Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2019

GIẤC MƠ THÁNG TƯ





Mòn mỏi đợi chờ
tôi viết câu thơ
thả vào giấc mơ
bay lên cung quãng


Có chú cuội già ngồi đếm lá đa
nhặt câu thơ rụng nở bung nỗi buồn
có nàng tiên nữ còn son
động tình mưa mốc lòng vương hồng trần

Tháng tư trời khô hạn
giấc mơ chừng cạn bỗng kéo mây
buồn rơi từng giọt hây hây
câu thơ ướt đẫm nhạt phai đợi chờ

Ngây thơ tôi nhặt giọt mơ
pha vào máu đỏ làm thơ gọi tình
cuội ngồi đếm lá trường sinh
nhặt câu thơ rụng hỏi tình là chi ?
khiến cô tiên nữ nhu mì
buồn loang dương thế tràn đầy giấc mơ

TRÁI TIM CHƯA ĐỦ CHÍN





Môi đủ mặn nuốt vị đời cay đắng
Mắt đủ quầng thâm soi bóng trăng vàng
Da đủ nâu để sầu lên mật ngọt
Tóc đủ bạc màu dệt sợi khói chiều tan


Đôi vai đủ gầy cho nắng đầy hơi ấm
Vũng ngực hỏm sâu chứa đủ dòng sông
Tay đủ chai sần xoa mềm ảo mộng
Bước chân đủ rộng để chắn mênh mông

Chỉ có trái tim chưa đủ chín giọt nồng
cho máu ngược dòng khát vọng chảy vào trong
cho tình độ lượng sẽ chia nỗi nhớ
cho đợi chờ ru ngủ hồn thơ

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

NẮNG BẠC ĐẦU





Lều bều tím
lục bình trôi
dòng sông im ỉm câu hò
có con cò đậu trên cành trơ vơ


Bờ đông hừng hực thở
bờ tây thiêm thiếp tàn
gió rỉ ri gọi nhớ
con sáo sang sông con sáo vào lồng
lầu son gác tía có hay không?

Bến quê buồn hong hóc
chiều nghe cóc nghiến răng
ngày chưa cạn tình đã khét
mong ngôi sao xẹt rớt lên mơ
ta nhặt ngây thơ làm ước nguyện
bước vào cổ tích đón nàng tiên

Em về khúc khích cười trong nắng
bảo tại trời mưa cứ ậm ừ !

Bến xưa ư ứ
tình ngắc ngứ
trời vẫn còn dư nắng bạc đầu...

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

TÌNH HÉO




Tình héo
trái tim nghèo
nỗi nhớ quắt queo
tháng ngày xiêu vẹo
bóng ngã chèo queo


Bầu trời bé tẹo
mảnh đời mốc meo
trên gương mặt phì phèo
nụ cười mắc lẹo

Tình héo
sầu đặc kẹo
thời gian lên sẹo
trái tim tật nguyền

Ta lẫn vào đêm
tìm giấc mơ tẩn liệm
hình hài kỉ niệm
tình
trong veo

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

TA MẤT TA





Nỗi nhớ tàn phai
gánh đợi chờ mòn mỏi
ta trong bóng tối
nhìn đời lẻ loi

Thời gian cọc còi
góc giáo đường em có còn xưng tội
trái tim sám hối
yêu

Liêu xiêu sợi tóc muối tiêu
đậu trên chiếc lá rơi chiều
nhạt nhòa nỗi nhớ
giấc mơ bay

Gánh đợi tàn phai
thời gian chạy
ngày đứt ngày





ta mất ta...

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

THỨ BẢY KIÊU SA





Thứ bảy trôi qua
không điều gì lạ
vẫn một căn nhà
bóng thức cùng ta


Ngoài kia phố xá
cộ xe mượt mà
phấn son ồn ả
phồn hoa hối hả

Ta vẫn mãi xa
dòng đời giả trá
em đâu còn lạ
thứ bảy kiêu sa

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

BẤT NGỜ




Bất ngờ
em hẹn
đưa tôi về lại bến xưa
trời giông đổ vội cơn mưa
em ngã vào tôi yêu thương nào cũ
nụ hôn
mê mụ
nóng mặn bờ môi


Bất ngờ
em bảo với tôi :
_ màng trinh em đã vá rồi
em đi lấy chồng
anh đợi mà chi!


Giọt lệ cong mi
đắng chát xuân thì
chiều đong mộng mị
tình đầy hư không?


Bất ngờ
si dại nghênh ngông:
_ em đi lấy chồng
sao vá màng trinh?


Đời tôi
chưa đủ nhục vinh
nên trời trút vội
cơn mưa vô tình...

TRÊN NHỮNG NGÔI SAO VỪA RỤNG XUỐNG





Trên bầu trời cao những ngôi sao ẩn náu
ngôi sao nào đợi đêm xuống để rơi
tặng tôi tích tắc rạng ngời
một lời ước nguyện một đời ngây ngô


Trên những gương mặt người trôi qua phố
có nụ cười nào rơi như giọt sầu rơi
nở trong tôi vô vàn bông hoa màu bạc
đẹp ngỡ ngàng ánh sáng yêu thương

Trên những lời thì thầm e nói
có âm thanh nào đọng lại thời gian
hình trái tim nguyên lành chưa lổ rổ
cho câu thơ tôi nghiêng đổ luật vần

Trên những ngôi sao vừa rụng xuống
có linh hồn nào hoán đổi hồn tôi
cho em kịp gửi bao lời ước nguyện
định phận nhân duyên hạnh phúc muôn niên

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2019

TA VÀ DÒNG SÔNG





Dòng sông chìm trong giấc mộng
chở con thuyền về với biển đông
mặt trời hồng trên đôi bồng đảo
buồm căng phồng đón ngọn gió khát khao


Hy vọng mỏng manh nổi lên đầu ngọn sóng
vỗ bờ thương bãi đá rêu xanh
số phận phơi trần thịt da lấp lánh
bóng hải âu tung cánh tự do

Ta vẫn đó nơi miền yêu ở trọ
mơ giấc mơ của kẻ đợi chờ
dòng sông thức giấc còn có nhớ
đưa con thuyền đến với biển đông

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2019

TƯƠNG TƯ THU





Ghập ghềnh nhịp đập yêu thương
trái im lổ rổ tư tương lá vàng
em cài cúc áo hở hang
gió chen vào lối thiên đàng rủ rê


Tình đi theo bước đam mê
bỏ tôi ở lại chân quê dại khờ
lơ ngơ chắp vá câu thơ
thả lên trời mộng vàng mơ bóng sầu

Tóc em móc lá buông câu
thơ tôi cắn lưỡi mùa ngâu treo tình
thiên đàng hé cửa rập rình
tương tư nuốt chửng bóng hình thi nhân

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT





Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:

1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.

2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.

3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.

4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận” (thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.

5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!

6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.

7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...

8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”

Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).

9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.

10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:

- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.

- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.

Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.

Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.

11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!

12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!

13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.

14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!

15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.

16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.

17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!

18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.

19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.

Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.

20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.



Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
********************************************************
Minh Đức Triều Tâm Ảnh là bút hiệu của tỳ kheo Giới Đức, là một trong những người sáng lập ra chùa Huyền Không (Huế) từ mái chùa lá ở đèo Hải Vân trước năm 1978. Ông là một nhà sư giỏi thơ văn, am tường hội hoạ và trang trí mỹ thuật và là một cao thủ cờ tướng từng đánh bại một số kì thủ quốc gia. Đồng thời ông cũng là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.
Thượng tọa Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) là nhà thơ có tên tuổi ở đất thần kinh và đã xuất bản nhiều tập thơ. Ông cũng là nhà văn rất nổi tiếng trong giới Phật giáo; những tác phẩm của ông chẳng những có giá trị trong giới Phật học trong và ngoài nước mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn chương, văn học của Việt Nam.

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

EM VẪN LÀ LÁ VÀNG





Thời gian không chịu già
Nên tình ta mãi trẻ
Sợi tóc bạc sinh ra
Ngây thơ và mới lạ


Đàn bà nào có cũ
Như mùa thu quyến rũ
Khiến ta hoài mê mụ
Bước trong dời mộng du.

Đêm Thạch Sùng không ngủ
Than tiếc kiếp giàu sang
Ta ngồi trên cơ hàn
Thả tình trôi miên man.

E vẫn là lá vàng
Có bao giờ xanh bạc
Cho thời gian đậm nhạt
Để tình ta phai tàn.