tôi
đêm và ngày xa vợi
hò hẹn chưa về đã bạc như vôi
đêm rượu nhạt thương đời lá ngủ
đợi tàn trăng uống giọt thiên thu

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2017

NGƯỜI ĐÀN ÔNG EM ĐỢI


Người đàn ông em đợi
nào có phải là tôi
nên tôi nào có lỗi
trong góc tối tôi ngồi


Đêm trông đời thay đổi
nhìn trời sao tranh ngôi
gió thì thầm giận dỗi
bán vầng trăng nát nhàu


Ánh vàng rao lơ láo
trên ngực trần hư hao
chút tình rơi lạo xạo
bóng ra vào lao nhao


Em thả từng nỗi đau
đêm nhuốm màu huyền ảo
tôi nhặt chùm khát khao
đốt ngôi sao ngổ ngáo


Người đàn ông em đợi
nào có phải là tôi
nên góc tối tôi ngồi
vẫn đong đầy tội lỗi


Nghe đời đi rất vội
bước hao gầy lên tôi...

MỘNG





Có những lúc tôi nằm mộng
tôi thấy mình bay bổng
cánh là đôi tay
tự do tôi vun vút bay trên bầu trời xanh trong


Có những lúc tôi nằm mộng
tôi thấy mình sợ hãi
chắp đôi tay bái lạy
xin lỗi bầu trời, xin lỗi tôi

Có những lúc tôi nằm mộng
tôi ôm em vào lòng
môi bấu môi nóng bỏng
em tan vào hư không

Tôi có thể cùng em hy vọng
có thể cùng em xây đắp ước mơ
nhưng tôi nào có thể chia sẻ cho em giấc mộng của tôi
dù tôi có thể trao cho em sự sống của chính mình.

Mộng là ảo
đời tôi là thật
Xin em đừng cầu vọng
San sẻ giấc mộng của tôi

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

CÂU CHUYỆN XÃ HỘI: VIỆT NAM CÓ THỪA ROBOT LÀM VIỆC ĐỂ LÀM CMCN 4.0?

Kẻ nghèo mơ mộng viễn vông
cmcn 4.0 nhà nông tiêu đời...










Đã có những thời đất nước chúng ta nhiều mộng mơ. Đầu tiên là ngày xưa mơ về nước Nga trong những vần thơ tráng lệ của thi sĩ Tố Hữu lúc còn Pháp thuộc. Rồi khi giành độc lập xong và thống nhất đất nước, chúng ta mơ xây dựng nền công nghiệp nặng cùng CNXH. Đổi mới bắt đầu, chúng ta mơ có nền công nghiệp ô tô và công nghiệp điện tử để biến Việt Nam thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại hoá sánh cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành những nhiệm vụ đó vào năm 2020. Và cứ như thế và năm tháng trôi đi…


Nhìn lại mới thấy mong ước có nhiều nhưng làm được chưa bao nhiêu: Việt Nam chỉ bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp mới được có dăm năm với năng suất lao động vẫn còn thua xa các nước lân bang, có chăng mới chỉ còn hơn được Myanma, Lào và Campuchia, nhưng cũng không rõ sẽ duy trì vị thế đó được bao lâu nữa.


Bất ngờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 rơi xuống nước ta như một cứu cánh rực rỡ cho định hướng phát triển: giúp bỏ qua những tranh luận sôi nổi lâu nay về cải cách thể chế kinh tế cùng việc xác định nội hàm cụ thể cho khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ đâu ra thì không ai rõ lắm nhưng xem ra thuật ngữ này đang là thuật ngữ phổ biến nhất trên truyền thông đại chúng nước nhà lúc này.Và cùng với nó là hy vọng về một quốc gia khởi nghiệp sẽ tới. Nhưng cuộc cách mạng 4.0 này thực sự là cái gì?


Về cơ bản, có thể hiểu cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ là sự xuất hiện và phổ biến một loạt công nghệ mới có tính tương tác và tích hợp cao trên nền tảng công nghệ thông tin. Nhờ việc số hóa hoạt động kiểm soát và truyền thông, các quy trình sản xuất mới xuất hiện trong đó trí thông minh nhân tạo và robot hóa sẽ đóng vai trò chủ chốt giúp thay thế những lao động giản đơn trong quy trình sản xuất. Do đó, năng suất lao động được đẩy lên rất cao: một bước nhảy vọt kể từ thời Ford đưa dây chuyền sản xuất ô tô vào đời sống hơn 100 năm về trước, khởi đầu cho cách mạng công nghiệp lần thứ 2.0.


Có điều, đây là sản phẩm của những xã hội đã đạt trình độ phát triển và để có thể triển khai được nó, cần có những điều kiện nhát định, cả về kinh tế lẫn xã hội. Cho nên, cũng đến lúc cần tư duy lại một cách thực tế xem nên làm gì để khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 rất vĩ đại này của loài người trong điều kiện cụ thể nước ta. Xem ra, cơ sở xã hội là những điều kiện cần được tính tới trước hết để cách mạng 4.0 có cơ đi vào cuộc sống.


Có ít nhất 3 yếu điểm về mặt xã hội cần được lưu ý tới ở đây.


Đầu tiên là sự băn khoăn về việc liệu cuộc Cách mạng 4.0 có được xã hội nước nhà chấp nhận không với câu hỏi cụ thể: triển khai nó để làm gì khi lao động đang còn dư thừa ở quy mô rất lớn và giá nhân công Việt còn rất rẻ, nhất là ở nông thôn và vùng sâu vùng xa.
Cuộc cách mạng 4.0, như chúng ta biết, xuất hiện ở các nước tiên tiến dưới áp lực các nguồn lao động bị khan hiếm và đẩy chi phí tiền lương lên rất cao, như trường hợp của Nhật Bản nơi có tỷ lệ người già cao nhất thế giới và số lượng robot đang đứng đầu thế giới.


Đây cũng là câu chuyện đã xảy ra ở nước Anh khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 đưa máy hơi nước vào để giải quyết bài toán tiền công của công nhân tăng cao.


Trong khi ở nước ta hiện nay thì khoảng 70% dân số vẫn ở nông thôn, mức sinh thấp 2 con cho mỗi gia đình vẫn chưa vững khi ngay ở Thủ đô Hà Nội số sinh con thứ 3 đã vọt tăng trong năm 2016, và năng suất lao động thấp nên tiền công còn lâu mới cao đến mức các nhà đầu tư phải cân nhắc để lựa chọn việc đưa máy móc công nghệ cao vào sản xuất, chưa nói đến robot, trí tuệ nhân tạo hay internet kết nối vạn vật.


Đây là một tiền đề rất quan trọng mà các nhà lập chính sách nước ta hình như chưa từng đặt đúng tầm vóc của nó: làm thế nào để đảm bảo công ăn việc làm cho một khối lượng lớn người tay nghề chưa cao và vẫn đang chủ yếu sản xuất nông nghiệp? Cứ xem việc dư thừa thịt lợn hiện nay, một lĩnh vực mới chỉ áp dụng không nhiều tiến bộ khoa học và kỹ thuật, đang làm chao đảo nền kinh tế là đủ rõ!


Còn nếu nhìn đàn cá sấu hàng vạn con đang bị bỏ đói do không có thị trường tiêu thụ thì càng thấy rõ hơn quy mô của vấn đề việc làm cho số đông người lao động. Mục đích của cách mạng 4.0 nếu đưa vào cuộc sống chưa rõ có được sự đồng thuận của xã hội hay không.


Chương trình giáo dục luôn đổi mới


Tiếp đó, sự đào tạo chuẩn bị cho nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của đời sống và sản xuất đang còn yếu kém, nếu không muốn nói là thụt lùi so với các quốc gia láng giềng: sau nhiều lần thay đổi, đến nay một chương trình giáo dục phổ thông mới do Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết chủ trì lại đang được bắt đầu đưa vào thử nghiệm.


Phạm Bích San

ANH MUỐN KỂ CHO EM NGHE





" tinh mơ theo tiếng còi tầm
bước vào nhà máy lặng câm đợi về "


Thị xã quê mình giờ chỉ còn trong ký ức
nay đã là thành phố tầm cao lắm tiếng ồn ào
con ngõ nhà em đâu còn hoa dại
giàn Tigon nhà anh nào đủ nắng để xanh

Nụ cười trên môi mẹ ngày một vắng
ánh mắt ba trầm ngâm khi nhìn tuổi trẻ tan tầm
ngày cũng như năm
những con hẻm lên đèn khua tội lỗi

Nơi lề đường những thằng con trai thi nhau uống tương lai
gương mặt đỏ gay đợi ngày tím tái
đâu đó trong góc tối bương chảy
một vài cô gái vén váy thành nghề

Ngày mẹ sinh em với bàn tay dị tật
nước mắt tuôn trào nào hiểu tại sao?
vết thương trên ngực ba chừng như tái phát
chất độc màu da cam vẫn khai hóa quê mình

Em đã không sống đến tuổi thôi nôi
để chọn cho mình cái nghề lương thiện
để nhìn thấy người anh tráng kiện
vác tiếng còi tầm vào cả giấc mơ

Anh muốn kể cho em nghe
giấc mơ ngủ gà ngủ gật của người thợ tăng ca có lắm điều lạ
xí xô xí xào tiếng Mỹ tiếng ta
ngộ độc thực phẩm hôm qua cả ngàn thằng chưa kịp chết
lại kịp lê lết hôm nay theo tiếng còi vào ca ba.

Anh muốn kể cho em nghe chuyện của hôm qua
dòng sông quê mình trong xanh êm ả
cánh diều anh thả
lồng lộng giữa trời xa

Thị xã quê mình giờ đã là thành phố
tầm cao ngồn ngộn nuốt chửng bầu trời
con ngõ nhà em đâu còn hoa dại
giàn Tigon nhà anh nào đủ nắng để xanh...


SAY ...




Rượu
phơi sương ta uống
Lạnh
vá víu tim gan
Say
ánh trăng vội tàn


Nôn
linh hồn lang thang
Đạp
mặt trời rách nát
Nhặt
một ngôi sao lạc
Gom
những mảnh xương khô
Nấu
một bầu rượu nhạt
Uống
cạn dòng bội bạc

Say ...

LỤC BÁT TỰ DO

HOÀNG XUÂN TUYỀN



1.
Tự do nào! Tự do nào!
Tự do ta dắt ta vào miền thơ
Con đường lục bát cam go
Bao con chữ mất tự do thành vè.
2.
Tứ mờ mịt, lời lê thê
Nửa phố thị, nửa thôn quê - nửa mùa
Tưởng rằng trí tuệ có thừa
Kỳ tình lú lẫn ngu ngơ đứng đầu.
3.
Tự do? Ai bảo sao đâu!
Mỗi dòng mỗi nản, mỗi câu mỗi buồn
Tự do chấp chới cánh chuồn
Một mình một bước một đường một xa.
4.
Tự do đây. Tự do mà!
Tự do đáy giếng cũng là tự do?
Trời kia - nắp ấm tròn vo
Hé mắt ếch, cất tiếng ho: - Xin chào!
5.
Tự do nào! Tự do nào?
Tự do thét, tự do gào - tự do?
Kiếm tìm lục bát quanh co
Bước cao bước thấp lò dò ta đi.
6.
Tự do nhất, tự do nhì
Tự mình mình đã biết gì tự do.
Vần vèo thêm quẩn chân thơ
Non tay biết đến bao giờ hết non.
7.
Tự do mất, tự do còn
Tự do dựa dẫm héo mòn tự do.
Ý gầy guộc, nghĩa ốm o
Lo trâu sứt sẹo, sợ bò trắng răng.
8.
Tự do cây - ngát hương xanh
Tự do ta - ngọt đầu cành chiêm bao.
Tự do! Nào tự do nào!
Tự ta chọn, tự mình trao cho mình.
9.
Tràng giang đại hải linh tinh
Đương đà lục bát, bất thình lình ... tự do
Ta tự do - Thơ tự do!

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

TẶNG TA MỘT CÀNH HỒNG




Tiếng chim hót hừng đông
nắng ấm tựa cửa lòng
bên ly cà phê nóng
một cành hồng nhú bông


Đêm còn trong giấc mộng
nhìn gió rét ngoài song
ký ức về náo động
xôn xao bến chờ mong

Bóng ta soi đục trong
dòng đời trôi nhếch nhác
ánh trăng vàng bàng bạc
tình lưu lạc mênh mông

Tiếng chim hót trong lồng
mặt trời lên lầu vọng
chừng như xuân lấy chồng
tặng ta một cành hồng

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

BỐN MÙA KHÔNG EM




Phố không tiếng em cười
nắng ban mai lạnh ngắt
ta trùm khăn bịt mặt
thả mây trắng mùa đông


Phố không mắt em nhìn
hoa mai nở vàng bệch
ta ngồi như chú ếch
phun mưa xuân lềnh khênh

Phố không em sụt sịt
lũ ve sầu lặng thinh
ta ngắt cành phượng tím
rãi hoàng hôn yên bình

Phố không em câm nín
đám lá vàng lim dim
ta trộm thu vãi yếm
đắp mặt nạ trăng đêm

Phố bốn mùa tẫn liệm
đời vôi vữa kiếm tìm
ta lấm bùn đĩ điếm
đợi mùa em chết chìm

ĐI VỀ MỘT CÕI LẦN KHÂN...






Môt ngàn năm
một vạn năm
con tằm rút ruột nhả tơ
khung trời trăng khuyết dệt thơ dâng đời


Một ngàn năm
một vạn năm
con đò ta đợi em cười
qua dòng sông chết về nơi vĩnh hằng


Môt ngàn năm
một vạn năm
em quên duyên nợ lỡ làng
ta mang lời hẹn lang thang lá vàng


Một ngàn năm
một vạn năm
đi về một cõi lần khân...

MỘT CHÚT NIỀM VUI TRONG MẮT NGƯỜI



Nỗi buồn người trả cho tôi
Tôi đành phải gửi niềm vui tặng người...


Nỗi buồn tôi gắn lên hoa
mới được vài ngày hoa rời rã
bởi hoa ở chợ bạc như là...
tôi đành lếch thếch tập trồng hoa.


Trái gió trở trời vàng vọt đọt
đủ sương đủ nắng xanh mượt mà
mồ tôi tôi đổ theo vất vả
xum xuê cành lá chẳng thấy hoa.


Chán cái sự trồng thơ lại ra
thơ bay tứ tán khắp cả nhà
nhặt lên chỉ thấy buồn vênh váo:
ta đây đích thực ngươi sinh ra


Phải chi buồn là ngọc là ngà
tôi sẽ quét nhà gom lại bán rao
có ai cao hứng mua áo não
tôi sẽ giàu cao ngạo kiêu sa


Đô la chưa có tôi ở nhà
buồn rơi cặm cụi bón luống hoa
bao giờ hoa nở tôi đem đổi
một chút niềm vui trong mắt người

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

THUYẾT NHÂN DUYÊN


Tuệ Thiện Nguyễn Tối Thiện

Để diễn tả sự liên hệ giữa hai sự vật trong vũ trụ, triết học Trung hoa đưa ra nguyên lý Ngũ Hành bao gồm 5 yếu tố tượng trưng cho năm cơ quan tạng phủ hay năm năng lực khí hóa : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Nguyên lý Ngũ Hành có thể được phát biểu như sau : « phàm cái gì hiện hữu đều có cái sinh ra nó, cái khắc nó, cái nó sinh ra và cái nó khắc, tạo thành một toàn thể 5 yếu tố liên hệ chặc chẻ. »
Nguyên lý này áp dụng cho các phần tử (éléments) vật chất hoặc các năng lực khí hóa nhưng nó bị giới hạn trong một đơn vị thời gian nào đó tùy theo sự vận hành của yếu tố vật chất nầy.
thuyet nhan duyen
Phật giáo đưa ra hai nguyên lý để giải thích sự tương quan nầy : Duyên Sinh và Duyên Hệ
1/ DUYÊN SINH : (hay DUYÊN KHỞI) là nguyên lý giải thích sự tương quan nhân quả trong tiến trình sinh tử, tử sinh của chúng sanh trong vòng luân hồi. Nguyên lý Duyên sinh có thể được phát biễu như sau :
« Khi cái nầy có, cái kia có.
Khi cái nầy không có, cái kia không có ».
2/ DUYÊN HỆ : là nguyên lý đề cập một cách tổng quát và rốt ráo sự tương quan giữa hai yếu tố có thể là vật chất hay tinh thần, đồng thời còn cho biết đặc tính của sự liên hệ giữa hai yếu tố.
Nguyên lý Duyên hệ tiến xa hơn một bước :
« Khi cái nầy có, cái kia không có
Khi cái nầy không có, cái kia có
Cái sinh sau trợ duyên cho cái sinh trước (hoặc ngược lại)
Cái yếu trợ duyên cho cái mạnh (hoặc ngược lại) »
Chúng ta thử đi vào chi tiết các nguyên lý nầy.
DUYÊN SINH hay DUYÊN KHỞI
Duyên sinh hay Duyên khởi dịch từ chữ Paticca Samuppada (paticca= tùy thuộc, dựa vào ; samuppada = sanh khởi, phát sinh) nên còn được gọi là thuyết « Tùy thuộc phát sinh » hay thuyết « Thập Nhị Duyên Khởi » hoặc « Thập Nhị Nhân Duyên ». Đây là thuyết nói về 12 yếu tố liên quan Nhân và Quả với nhau. Yếu tố trước là điều kiện trợ duyên cho yếu tố sau sanh khởi để hoàn thành diễn trình sinh tử của vòng luân hồi. Thuyết nầy nêu ra những điều kiện nào duy trì sự vận hành của bánh xe sanh tử và làm cho nó xoay chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác.
1/ VÔ MINH : là sự thể hiện của nhân Si (tâm sở Si), nói lên sự không sáng suốt, không chính xác, mù mờ diễn tiến của tâm trên hoài nghi và phóng tâm. Vô minh là không biết những gì xảy ra trong tâm mình (vô ký).Vô minh là không biết cái đáng biết và biết cái không đáng biết.
Những cái đáng biết là : khổ đau, nguồn gốc của nó, trạng thái giải thoát khỏi khổ đau và con đường dẫn tới sự chấm dứt của khổ đau (Tứ Diệu Đế)
Những cái đáng biết là : danh sắc trong hiện tại (pháp thiền để nhận diện danh sắc) ; danh sắc trong quá khứ và vị lai (sự luân hồi) ; Nhân duyên để làm cho danh sắc sanh khởi, lưu chuyển và tái diễn (nhân quả, nghiệp báo).
Phật giáo dạy ta 3 mức độ của sự hiểu biết :
- hiểu biết qua sách vở, danh từ
- hiểu biết qua sự suy nghĩ, luận giải
- hiểu biết nhờ sự thâm nhập thấu đạt thực trạng của sự vật. Trí tuệ trực giác nầy chỉ có được khi tâm đã được gột rửa mọi bợn nhơ, lậu hoặc .
Mặc dầu Vô Minh được nêu lên đầu tiên trong chuỗi 12 nhân duyên, nhưng không nên coi Vô Minh như một nguyên nhân đầu tiên của chúng sanh, nhất là xem nó như một nguyên lý của vũ trụ. Vô Minh có nhân duyên là lậu hoặc
Như Thanh Tịnh Đạo (chương XVII, mục 36) đã viết : « Khi lậu hoặc sanh khởi, vô minh sanh khởi ».
Nói tóm lại:
* Bản chất của Vô Minh là tâm sở Si.
* Thể hiện của Vô Minh là sự không sáng suốt, mu mờ của tâm diễn tiến trên sự hoài nghi phóng tâm và không thấu hiểu những điều đáng biết.
* Kết quả của Vô Minh : làm vận chuyển sự luân hồi
* Nguyên nhân của nó là lậu hoặc
2/ Vô minh duyên cho HÀNH:Hành là sự chủ tâm, cố ý hành động qua thân khẩu ý để tạo nghiệp thiện, nghiệp bất thiện hoặc không tạo nghiệp : hành đồng nghĩa với nghiệp. Về phương diện đạo đức có 3 loại hành :
a/ Phúc hành : là nghiệp thiện qua thân, khẩu, ý :
- Qua thân : bố thí, trì giới, tham thiền, phục vụ, kính trọng người đáng kính, hồi hướng công đức, tùy hỉ, học đạo, luận đạo, rèn luyện chánh kiến.
- Qua khẩu : nói lời chân thật, lời đoàn kết, hòa nhã, lời lợi ích.
- Qua ý : tu tập không tham, không sân, không ngã mạn, không tà kiến, không nghi ngại.
b/ Phi Phúc hành : là nghiệp bất thiện qua thân, khẩu, ý :
- Qua thân : bỏn xẻn, ôm giữ, phá giới (phạm luật), ăn chơi hưỏng thụ, khinh khi người già, ganh tức, ghen ghét, không học hỏi đạo lý, không trao đổi ý kiến, chấp thủ tà kiến, buôn lậu, bán vũ khí, chất độc hại, buôn bán nô lệ.
- Qua khẩu : nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí.
- Qua ý : tư tưởng tham ái và ngã mạn, ý nghĩ sân hận và bạo hành, những tư tưởng diễn dịch sai thực tại, những tư tưởng đi ngược lại với định luật thiên nhiên và con người.
c/ Bất động hành : là những hành động không tạo nghiệp, không tốt không xấu.
Nói tóm lại :
* Bản chất của Hành : là sự phối hợp của tâm với một số tâm sở thích hợp dưới sự chủ động của tâm sở tư (cetana) để tạo nghiệp.
* Thể hiện : hành động qua thân, khẩu, ý.
* Kết quả : nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, hoặc không tạo nghiệp.
* Nguyên nhân trực tiếp là Vô Minh.
3/ Hành duyên choTHỨC
Thức là thành phần tinh thần cấu tạo nên con người. Có nhiều loại thức tùy theo nhiệm vụ của mỗi loại trong số 14 nhiệm vụ. (Xin xem thêm bài Ngũ uẩn của cùng tác giả). Ở đây trong Thuyết Duyên Khởi, Thức là Thức tái sinh (Patisandhi vinnana) là tâm nối liền kiếp sống trước với kiếp sống sau làm cho dòng luân hồi tiếp diễn liên tục. Thức tái sanh chỉ xảy ra trong một satna khi noãn và tinh trùng gặp nhau trong lúc thụ thai. Thức tái sanh thu nhận tất cả những chủng tử nghiệp từ kiếp sống trước và bắt đầu một cuộc hành trình mới. Có một sự trao đổi thông tin giữa tâm tử của chúng sanh trước và tâm tái sinh của chúng sanh mới ở kiếp nầy. Nguồn năng lượng tải chở những thông tin nầy không thay đổi, cũng giống như nguồn điện lực thấp sáng ngọn đèn đã chết và ngọn đèn mới được thay vào. Có thuyết cho rằng đây chính là năng lượng quang tử (énergie quantique) khi biến khi hiện trong vũ trụ. Không phải tâm nào cũng làm được nhiệm vụ tái sanh, chỉ có 19 tâm quả tương ứng với nghiệp đã đủ nhân duyên để trở thành thức tái sanh.
Nói tóm lại :
* Bản chất của thức : 19 tâm quả làm việc tái sinh.
* Thể hiện : sự tái sanh
* Kết quả : vòng luân hồi tiếp diễn
* Nguyên nhân : hành (nghiệp)
Còn nghiệp thì còn tái sanh, hết nghiệp thì hết tái sanh.
4/ Thức duyên cho DANH SẮC :
Danh Sắc ở đây chính là bào thai đã được hình thành, noãn đã được thụ thai.
Danh ở đây thể hiện cho các tâm sở đồng sanh với tâm tái sanh tức là Thọ, Tưởng, Hành ( 3 uẩn: thọ, tưởng, hành).
Sắc biểu thị cho các sắc sanh do nghiệp. Có 18 loại sắc sanh ra do nghiệp là : 8 sắc bất ly, 5 sắc thần kinh, 2 sắc phái tính, sắc mạng quyền, sắc ý vật và sắc hư không.( xem them bài ngủ uẩn)
- Nếu tái sanh ở cõi có Ngũ uẩn thì Thức duyên cho cả Danh và Sắc.
- Nếu tái sanh ở cõi vô Sắc thì chỉ có 4 uẩn (thọ, tưởng, hành, thức), nên Thức chỉ duyên cho Danh mà thôi.
- Nếu tái sanh ở cõi vô tưởng chỉ có sắc uẩn, thì Thức chỉ duyên cho Sắc.
Nói tóm lại :
* Bản chất của Danh-Sắc : thức tái sanh + các sắc do nghiệp sanh.
* Thể hiện : một chúng sanh mới ra đời.
* Kết quả : sự hình thành của Ngũ uẩn.
* Nguyên nhân : của danh-sắc là thức tái sanh.
5/ Danh Sắc duyên cho LỤC NHẬP
Lục nhập là sự hình thành và phát triển của Lục Căn (hay 6 nội xứ) tức là hệ thần kinh của 5 giác quan và của não bộ. Ở tuần lễ thứ 6 chúng ta đã thấy tượng hình những bộ phận thần kinh của các giác quan (Ở tuần lễ thứ 28 óc não đã có hình dạng bình thường nhưng phải đợi đến 25 tuổi thì óc não con người mới hoàn thành sự phát triển. Đối với Phật giáo ý căn là giác quan thứ 6. Như vậy trong bụng mẹ thai bào đã có thể : nghe, nếm, đụng (trừ thấy vì không có ánh sang và ngửi vì không c ó mùi hương ). Vừa sanh ra là đứa trẻ có thể nhìn thấy.
Trung bình từ 18 tuần lễ (vị giác) cho đến 28 tuần (thính giác), 25 tuần (thị giác) là các giác quan đã có thể hoạt động được.
Nói tóm lại:
- Bản chất của Lục Nhập : chính là Lục Căn hay 6 nội xứ
- Thể hiện : sự phát triển và hoàn thành của Lục Căn
- Kết quả : Lục Căn đã có thể tiếp xúc với Lục trần khi sanh ra
- Nguyên nhân : trực tiếp của Lục nhập là danh sắc.
6/ Lục nhập duyên cho XÚC
Xúc là sự gặp gở của Căn, Trần, Thức. Khi Xúc sanh khởi ở nhãn căn (thần kinh mắt) thì gọi là nhãn xúc
Như vậy có 6 loại xúc tương ứng với 6 căn : Nhãn xúc, Nhĩ xúc, Tỷ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc, Ý xúc. Thân xúc rất quan trọng trong thiền ,nhất là thiền hơi thở và thiền Tứ Oai Nghi.
Xúc chính là tâm sở Xúc kết hợp với các tâm Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.
Nói tóm lại:
- Bản chất của Xúc : là tâm sở Xúc
- Thể hiện : sự gặp gở của căn, trần, thức
- Kết quả : xuất hiện của Thức quả
- Nguyên nhân : của xúc Lục nhập
7/ Xúc duyên choTHỌ :
Thọ là cảm tính của tâm, bao gồm khía cạnh cảm giác và tình cảm của nó. Thọ chính là Thọ uẩn là một tâm sở trong 52 tâm sở. Không có tâm nào mà không mang màu sắc cảm tính.
Có 5 loại thọ kết hợp với 6 loại thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức) : Lạc (thân dễ chịu), Hỉ (tâm dễ chịu), Khổ (thân khó chịu), Ưu (tâm khó chịu), Xả (thân, tâm trung tính).
Nói tóm lại :
- Bản chất của Thọ : là tâm sở Thọ
- Thể hiện : Lạc, Hỉ, Khổ, Ưu, Xả
- Kết quả : sự xuất hiện của Thọ qua 6 loại Thức
- Nguyên nhân : Xúc
8/ Thọ duyên ÁI (vedana-paccaya TANHA)
Ái là tham lam, ham muốn, khao khát, tâm cầu
Là sự thể hiện của tâm Tham qua 6 cửa : Sắc ái, Thinh ái, Hương ái, Vị ái, Xúc ái, Pháp ái, Chúng ta muốn nhìn thấy màu sắc, hình ảnh đẹp mắt, muốn nghe những âm thanh êm dịu, muốn ngửi những mùi hương nông nàn, muốn ăn những món ngon béo, muốn sờ đụng những vật mịn màng, muốn hay biết những điều thú vị. tham đắm các dục lạc thế gian
Theo quan điểm triết học Ái có 2 loại :
-Hữu Ái (bhava tanha) : sự ham muốn hiện hữu (désir ardent pour l’existence). Hữu ái được phân chia làm 3 loại nữa :
- Dục ái (kamatanha) tham đắm các dục lạc thế gian: (désir ardent pour les expériences sensuelles)
- Sắc ái (rupatanha) : tham đắm trong cõi sắc giới (désir ardent pour les formes matérielles)
- Vô sắc ái (arupatanha) : tham đắm trong cõi vô sắc giới (désir ardent pour l'existence sans forme)
-Phi hữu ái (vibhavatanha), hay đoạn ái : ham muốn không hiện hữu ( désir pour la non-existence, ou d’auto-annihilation).
Trong định luật duyên khởi, đây là cái khâu (II) quan trọng nhất để thoát khỏi vòng luân hồi. Thật vậy vì nó xảy ra trong kiếp hiện tại, nên ta có thể tác động được. Còn khâu I xãy ra giữa quá khứ và hiện tại, cũng như khâu III xãy ra giữa kiếp hiện tại và kiếp vị lai, nên ta không thể hành động được.
Hành động như thế nào ?
* Khi ta cảm nhận một cảm giác vui thích hoặc khoái lạc tức khắc Ái sẽ sanh lên. Đó là một thói quen tập nhiễm lâu đời, Ái là tâm tham. Chúng ta muốn 6 trần phải êm ái, dễ chịu theo ý thích của mình và càng ngày càng có nhiều hơn nữa.
* Khi ta cảm nhận một cảm giác đau đớn, khổ sở (Thọ khổ, Thọ ưu) tức khắc Vô Ái (không thích) sẽ sanh lên. Vô Ái là sự bực bội, bức rức, bất bình, chối bỏ, tức giận đó là tâm Sân. Hoặc một loại Ái khác sanh lên là muốn đừng đau đớn khổ sở nữa. Như vậy ta thấy rõ ràng là THỌ duyên cho ÁI. Làm sao cắt đứt mối tương duyên nầy ? Chỉ có thiền Tứ Niệm Xứ mới giúp ta làm được việc nầy, bằng cách quan sát các cảm thọ khi nó vừa sanh khởi, quan sát những trạng thái của tâm để nhận diện thế nào là tham, thế nào là sân, quan sát những đối tượng của tâm để thấy sự phát sanh và hoại diệt của chúng, để thấy những đặc tính thay đổi, bất tịnh gây khổ đau của chúng. Chỉ có quan sát như thế chúng ta mới tự tách rời ra khỏi lòng ham muốn, tâm sân hận, xem chúng như là một hiện tượng và không tự đồng hóa với nó, chúng sẽ bị tiêu hoại và không còn làm chủ ta được nữa.
Nói tóm lại :
- Bản chất của Ái : là tâm tham hợp với các sở hữu thuộc tham và những sở hữu khác.
- Thể hiện : sự ham muốn qua 6 cửa
- Kết quả : nghiệp bất thiện nuôi dưỡng sự luân hồi
- Nguyên nhân : do THỌ
9/ ái duyên choTHỦ :
Thủ là sự giữ chặt, không buông bỏ, như người đã ghiền rượu hay ma túy, khó mà xa lìa những thói quen ấy.
Có 4 loại Thủ :
a- Dục thủ : bám víu vào những thú vui dục lạc
b- Kiến thủ : bám víu vào những quan điểm cá nh ân hay sai lầm (những tà kiến)
c- Giới cấm thủ : bám víu vào những tập tục nghi lễ dị đoan, mê tín, không đưa đến giải thoát hay lợi ích tinh thần.
d- Ngã chấp thủ : bám víu vào ảo tưởng về một cái ta.
Thanh Tinh Đạo (XVII, 242) giải thích Ái là ham muốn những điều chưa đạt được, còn THỦ là bám chặt những điều đã đạt được (câu chuyên Nữ Hoàng thành con giòi)
Nói tóm lại :
- Bản chất của Thủ : là tâm tham hợp với với các sở hữu giống như Ái
- Thể hiện : qua 4 sắc thái dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã chấp thủ.
- Kết quả : có sự bám víu, giữ chặt.
- Nguyên nhân : ái
10/ Thủ duyên cho HỮU
Chữ HỮU (existence, devenir) chỉ định những cõi sinh tồn khác nhau trong 3 cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới và đồng thời cũng nói lên những tiến trình đưa đến sự tái sinh trong những cõi đó. (Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu)
Có hai loại HỮU
a/ Nghiệp Hữu : là sắc thái chủ động và nguyên ủy (nguyên động lực) của đời sống hay tất cả các loại nghiệp thiện và bất thiện dẫn tới kiếp sống mới.
Nói theo Vi Diệu Pháp là 29 tâm thiện và bất thiện hiệp thế hành động dưới sự điều khiển của tâm sở Tư (cetana)
b/ Sanh Hữu : là tiến trình tái sanh và kiến tạo ngũ uẩn, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ…
Hữu là nghiệp ở hiện tại còn Hành là nghiệp trong quá khứ .
Tóm lại :
- Bản chất : 29 tâm bất thiện và thiện hiệp thế.
- Thể hiện : tiến trình tái sanh vào 3 cõi : Dục giới , Sắc giới và Vô sắc giới
- Kết quả : (trở thành) cuộc sống trong 3 cõi.
- Nhân gần : của Hữu là Thủ.
11/ hữu duyên SANH : (JATI)
Đối với con người SANH diễn tả tiến trình từ lúc thụ thai cho đến khi ra khỏi bụng mẹ và tiếp tục cho đến hết tiến trình sinh trưởng (croissance). Ở người con trai có thể kéo dài đến 25 tuổi và con gái đến 18 tuổi.
Sự tái sinh của chúng sinh tùy thuộc 4 yếu tố : nghiệp, cách sinh, chủng loại, sự khẩn cầu của 1 vị trời.
a- Nghiệp : Nghiệp là căn nguyên của sự luân hồi. Chúng ta có nghiệp quá khứ (hành) và nghiệp hiện tại (hữu). Khi nào hết nghiệp thì hết tái sanh. Vì vậy cần phải tu để rũ sạch nghiệp
b- Cách sinh : - noãn sinh : những loài sinh từ quả trứng : chim, gà, vịt, rùa…
- thai sinh : như loài có vú sinh ra từ bào thai và cho con bú.
- thấp sinh : như loài ký sinh trùng sinh ra từ chỗ ẩm thấp.
- hóa sinh : tự sinh ra trực tiếp, không qua trung gian của cha mẹ như các vị trời, chư thiên, ma quỉ.
c- Chủng loại : Theo v ũ tr ụ luận c ủa Phật giáo, chúng sinh có 31 cõi sinh tồn
d- Sự khẩn cầu : trường hợp nầy rất hiếm, do sự khẩn cầu của vị trời Sakka, là vua của cỏi trời 33, một vị trời có thể tái sinh làm người trong một gia đình đã được chọn lựa trước để sau nầy có thể đảm nhiệm một vai trò quan trọng trong xã hội loài người như là sẽ trở thành 1 chuyển luân thánh vương, một vị Phật.
Tóm lại : - Bản chất : là sự khởi đầu của một chúng sanh.
- Thể hiện : qua 4 cách : noãn, thai, thấp, hóa.
- Kết quả : một chúng sinh ra đời và trưởng thành.
- Nhân gần : là hữu (nghiệp).
12/ Sanh duyên cho LÃO TỬ
Lão, Tử là tiến trình ngược lại của sự sinh và trưởng. Tiến trình Lão hóa (sénescence) bắt đầu khi tiến trình sinh trưởng (croissance) chấm dứt vào khoảng 30 tuổi. Tiến trình sinh trưởng của bộ óc con người chấm dứt vào khoảng 25 tuổi.
Sau 30 tuổi chỉ còn là Hoại và Diệt. Đó là lẽ thường. Không nên có ảo tưởng là chúng ta trẻ mãi không già.
Sự Tử cũng giống như sự Sinh, chỉ xảy ra trong 1 satna tâm, khi đó mọi chủng tử nghiệp được trao truyền, giữa hai chúng sinh, vừa chết bên nầy và sẽ sinh ra bên kia thế giới để tiếp tục cuộc luân hồi không dứt.
Đối với khoa học sự chết xãy ra khi điện não đồ trở nên đường thẳng, không còn những sóng não lến xuống theo nhịp độ nữa.
Theo đạo Phật có 4 cách chết :
a/ Chết vì hết tuổi thọ : tuổi thọ của mỗi loài sinh vật đã được định trước theo những định luật di truyền và những điều kiện sinh sống của mỗi loài, mỗi cá thể. Tuổi thọ của con người ở các nước văn minh được kéo dài. Hiện tại Nhật và Pháp là những nước có nhiều người sống trên 100 tuổi nhất.
b/ Chết vì hết nghiệp : nghiệp ở đây có thể được hiểu là sinh nghiệp của kiếp sống đó hoặc nghiệp của toàn bộ kiếp sống của một chúng sinh, như vậy chúng sinh nầy đã đắt đạo quả A la Hán, đã thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi.
c/ Chết vì hết tuổi thọ và hết nghiệp : đây là cái chết của người lớn tuổi, đã sống hết tuổi thọ sinh học và đồng thời hết nghiệp của kiếp sống đó
- hoặc là cái chết của một vị A la Hán đã hết tuổi thọ (như của Đức Phật, của ngài Ananda (120 tuổi), ngài Ca Diếp…) Những vị nầy đã chết vì hết tuổi thọ và đồng thời cũng chấm dứt mọi nghiệp báu từ những tiền kiếp.
d/ Chết vì một Đoạn nghiệp : có những Đoạn nghiệp cho quả làm cắt đứt thình lình dòng sinh nghiệp trước kỳ hạn của kiếp sống. Đây là cái chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, bịnh tật, hoặc tự tử. Sinh nghiệp là năng lực có thể làm phát sinh và duy trì tâm và sắc trong đời sống hiện tại, đồng thời lúc vừa chết có khả năng tái tạo một đời sống mới, nó là sức mạnh để đưa đi tái sinh.
Tóm lại : - Bản chất : là sự hoại diệt của danh và sắc.
- Thể hiện : là sự đau đớn, khổ sở của thân và tâm do sự già yếu bịnh tật và sự chết hoặc sự suy yếu dần của thân tâm do tuổi già.
- Kết quả : 4 cách chết.
- Nguyên nhân : do có sanh mới có Lão và Tử.
Chúng ta đã học qua 12 yếu tố của thuyết Nhân duyên (hay Luật Duyên Khởi, hay còn gọi vòng luân hồi) trong đó chúng ta cần để ý những khía cạnh sau đây :
1/ Ba thời kỳ :
- kiếp quá khứ : gồm có : Vô Minh và Hành.
- kiếp hiện tại : gồm có từ Thức àHữu.
- kiếp vị lai: gồm có Sanh và Lão Tử.
Sự phân chia ra ba thời kỳ là để cho thấy cấu trúc sanh khởi của nhân quả trong vòng luân chuyển của các kiếp sinh tồn. Điều nầy không có nghĩa là các yếu tố chỉ có mặt cố định trong một thời kỳ mà không thể có mặt và tác động ở thời kỳ khác. Như ngay trong kiếp hiện tại, cả 12 yếu tố đều hiện hữu và tác động lẫn nhau.
2/ Ba Trục (hay 3 Khâu) :
- Trục I : giữa nhân quá khứ và quả hiện tại.
(HànhàThức)
- Trục II : giữa nhân hiện tại và quả hiện tại.
(Thọà Ái)
- Trục III : giữa nhân hiện tại và quả tương lai
(Hữuà Sanh)
3/ Bốn nhóm Tích Cực hoặc Tiêu Cực (hay Nhân và Quả)
- Năm Nhân (tích cực) quá khứ : Vô Minh, Hành (+ Ái, Thủ, Hữu).
- Năm Quả (tiêu cực) hiện tại : Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ.
- Năm Nhân (tích cực) hiện tại : Ái, Thủ, Hữu (+ Vô Minh, Hành)
- Năm Quả (tiêu cực) vị lai : Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ.
Trong 4 nhóm Nhân Quả (hay Tích Cực, Tiêu Cực) trên, Sanh và Lão Tử không được liệt kê vì chúng chỉ là đặc tính của danh sắc không phải là thực tại chân đế. Chúng tùy thuộc vào pháp chân đế là nhóm « Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ »
4/ Ba Vòng Luân :
- Phiền não luân gồm : Vô Minh, Ái và Thủ.
- Nghiệp luân gồm : Hành và một phần của Hữu là Nghiệp hữu.
- Quả luân gồm : Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Sanh, Lão Tử và,
một phần của Hữu là Sanh hữu .
Ba Vòng Luân cho thấy rõ mô hình luân chuyển của các kiếp sinh tồn trong cõi ta bà (vòng samsara). Quan trọng nhất là Phiền não luân : vì bị Vô minh che mờ và Ái Thủ lôi cuốn, nên ta mới tạo nghiệp bởi các hành động bất thiện cũng như thiện. Như vậy Phiền não luân trợ duyên cho Nghiệp luân sanh khởi. Quả sẽ trổ khi đầy đủ nhân duyên, như vậy Nghiệp luân trợ duyên cho Quả luân. Yếu tố quan trọng nhất trong Quả luân là Thọ. Quả thiện sẽ cho ta thọ Lạc hoặc thọ Hỉ, Quả bất thiện sẽ cho ta thọ Ưu hoặc thọ Khổ ; vì vẫn còn chìm đắm trong Vô minh và Ái Thủ nên ta vẫn bị Ái Dục hành xử, ta muốn những cảm giác Hỉ Lạc kéo dài và tăng thêm mãi mãi. Do đó Quả luân lại trợ duyên cho Phiền não luân.
Bằng cách nầy 3 vòng luân cứ vận chuyển cho tới khi Vô minh bị diệt tận gốc rễ bởi Tuệ Minh Sát là Trí Tuệ phát sinh do hành thiền Minh sát , để dẫn đến Tâm Siêu thế.
5/ Hai nhân gốc :
Thuyết Duyên khởi cho ta thấy rõ hai nhân gốc :
- Trong quá khứ Vô Minh khởi đầu cho giai đoạn tích cực tạo nghiệp (Hành).
- Trong hiện tại Ái dục cũng khởi đầu cho giai đoạn tích cực tạo nghiệp (Hữu)
Vô Minh là nguồn gốc của Ái Dục. Ái Dục là nhân sinh ra khổ đau. Vô Minh là cha, Ái dục là mẹ, khổ đau là con.(sư Giác Tuệ)
6/ Hai sự thật :
Quán xét Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận từ Vô Minh đến Lão Tử cho ta thấy hai sự thật
- « Vô Minh, Hành » là Tập Đế quá khứ
« Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ » là Khổ Đế hiện tại
- « Ái, Thủ, Hữu » là Tập Đế hiện tại
« Sanh, Lão Tử » là Khổ Đế vị lai
7/ Áp dụng : quán niệm 12 nhân Duyên theo chiều thuận và chiều nghịch.
Đức Phật đã phân tách trong bài kinh « Đại Đoạn-Tận Ái »( MN38) do 1 vị tỳ khưu tên Sati, khi nghe kể về các truyện tiền thân của Thế tôn mới có ý nghĩ sai lầm về một Thức thường hằng luân chuyển từ đời nầy sang đời khác.Phật cho gọi ông để hỏi có thực ông nghĩ như vậy không ? Ông trả lời đúng như vậy. Phật nói đó là xuyên tạc lời ngài dạy và là một loại tà kiến (thường kiến).
-Rồi ngài giảng Duyên Sinh theo chiều nghịch từ Ái -> Vô Minh ;
-Sau đó ngài giảng theo chiều thuận toàn bộ Thập Nhị Nhân Duyên từ Vô Minh -> Lão Tử ;
-Tiếp theo ngài hỏi lại các tỳ khưu từng khoen sanh khởi của 12 Nhân Duyên bắt đầu từ Sanh : « này các tỳ khưu Sanh duyên Lão Tử, có phải vậy không ?...Vô Minh duyên Hành, có phải vậy không ? hay ở đây nghĩa như thế nào ?... » các tỳ khưư trả lời rằng họ cũng thấy như vậy. Ngài xác nhận ngài và các tỳ khưu đều nói cùng một ý là : « Khi cái nầy có, cái kia có. Với sự sanh khởi của cái nầy, cái kia sanh » Thập nhị Nhân Duyên là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn nầy.
-Rồi ngài lại hỏi các tỳ khưu từng khoen hoại diệt của 12 Nhân Diệt bắt đầu từ Sanh : « này các tỳ khưu, do Sanh diệt nên Lão Tử diệt, có phải vậy không ?...Do Vô Minh diệt nên Hành diệt, có phải vậy không ? hay ở đây nghĩa như thế nào ?... » các tỳ khưu trả lời rằng họ cũng thấy như vậy. Ngài xác nhận ngài và các tỳ khưu đều nói cùng một ý là : « khi cái nầy không có, cái kia không có.Với sự diệt tận của cái nầy,cái kia diệt ». Thập nhị Nhân diệt là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn nầy.
DUYÊN HỆ
Nguyên lý Duyên Hệ được trình bày trong bộ Vị Trí (Patthana) là bộ thứ 7 của Tạng Luận, bộ sách quan trọng nhất và to lớn nhất của Tạng Diệu Pháp. Hệ thống Duyên Hệ trình bày 24 duyên, mà tên gọi diễn tả đặc tính của sự tương quan giữa Năng Duyên Pháp và Sở Duyên Pháp. Năng Duyên Pháp là cái tạo điều kiện duy trì, hỗ trợ, ảnh hưởng để cho Sở Duyên Pháp có mặt hay xuất hiện.
A- Lược giải 24 duyên hệ :
1-NHÂN DUYÊN(Hetu paccaya) : điều kiện tương quan giữa 2 pháp là 6 nhân : Tham, Sân, Si, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.Thí dụ : Khi tức giận thì sắc mặt chúng ta thay đổi, lời nói và hành động của chúng ta dể sai lầm và ta lại tạo thêm oan trái cũng như nghiệp xấu.
2-CẢNH DUYÊN (Arammara p.) : điều kiện tương quan là 6 cảnh : sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.Thí dụ : chúng ta luôn luôn tiếp xúc với 5 cảnh bên ngoài và các cảnh bên trong (cảnh pháp) Nếu cảnh vui đẹp thì chúng ta vừa lòng thích thú, nếu cảnh xấu buồn thì chúng ta chán nản.
3-TRƯỞNG DUYÊN (Adhipati p.) : tương quan giữa 2 pháp do tính cách ưu việt, mạnh mẻ như một đối tượng có sức hấp dẫn mảnh liệt làm thống trị tâm và tâm sở đã bắt được cảnh đó (Cảnh Trưởng Duyên) hoặc do tính cách đồng sanh với một trong 4 yếu tố ưu thắng : Dục, cần, tâm, thẩm trong Tứ Như Ý Túc (ở đây ta có Đồng Sanh Trưởng Duyên).TD : trong một nhóm người có 1 người có ước vọng cao cả (Dục) và có trí tuệ nhìn xa hiểu rộng( thẩm), sẽ chinh phục được lòng người và được tôn là lảnh tụ của cả nhóm.( Gandhi, N.Mandela)
4-VÔ GIÁN DUYÊN (Anantara p.) : tương quan giữa hai pháp do tính cách tiếp nối liên tục, không gián đoạn. TD : dòng tâm thức được tiếp nối liên tục từ satna tâm trước qua satna tâm sau từ vô lượng kiếp luân hồi, cho tới khi tâm được giải thoát hoàn toàn khỏi dòng sanh tử .Cho nên cái ý niệm Vô thuỷ Vô chung dành cho những ai còn mờ mịt, còn ai biết tu sẽ có ngày ra khỏi luân hồi. Bởi vì tu là sự dấn thân trên con đường giải thoát.
5-ĐẲNG VÔ GIÁN DUYÊN (Samanantara p.) : gần như đồng nghĩa với Vô-Gián Duyên, sự tương quan có tính cách tiếp nối, nhưng có những khoảng gián đoạn đều đặng. Một người ngủ đều đặn 6-7 giờ một ngày, thì trong lúc ngủ tâm tạm thời không tiếp xúc với ngoại cảnh mà quay vào trong và làm việc riêng của nó, đến khi thức dậy lại tiếp xúc với bên ngoài. Ngày qua ngày, tâm có những khoảng Đẳng vô gián.
6-ĐỒNG SANH DUYÊN (Sahajata p.) : sự tương quan do cùng sanh, cùng hiện hữu hỗ trợ nhau.Như trong buổi giảng pháp này, sự có mặt của quí vị hỗ trợ cho tôi và sự có mặt của tôi hỗ trợ cho quí vị, chúng ta cùng sách tấn nhau tu tập.
7-HỖTƯƠNG DUYÊN (Annamanna p.) : tương quan do hỗ trợ nhau như vợ với chồng hỗ trợ nhau để cùng tát bễ Đông.
8-Y CHỈ DUYÊN (Nissaya paccaya) : tương quan do cái nầy làm chỗ nương tựa cho cái kia sanh khởi : như Lục căn là chỗ nương tựa cho Lục thức cùng các tâm sở sinh khởi. Cha mẹ là Y chỉ Duyên cho con cái, nhưng khi lớn tuổi con cái sẽ là Y chỉ Duyên cho cha mẹ.
9-CẬN Y DUYÊN (Upanissaya p.) : do làm chỗ nương tựa vững chắc hơn Y-Chỉ Duyên, ta có Cảnh Cận-Y duyên giống như gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Cha mẹ già yếu mất hoàn toàn sự tự quản ( autonomie) thì con cái hoặc nhà già là Cận Y duyên
10-TIỀN SANH DUYÊN (Purejata p.) : do sự có mặt trước. Như Lục căn có mặt trước làm duyên cho sự sinh khởi của Lục thức.
11-HẬU SANH DUYÊN (Pacchàjàta p.) : do cái có mặt sau làm duyên cho cái đã hiện hữu trước. Ví dụ : sự chứng quả của vị Tỳ khưu Bakula sẽ xãy ra sau nầy đã hỗ trợ cho ông khỏi chết chìm lúc còn trẻ. Một người yếu đuối bịnh tật, cố gắng tập thiền đều đặn một thời gian cảm thấy sức khỏe cải thiện, hết đau ốm lặt vặt, người trông trẻ ra. Thân tâm an lạc nhờ thiền xãy ra sau đã ảnh hưởng trên thân thể ốm yếu trước đây. Ở đây Tâm sinh sau trợ duyên cho Sắc sinh trước bằng hậu sinh duyên.
12-TẬP HÀNH DUYÊN (Asevana p.) : do sự lập đi lập lại của sự huân tập làm cho một pháp hành trở nên thuần thục.
13-NGHIỆP DUYÊN (Kamma paccaya ) : có hai loại :
- Sự cố ý (tâm sở tư) làm điều kiện cho các tâm và sắc pháp sinh khởi (ở đây ta có Đồng sanh Nghiệp duyên)
- Những nghiệp tạo ở các kiếp quá khứ, khi có đủ điều kiện sẽ trổ quả ở kiếp sau (ở đây ta có Dị thời Nghiệp Duyên)
14-QUẢ DUYÊN(dị thục duyên,Vipaka p.) : sự tương quan do quả TD :trong Thập nhị Nhân Duyên Thức Tái sanh là một tâm quả trợ duyên cho Danh Sắc phát sinh. bằng Quả Duyên.
15-THỰC DUYÊN(Ahara p.) : tương quan do 4 loại thực phẩm làm duyên sinh ra :
- Đoàn thực : thức ăn vật chất nuôi dưỡng cơ thể.
- Xúc thực : 6 trần nuôi dưỡng 6 căn. (hay nuôi dưỡng 6 thọ)
- Tư thực : chính là nghiệp nuôi dưỡng sự luân hồi.
- Thức thực : chính là thức tái sanh nuôi dưỡng danh sắc lúc thụ thai.
16- QUYỀN DUYÊN(Indriya p.) : điều kiện do những khả năng chuyên biệt trong lãnh vực của nó (chẳng hạn mắt có khả năng thấy chứ không
nghe được)
Có 22 quyền : - 6 căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
- 2 phái tính : nam, nữ.
- 1 mạng quyền. (danh mạng quyền)
- 5 thọ quyền : hỉ, lạc, ưu, khổ, xã.
- 5 quyền tâm linh : tín, tấn, niệm, định, tuệ.
- 3 quyền siêu thế : Vị tri quyền, Dĩ tri quyền, Cu tri quyền là 3 mức trí tuệ của các bậc thánh từ Tu Đà Hoàn tới A La Hán
17- THIỀN DUYÊN (Jhana p.) : là những điều kiện do 7 yếu tố thiền tạo
ra cho các tâm và sắc pháp : Niệm, Trạch Pháp, Cần, Hỉ, Lạc, Định, Xả
đễ chế ngự các triền cái, lậu hoặc.
18- ĐẠO DUYÊN (Magga p.) : là những điều kiện : do 12 yếu tố :8 chánh đạo dẫn tới Niết Bàn, 4 tà đạo dẫn vào khổ cảnh : tà kiến, tà tư duy, tà tinh tấn và tà định.
19- TƯƠNG ƯNG DUYÊN : (Sampaytta p.) : là những điều kiện do sự
kết hợp, phối hợp với nhau như 4 danh uẩn : Thọ, Tưởng, Hành, Thức
cùng sanh, cùng diệt, cùng tác động hỗ trợ nhau.Hoặc Tâm với Tâm sở.
20- BẤT HỢP DUYÊN (Vippaytta p.) : là những điều kiện do sự không kết hợp, không hòa trộn của năng duyên pháp và sở duyên pháp. Như dầu và nước hay Thiện và Ác.
21- HIỆN HỮU DUYÊN (Atthi paccaya) : là điều kiện liên hệ giữa Năng Duyên và Sở Duyên do sự cùng có mặt. Như Cảnh thấy được do có ánh sáng.
22- VÔ HIỆN HỮU DUYÊN (Natthi paccaya) : là điều kiện liên hệ giữa Năng Duyên và Sở Duyên do sự không có mặt. Một loại tâm phải diệt đi thì một loại tâm khác mới sanh khởi. Như tâm Sân phải diệt đi thì tâm Từ mới sinh khởi. Ánh sáng phải tắt đi thì bóng tối mới xuất hiện.
23- LY KHỨ DUYÊN (Vigata p.) : điều kiện liên hệ do sự tách rời ra giống như Duyên số 22, nhưng Năng Duyên chưa hoàn toàn biến mất thì Sở Duyên đã bắt đầu xuất hiện. Như trong buổi hoàng hôn, ánh sáng mặt trời chưa tắt, nhưng mặt trăng đã có mặt.
24- BẤT LY KHỨ DUYÊN(Avigata p.) : điều kiện liên hệ do sự không thấy tách rời, giống như Duyên số 21 (Hiện hữu duyên). Như vua cha nhường ngôi cho con, nhưng vẫn có mặt để làm cố vấn.
B-Luận giải theo những tính cách liên hệ của 24 duyên:
- liên hệ về không gian : có Cảnh Duyên (2), Cảnh Cận-Y duyên(9)
- liên hệ về thời gian : có Đồng Sinh Duyên (6), Tiền Sinh Duyên (10), Hậu Sinh Duyên (11), Vô Gián Duyên(4), Đẳng Vô Gián Duyên(5)
- liên hệ về tính cách tương sinh : có Thực Duyên (15), Y Chỉ Duyên (8), Cận Y duyên (9).
- liên hệ về tính cách tương khắc : Thiền Duyên (17)
- liên hệ về tính cách quan trọng : Trưởng Duyên (3)
- liên hệ về tính cách chuyên biệt : Quyền Duyên (16)
- liên hệ về tính cách hổ tương : Hổ Tương Duyên (7)
- liên hệ về tính cách tương đồng : Tương Ưng Duyên (19)
- liên hệ về tính cách tương phản : Bất Hợp Duyên (20)
- liên hệ về tính cách có mặt : Hiện Hữu Duyên (21)
- liên hệ về tính cách vắng mặt : Vô Hiện Hữu Duyên (22)
- liên hệ về không xa lìa : Bất Ly Duyên (24)
- liên hệ về sự lập lại : Tập Hành Duyên (12)
- liên hệ về Nhân, Nghiệp, Quả : Nhân Duyên (1), Nghiệp Duyên (13), Quả Duyên (14)
- liên hệ về phương tiện và con đường : Đạo Duyên (18)
Tổng cộng có tất cả 24 Duyên.
Nguyên lý Duyên Hệ đưa ra những điều kiện cần và đủ để đưa tới một kết quả như lâu nay ta vẫn thường nói một cách tổng quát mà không đưa ra chi tiết : phải có thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Cũng như khi ta nấu cơm, chúng ta phải kể hết những yếu tố : gạo, nước, lửa, nồi… Nếu người nông dân không sản xuất gạo thì tất cả yếu tố khác đều vô ích ; Nguyên lý Duyên Sinh cốt cho thấy cái yếu tố căn bản, ở đây là gạo. Còn Nguyên lý Duyên Hệ xem xét tất cả các điều kiện quan hệ hoặc hoàn cảnh cần thiết để làm thành món cơm. Ngoài ra giữa hai yếu tố của Duyên Sinh, chẳng hạn giữa Vô Minh và Hành những yếu tố của Duyên Hệ có thể chen vào để chi phối. Hoặc giả 2 yếu tố của Duyên Hệ có thể phối hợp lại để tác động cùng một lúc tạo thành một Duyên mới : Cảnh Duyên + Trưởng Duyên = Cảnh Trưởng Duyên. Do đó nên mới có câu “trùng trùng duyên khởi”.
Các nhà khoa học, mặc dầu không có nghiên cứu Phật giáo, nhưng trong thực tiễn quan sát và thí nghiệm, cũng đã nhìn thấy phần nào những sự liên hệ như thế giữa những phần tử vật chất nên họ đã đưa ra những ý niệm như yếu tố tiền sinh( facteur prédisposant), yếu tố trợ tạo (facteur favorisant), yếu tố nguy hại (facteur de risque)… Phật giáo đưa ra một cái nhìn tổng thể có tính cách tri thức luận (épistémologie) về những yếu tố thời gian, không gian, vật chất và tinh thần…
C-Áp dụng : theo những tương quan Danh, Sắc, Danh-Sắc, Khái niệm
(6) Danh
-> Danh
(5) Danh
-> Danh Sắc
(1) Danh
-> Sắc
(1) Sắc
-> Danh
(2) Danh Sắc Khái niệm
-> Danh
(9) Danh Sắc
-> Danh Sắc
4. Vô gián
anantara
5.Đẳng vô gián
samanantara
12. Tập hành
āsevana
19. Tương ưng
sampayutta
22.Vô hiện hữu
natthi
23. Ly khứ
vigata
1. Nhân hetu
13.Nghiệp
kamma
14. Quả vipāka
17.Thiền jhāna
18. Đạo magga
11. Hậu sanh
pacchājāta
10. Tiền sanh
purejāta
2. Cảnh
ārammaṇa
9. Cận y
upanissaya
3. Trưởng
adhipati
6. Đồng sanh
sahajāta
7. Hỗ tương
aññamañña
8. Y chỉ
nissaya
15. Thực
āhāra
16. Quyền
indriya
20. Bất hợp
vippayutta
21. Hiện hữu
atthi
24. Bất ly
avigata
Muốn tìm hiểu Nhân, Duyên, Quả trước hết phải xem xét cái quả, rồi từ từ tìm ngược lại cái nhân. Ví dụ muốn có một nhãn thức (quả) một cách tổng quát chúng ta cần có 4 điều kiện sau :
1/-Nhãn thức là một tâm quả, nhân duyên trực tiếp của nó là Tâm Khán Ngủ môn , có mặt trước nó trong lộ trình tâm nhãn môn. Sự tương quan ở đây là Danh => Danh. Ta có những duyên sau đây :Vô-gián duyên(4), Đẳng Vô-gián duyên (5), Vô-gián Cận-Y duyên(9b), Vô Hiện-hữu duyên(22) (vì tâm K5M phải biến mất thì Nhãn thức mới xuất hiện được, Ly-khứ duyên(23)
-Điều kiện đủ để có Nhãn thức là phải có sự phối hợp của 7 tâm sở biến hành : xúc, thọ, tưởng, tư, định, mạng quyền, tác ý.Trong đó Tác ý làm chủ để hướng tâm tới đối tượng. Sự tương quan ở đây là giữa Danh=>Danh, có tính cách đồng sinh, hỗ tương, tương ứng, nghiệp, quả. Ta có ở đây 10 duyên ( nếu kể những duyên không trùng tên) : 15b,13a, 16c, 7, 14, 19, 6, 8a, 21a, 24.
-Vì là một tâm quả, kết quả của nghiệp, ta cũng có Nghiệp duyên.
2/-Kế đến là phải kể Nhãn vật ( mắt và thần kinh nhãn). Nhãn vật phải có mặt trước để làm căn cứ cho Nhãn thức xuất hiện. Sự tương quan ở đây là giữa Sắc=> Danh ; với tính cách tiền sanh là quan trọng nhứt và Vật ( vatthu) là quan trọng thứ nhì. Ta có 6 Duyên : 16a, 8b, 10a, 20b, 21b, 24.( xem bảng đối chiếu)
3/-Điều kiện sau đó là Ánh sáng : bởi vì trong bóng tối sẽ không thấy cảnh. Sự tương quan ở đây là giữa Sắc=> Sắc, ta có Tự-Nhiên Cận-y duyên (9c) và Sắc mạng-quyền duyên (16b).
4/-Sau cùng điều kiện cần để có 1 nhãn thức là phải có Cảnh (đối tượng), bởi vì thấy là phải thấy 1 cái gì. Sự tương quan ở đây là giữa Sắc(cảnh)=> Danh (nhãn thức), với tính cách là Cảnh duyên và Tiền sanh duyên, ta có 4 duyên : Cảnh duyên (2), Cảnh Tiền-sinh duyên(10b), Cảnh Tiền-sinh Hiện-hữu duyên(21b), Cảnh Tiền-sanh Bất-ly (10b+24).
KẾT LUẬN
Từ hai nguyên lý Duyên Sinh và Duyên Hệ chúng ta có thể rút ra được những hệ luận sau đây :
1-Không có gì hiện hữu mà không có Nhân Duyên hợp trợ và sinh thành Nhân khi hội đủ Duyên sẽ sinh ra Quả.
2-Vật chất tuân theo những Định luật của nó. Tâm thức cũng có những Định luật của nó.
3-Vật chất ảnh hưởng đến tâm thức. Tâm thức cũng ảnh hưởng đến vật chất.
4-Không có cái Ngã nào chen vào làm chủ vật chất và tinh thần.
5-Không có Thượng Đế nào làm chủ vật chất và tinh thần.
6-Vô thường, Vô ngã là chân lý phổ quát.
7-Khổ là chân lý dành cho chúng sanh hữu thức.
8-Tái sanh và luân hồi là sự thật hiển nhiên của chúng sanh hữu thức.
9-Mỗi người đều tùy thuộc 3 yếu tố : Nghiệp Quả, Hoàn cảnh và Ý chí.
Nguyên lý Duyên Sinh đã được Đức Phật phát hiện ở canh ba trong đêm ngài đắc đạo quả Chánh Đẳng Giác. Nguyên lý Duyên Hệ được ngài nghiền ngẫm trong tuần lễ đầu tiên sau khi thành đạo. Những Tuệ giác nầy đã giúp Ngài giải thích bản thể của con người nói riêng và chúng sanh nói chung trong cuộc trầm luân vô tận. Ngài đã tuyên bố về định luật nầy như sau : “Nầy Ananda, chuỗi dây Tùy thuộc Phát sanh rất sâu sắc. Do không thấu hiểu, không thấm nhuần định luật nầy nên thế gian giống như một nùi chỉ rối, một tổ chim đan, một bụi tre sậy. Do đó mà con người không thoát khỏi tái sanh vào những cõi sinh tồn thấp kém, những trạng thái phiền muộn tiêu hoại và đau khổ trong vòng sanh tử luân hồi. Người nào hiểu được chuỗi Tùy thuộc Phát sanh sẽ hiểu được giáo pháp.”
Thật là cần thiết cho một phật tử phải hiểu sâu xa giáo huấn nầy.Trước hết phải tìm hiểu qua sách vở, sau đó phải bổ túc bằng sự luyện tập tâm linh để có thể nhìn thấy định luật nầy trong chính thân tâm và đời sống của mình, có như thế mới mong vượt thoát vòng sinh tử luân hồi. Tu phải chăng là sự dấn thân trên con đường chuyển nghiệp, muốn chuyển nghiệp phải thanh lọc tâm, muốn thanh lọc tâm phải thiền ; có như vậy mới tiến bước vững chắc trên con đường giải thoá