Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Cái Dũng của Thánh Nhân Chương 7 Tinh Thần Độc Lập









Thu Giang Nguyễn Duy Cần



Trở lên, là bàn về công phu luyện tập bên ngoài, từ đây nói về công phu luyện tập bên trong, khó khăn hơn, nhưng hiệu nghiệm hơn.
Trước hết, cần phải tìm những nguyên nhân vì đâu ta có tính hay sợ, nghĩa là không có đặng một tinh thần điềm đạm?
Nguyên nhân của tính hay sợ tuy nhiều nhưng nếu phải nói ra cho tột lẽ, thì chỉ có một tiếng nói là cùng: Bản ngã.
Bản ngã, là một tiếng hết sức trừu tượng. Muốn rõ cái thực trạng nó, ta cần phải chú ý đến những hiện tượng của nó như thế nào, mới trông trừ khử nó một cách ráo riết. Đi ngay vào nguyên nhân duy nhất đó, để khám phá, để tiêu diệt nó, đó là một công việc hết sức khó khăn, hết sức mạo hiểm, cần phải có một tinh thần quả cảm hơn người, một sự hiểu biết thâm sâu và rộng rãi hơn người; nghĩa là nếu không phải là người có thiên tư tột chúng, ý chí phi phàm, tưởng cũng khó lòng mà đi tới chốn đặng. Ở đây, tôi chỉ bàn về phần thiển cận, thông thường, bất kỳ là ai, miễn có chí, cũng đi tới được, mặc dầu chưa được hoàn toàn siêu thoát.
Sợ, có nhiều đẳng cấp, có nhiều phương diện.
Xin bàn đến phần hạ đẳng của nó trước hết: Sợ dư luận.
Hiện tượng này có nhiều cái trớ trêu. Tuy thuộc về phần hạ đẳng, nhưng đừng tưởng nó tầm thường, lắm kẻ anh hùng oanh liệt, thường vào chốn tên bay đạn lạc như chơi, thế mà, nếu phải nói chuyện với một người đ àn bà, họ thấy trong lòng hồi hộp, lo sợ...
Họ mất cả sự điềm tĩnh.
Nếu phải đem những bậc vĩ nhân trong lịch sử ra mà kể thì phải cả một quyển sách cũng chưa đủ... Sợ dư luận, là một tâm bệnh hết sức nguy hiểm cho sự phát triển nhân cách của con người.
Pascal nói: "Dư luận là chúa tể của thế gian". Nó là một sức mạnh phi thường, từ bậc trên hết thiên hạ, đến người dân thường trong đời, đều bị ở dưới quyền chỉ huy của nó.
Muốn khen, sợ chê, đó là sinh mạng thứ hai của con người. Lắm kẻ thà chết hơn sống mà dư luận chê bai. Thật, trong đời, nếu giải thoát đặng cái nô lệ ấy, là đã đi đặng gần phân nửa con đường giải thoát rồi vậy.
Dư luận, rất có ích cho những kẻ còn phải cần một kiềm chế, một xiềng xích để sống đừng sa ngã trụy lạc, đừng làm hại đến xã hội chung quanh. Nhưng nô lệ nó, đến mất cả tinh thần sáng tạo, tê liệt cả lòng tự tin, tự trọng, thì nó là quân thù số một phải lo trừ khử một cách khẩn cấp mới được. Quá sợ dư luận bên ngoài, sao ta không quá sợ dư luận bên trong? Ai biết ta bằng ta? Ai hiểu ta bằng ta? Người quân tử sợ mình hơn sợ người, sợ dư luận của mình hơn sợ dư luận của người.
Nếu tự mình có điều đáng khinh, thì thiên hạ dẫu có tôn sùng bấy nhiêu, cũng vẫn tự xem là xấu hổ. Tự mình biết có điều đáng khen, mà thiên hạ có ruồng bỏ, khinh miệt thế nào, cũng vẫn tự xem là quý trọng.
Kẻ sống, mà đi hạ mình ăn mày ăn xin từ miệng dư luận của bọn người không biết mình, đều là những kẻ tôi tớ người ta, không đáng kể vào hàng tín đồ của Điềm đạm.
Kẻ tiểu nhân lấy dư luận, đi đâu cũng khép nép lo sợ, ở đâu cũng nhút nhát rụt rè...
Người biết tự trọng, không bao giờ chịu đem tâm hồn mình mà phó thác cho kẻ qua đường. Chỉ có những kẻ, tự mình thấy có nhiều thiếu thốn bên trong, mới tìm cách phô trương, ra dáng khoe để "bù" những nghèo nàn của tâm hồn mình.
Cũng như kẻ hèn nhát, thường hay làm dáng điệu kẻ anh hùng, "xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ". Họ làm ra vẻ người thông thái, ra điều kẻ có tiền... để cho chung quanh hiểu lầm mà tôn kính họ. Họ tìm sự tôn trọng là vì họ sợ bị khinh bỉ. Theo tâm lý học, người ta gọi đó là những người "tự ty mặc cảm" (complexe d'infériorité).
Kẻ thật thông thái, nhưng có tính khiêm tốn, làm như kẻ ngu khờ. Đời càng không biết đến họ chừng nào lại là một cơ hội họ thấy mình sung sướng. Của quí mà thiên hạ đều biết là quí, là đã mất cái quí của nó rồi.
Kẻ háo danh, trọng dư luận, là kẻ rất sợ phê bình. Họ tự cho có một cái giá cao đối với chung quanh. Họ tưởng rằng, bất kỳ là chỗ nào họ đi qua, thiên hạ đều chăm chú vào họ, để quan sát, tìm tòi những cái hay cái dở của họ. Bất kỳ là ở đâu, họ vẫn tưởng mình là trung tâm điểm của xã hội. Mải lo sợ những dư luận như thế, nên họ mất cả tự do tư tưởng và hành động.
Muốn giải thoát tính nô lệ dư luận, phải làm thế nào?
Phải tạo cho mình một tinh thần độc lập.
Kẻ nào có một tinh thần độc lập, không chuộng hư danh, là kẻ đứng trên thiên hạ rồi vậy. Tư tưởng, ý kiến quyết đoán của họ bất kỳ thuộc về phương diện nào, cũng đều lo họ trước hết, còn dư luận của thiên hạ, họ luôn luôn để ra sau.
Họ có hoài bão một điều gì, thì nhất định họ để yên lặng trong tâm hồn không đem ra mà bàn bạc với ai cả, ngoài những kẻ sẽ cùng họ cộng tác. Họ không cần phải có người khuyến khích khen ngợi mới làm, sự xét đoán của họ đủ rồi. Phải giải thoát những ảnh hưởng của chung quanh mình trước hết, mới có thể mong giữ được tấm lòng thản nhiên trầm tĩnh đối với sự khinh khi chế nhạo...
Nói thế đâu phải bảo ta phải tự đại, đừng thèm đếm xỉa gì đến lời khuyên nhủ của kẻ khác, giàu trí thức hơn, giàu kinh nghiệm hơn.
Không! Nói thế là bảo ta nên để ý đến nó, nhưng không nên nô lệ nó. Nhân ý kiến của người mà suy cứu cân nhắc lợi hại, rồi tự mình quyết định lấy, không nên để ai ảnh hưởng được mình. Phải tập có tính ham trách nhiệm. Đừng để cho ai suy nghĩ thế mình cả. Nếu đã suy nghĩ chín chắn, cân nhắc phải quấy, lợi hại rõ ràng rồi, thì dẫu có ai bảo ta: "Làm thế không khéo để trò cười", hãy thản nhiên đáp: "Cái đó cũng không quan hệ gì, miễn là tự tôi, tôi không cho nó là đáng cười thì thôi".
Đừng bắt chước kẻ khác, cũng đừng sợ thua sút kẻ khác. "Đừng ép tài mình". Sénèque bảo với con: "Tại sao con xấu hổ vì diễn thuyết không được hay như kẻ khác?". Người ta ở đời sở dĩ có tánh rụt rè nhút nhát, là tại mình và ham bắt chước kẻ khác. Mỗi vật trong đời, đều có cái sở năng không giống ai, mà cũng không bắt chước ai được. Trang Tử nói: "Không ai kéo cẳng vịt cho dài, thúc giò hạc cho ngắn được".
Bất bình đẳng là một luật tự nhiên, nhưng giá trị của mỗi vật, nếu hoàn toàn, cũng đồng như nhau. Lấy theo sinh lý thì con người có thể chia ra làm bốn hạng, do hình thể mà phân loại: hạng não chất, hạng tỳ chất, hạng cân chất và hạng phế chất. Hạng não chất mà bắt chước theo hạng phế chất hay cân chất, làm việc xốc vác nặng nề, dầm sương dãi gió, thì sẽ không làm nên trò trống gì, lại còn thêm bệnh là khác. Còn hạng cân chất mà bắt làm việc trong phòng văn, thiếu hoạt động, thiếu không khí ắt phải bị lao và không nên thân gì cả. Nhưng không phải vì thế mà hạng này cao trọng hơn hạng kia. Nếu hạng nào biết lợi dụng cho đúng cách những tài năng của mình, hạng ấy sẽ trở nên hoàn toàn, rất có ích cho kẻ khác, đâu phải là nhục. Vọng tưởng như vậy là tài, như kia là quí, mà quên mất địa vị trọng yếu của mình trong guồng máy xã hội, đó là nguyên nhân sinh ra cái tánh ham bắt chước kẻ khác, trọng người mà khinh mình. Phải dám "mình là mình" đó là một cách để giữ gìn sự độc lập của tinh thần vậy.
Cái cảnh "độc lập về tinh thần" ấy, không phải dễ làm. Nhưng nếu trì chí kiên tâm, không sớm thì muộn trong năm ba tháng, bạn sẽ thấy tinh thần mình vững vàng mạnh mẽ hơn xưa nhiều.
Không hề gì! Có dại mới có khôn, có hư mới có nên; bất kỳ là việc gì, đừng nhút nhát rụt rè, phải có đủ can đảm mà làm theo ý mình. Ta cũng không cần phải bàn cãi với ai làm chi cho nhọc, cứ ừ ừ hử hử... rồi thì, việc mình tính mình làm, đừng làm mích lòng ai bằng sự cãi cõ vô ích.
Bất kỳ là đứng trước mặt một người nào mà mình biết là tay lỗi lạc nhất, cũng đừng sợ dư luận của họ, vì họ là họ, mà mình là mình.
Không cần phải đợi gặp những trường hợp ấy mới tập đối đầu để giữ gìn thái độ độc lập của mình. Lúc nhàn rỗi, hãy sống bằng tưởng tượng trong cảnh ấy đi. Hãy tưởng tượng mình có một cử chỉ đ àng hoàng, thản nhiên tiếp chuyện với bất kỳ hạng người nào, vô ra các công sở lớn, như vô ra chỗ quán nước trong xó làng... Lâu ngày, việc ấy nó thấm thía vào tiềm thức: sau này nếu gặp những cảnh ngộ như thế, ta sẽ tự nhiên cư xử như khi sống trong tưởng tượng trước kia, không miễn cưỡng ngượng ngùng gì nữa cả.
Tóm lại, muốn giữ được thái độ độc lập, điềm tĩnh trước hết phải quyết tâm ham muốn nó.
Kế đó, phải khéo giữ gìn lời nói. Nhất định đừng để cho ai lôi cuốn, bó buộc mình phải nói. Im lặng tập cho mình kiên quyết và trầm tĩnh. Thử gìn giữ sự im lặng trong một thời gian ngăn ngắn, một tuần lễ hay mười lăm ngày, ta sẽ thấy rõ, tinh thần ta trở nên cương nghị hơn nhiều.
Sự im lặng, tự mình hạn định cho mình, rất dễ mà tuân theo, nếu ta ở một mình nơi chốn quạnh hiu cô tịnh. Cái đó không hay. Sống giữa xã hội, nhất là sống giữa những người thân yêu mà kiểm soát được ngôn hạnh, ấy mới tài. Ở chung với những người thân yêu hằng ngày thường xui ta tỏ ý kiến, tư tưởng cùng những kế hoạch của ta, hoặc phê bình nhân sự, những câu chuyện vụn vặt chung quanh có mắt thấy, tai nghe, hoặc thố lộ can tràng, giãi bày tâm sự... Có một sức mạnh vô hình, nó quyến rũ, nó xô đẩy ta đi vào con đường nghiêm cấm ấy. Đừng để cho mình phải bị nó lôi cuốn. Hãy lẳng lặng làm thinh, đó là ta đã đi được một bước rất dài trên con đường "độc lập của tinh thần".
Nhưng về lối xã giao ở đời, làm vậy có kẻ cho là khó coi. Muốn người ta đừng ác cảm, hiểu lầm mình, hãy dùng cái mẹo sau này, thì ổn thoả: Trong câu chuyện, lập thế gợi cho kẻ khác nói chuyện họ cho ta nghe.
Thỉnh thoảng, điểm cho một vài câu phê bình để tán đồng, khuyến lệ một cách khôn khéo là đủ. Bỏ câu chuyện của mình đi. Tìm những cái chi quan hệ đến người, để bắt họ bày tỏ ý kiến họ, và giải quyết vấn đề riêng của họ. Làm thế, ta có nhiều cái lợi:
1. Giữ gìn thái độ trần tĩnh của mình.
2. Không để người ta bắt buộc phải nói chuyện, để giữ cái độc lập về tinh thần của mình.
3. Được người ta vui lòng nhiều, vì họ có được một người bạn biết chiều họ, nghĩa là một người bạn biết thích nghe họ khoe khoang mà không biết mỏi...
Ảnh hưởng của thiên hạ đối với mình một ngày sẽ một giảm nếu mình khéo giữ gìn cái quy luật ấy: làm thinh. Không phải một cách tuyệt đối. Phải biết tuỳ cơ ứng biến mới đặng.
Trong một thời gian không lâu, các bạn sẽ thấy tinh thần mình vững vàng, không lay chuyển, không động cảm, không bị lôi cuốn theo ai cả.
Gặp phải việc, nên có can đảm từ chối bằng một tiếng nói thôi. Không cần phải cắt nghĩa vì lẽ gì mình từ chối. Cũng đừng nói một cách cộc lốc đột ngột. Phải từ chối một cách vui vẻ, nhã nhặn để khỏi phải làm đau đớn kẻ khác vô ích.
Sự chế nhạo hay hùng hổ của kẻ khác cũng không làm cho tâm hồn mình lay động nổi.
Tóm lại, sự điềm đạm, trí sáng suốt và tinh thần tư tưởng của mình hết còn phải bị dưới quyền chỉ huy của hoàn cảnh và xã hội chung quanh nữa. Ấy, mình đã đạt được sự "độc lập tinh thần" rồi vậy.
Muốn cho tinh thần được độc lập một cách vững vàng hơn, phải tập quyết định lấy những hành động của mình, bất kỳ là việc nhỏ hay việc lớn. Thường, hễ sự hoạt động về trí não kém, con người hay có cái tánh buông trôi ý chí mình cho kẻ khác, tha hồ ai muốn lôi cuốn về phương hướng nào cũng mặc, hơn là suy nghĩ, phán đoán và quyết định theo hướng mình. Họ lựa chọn những tư tưởng nào mà phần đông công nhận, hay là phải tự mình biện biệt, nghĩ ngợi.
Hãy xem chung quanh ta thì rõ: phần đông con người, nếu gặp phải cảnh khó khăn, hay đem việc mình mà bàn bạc với kẻ khác. Chủ ý của họ là được người khác khuyên bảo, và giúp cho sự quyết đoán hay quyết đoán hộ cho.
Nếu các bạn muốn giữ độc lập cho tinh thần, thì phải xa lánh cái cử chỉ bạc nhược ấy đi. Thay vì, tìm những ý tưởng ấy chung quanh bạn, bạn hãy tìm nó nơi bạn trước hết. Muốn vậy, phải kiếm nơi yên lặng để trầm tư, mặc tưởng, dễ quan sát những vấn đề ấy đủ mọi phương diện... Nếu bạn thấy sự hiểu biết của bạn còn thiếu sót, và bạn cần phải nghiên cứu cho tinh tường, chừng đó bạn sẽ tìm đến kẻ khác, giàu kinh nghiệm, giàu học hỏi hơn để thỉnh giáo. Nhưng, bạn đừng có đem công việc của bạn mà nói ra, hãy khéo cật vấn bằng một vài câu hỏi cần thiết về vấn đề bạn muốn biết là đủ. Bạn đã tránh cho bạn sự tản mát tinh thần, mà bạn cũng tránh cho người ân nhân của bạn một sự phung phí vô ích về khí lực.
Trừ ra những kẻ buông lỏng số phận mình cho vận mạng, cho hoàn cảnh hên xui; mỗi một người của chúng ta, cần phải hữu tâm lấy cái mục đích nhất định của đời mình, những điều mình phải làm để đi đến mục đích ấy. Vậy, phải học, phải quan sát lấy mình để hiểu mình, để biết trình độ tri thức và những sở năng vừa có thể chất của mình như thế nào... Nhờ đó, mới quyết định đặng hành động của mình ra sao, và chỉ có một mình mình là biết rõ mình hơn ai hết cả. Đừng đợi kẻ khác khám phá việc ấy thế cho ta. Ở đời, ta chớ vô tâm thái quá như thế. Kẻ khác, dẫu học lực uyên thâm đến mực nào, cũng không làm sao hiểu được mình bằng mình đặng. Bất quá, là họ biết được đại khái là cùng.
Vậy, đừng cậy đến ai, đừng ỷ lại vào ai cả.

Lãng tử đa tình




Đa tình lãng tử cõi đam mê
Tỉnh say say tỉnh kiếp lê thê
Giai nhân mỹ tửu ngày ngày cận
Nợ duyên vay trả đêm đêm kề
Gánh thân cát bụi đôi nhật nguyệt
Trãi hồn sương gió độc sơn khê...




Đêm cuối tháng mườ




Featured image: kriptodepresija





Mùa tách vỏ lặng thầm
chảy máu dài trên gió đêm
dốc dã quỳ
đèn vàng – mù sương
rất chậm.

Sau kính cửa
điệu bolero ngập ngừng theo mùi cà phê loang vị đắng
mặt thèm hứng gió
nhớ môi ngoan.

Dốc đêm hoang buốt
túi áo khoác sau bậc cửa
nằm nhớ những ngày mười ngón ủ ấm cho nhau
thèm được úp mặt lên bờ lưng
nghe từng nhịp rộn
âm âm bài ca xưa.

Đoạn thơ rã rời gãy khúc
ngôn ngữ không cảm xúc biến dạng
méo mó trên từng nấc câm
mò mẫm băng qua những đêm tháng Mười
ánh mắt mộng du gai nhọn
cào xước trên từng phím chữ mù lòa
giữa những ám tượng buốt trắng
nghe lá trạng nguyên tóe máu gọi mùa
lần trên những bậc thang tối
tháng Mười vừa tự tận
rơi….

Phương Uy

Đâu là sự thật trong bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”?




Nhật Minh


Mới đây, Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn lại có chủ trương thực hiện bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”.

Các bạn tôi xem xong, mọi người đều có chung nhận xét, đó vẫn là những luận điệu cũ rích, tài liệu bị bóp méo phục vụ cho luận điệu xuyên tạc của “các nhà nghiên cứu”. Họ đề nghị tôi xem và cùng bình luận ý kiến với anh em. Tôi lắc đầu, vì không muốn mất thì giờ với cái thứ vô bổ ấy. Với lại tôi không có phận sự gì lên tiếng về bộ phim này mà đó là của những người có trách nhiệm trong các cơ quan hữu quan.Nhưng anh em nhất định không đồng ý với tôi, gặp bãi phân ngoài đường, người đi đường trông thấy không phải chỉ bịt mũi chạy nhanh qua mà cần phải thò tay vào bốc nó vứt đi cho phong quang sạch sẽ đường đi lối lại. Đừng để những điều bậy bạ đó, nó như những bộ phim Sex đồi trụy làm hại các thế hệ thanh niên mới lớn, hay tò mò. Mỗi công dân hãy tự mình lên tiếng khi gặp điều trái tai gai mắt chứ đâu cần phải đợi đến ai. Vậy thì tôi cứ mạo muội mà có mấy thu nhận sơ sài sau khi rất kiên nhẫn bỏ thời gian để ngồi xem cho hết cái tấn tuồng mà các con rối thi nhau bày trò trong bộ phim nói trên.

Xét một cách toàn diện nhất thì toàn bộ bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” do Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn chủ trương thực hiện là một sự bịa đặt, vu khống trắng trợn và cố tình bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một thứ sảo thuật chính trị, “lập lờ đánh lận con đen” trong khi đưa ra các tư liệu. Có câu, nửa sự thật không phải là sự thật.

Dưới đây, tôi sẽ chỉ ra những cái trò “ma cô” đó để các bạn thấy trong những “phát kiến lịch sử vĩ đại” của họ. Thưa các “nhà nghiên cứu” người Việt Nam ở Hải ngoại! “Các ngài” chắc hẳn sẽ “vui lòng” khi được tiếp nhận thông tin nhiều chiều phản hồi, trong đó có tôi một khán giả “hâm mộ” bộ phim này!

Đầu tiên, tôi muốn gửi lời tới nhà điều hành: Trần Quốc Bảo và nhà ráp nối của bộ phim: Chu Luynh. Hai vị (cũng như các vị cố vấn cố véo khác), các ông chưa sạch nước cản trong khi làm khoa học lịch sử. Trình độ của các ông trong khâu xử lý tư liệu chỉ đáng xếp vào hạng một anh học trò loại tồi. Khi phỏng vấn ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ dẫn tên ba người cán bộ là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì ảnh chân dung Võ Nguyên Giáp đó là tướng Văn Tiến Dũng đấy nhé. Không chỉ một lần, mà đoạn ông Vũ Thư Hiên nói về Cải cách Ruộng đất, dẫn chùm ảnh 4 người: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, các ông vẫn tiếp tục đưa ảnh tướng Văn Tiến Dũng thay vào tên Võ Nguyên Giáp (!).

Tôi có thể dẫn nhanh những chú thích ngớ ngẩn tiếp theo của các ông như miệng các ông thuyết minh Chính phủ Liên hiệp năm 1946, nhưng trên ảnh là năm 1945; Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam được thực hiện bắt đầu vào năm 1953 thì các ông gán lên màn hình đó là năm 1951 (?), phỏng vấn nhà văn Trần Mạnh Hảo thì hình ảnh lại là khuôn mặt nhà thơ Hoàng Trần Cương đã bị biến dạng… Một người – một cơ quan làm việc nghiêm túc và có trình độ thực sự không bao giờ lại có những sai sót trong những chi tiết lịch sử phổ thông nhất như vậy, các ông chớ bảo tôi “bới lông tìm vết”. Với những sự kiện đơn giản nhất các ông còn không nhận chân được nói gì tới chuyện giải mã những bí ẩn xung quanh cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh mà đòi tìm ra “sự thật”!

Đoạn trên tôi có dẫn câu: Nửa sự thật không phải là sự thật. Trong đoạn phim về Nhật ký trong tù, các ông chỉ đưa ra bút tích trang đầu tập thơ ghi ngày 29/8/1932 – 10/9/1933 mà không dám đưa trang cuối cùng của tập, cũng bút tích ghi ngày 29/8/1942 – 10/9/1943. Các ông có hiểu những dòng này có ý nghĩa gì không? Hay chỉ là sự bóp méo của các ông?

Đặng Thai Mai trong bài “Đọc lại Ngục trung nhật ký” (1970) đã viết: “Cuốn sổ tay của Bác, hiện còn lưu trữ, có ghi trên bìa 2 con số: 1932 – 1933. Trong thời gian Viện Văn học hiệu đính bản dịch Ngục trung nhật ký (1959 – 1960), chúng tôi đã đề đạt lên Bác câu hỏi về điều này, qua Ban Tuyên giáo, và đã được trả lời: hai con số trên là sai; đúng ra là 1942 – 1943”. (Tư liệu này có thể tìm đọc trong sách “Trên đường học tập và nghiên cứu” của Đặng Thai Mai – nhà xuất bản Văn học năm 1971, hoặc mới đây được in lại trong Đặng Thai Mai toàn tập, tập II, nhà xuất bản Văn học năm 2006).

Để biết được hành trình của tập Nhật ký trong tù, các ông vui lòng tìm cuốn sách của nhà văn Hoàng Quảng Uyên: “Nhật ký trong tù số phận và lịch sử” (khảo cứu – tái bản lần thứ 1, có sửa chữa) - nhà xuất bản Thanh niên 2007. Trong cuốn sách này, phần phụ lục có bài viết của cụ Trần Đắc Thọ: “Những điều ta chưa biết về “Ngục trung nhật ký” cũng như về quá trình dịch thơ “Ngục trung nhật ký” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cụ Trần Đắc Thọ đã trực tiếp hỏi chuyện cụ Hồ Đức Thành (năm đó 85 tuổi) nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, nguyên Chủ nhiệm Biện sự xứ Việt Nam tại Trung Quốc, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 – 1960) là người sớm tiếp xúc với tập Nhật ký trong tù từ trước Cách mạng tháng Tám 1945: “Đọc hết tập Ngục trung nhật ký, cụ Thành có hỏi Bác Hồ vì sao ở bìa tập Nhật ký lại ghi: 29/8/1932 đến 10/9/1933. Bác đáp: Mình muốn đánh lạc hướng, ai hiểu thế nào thì hiểu”. (Hoàng Quảng Uyên – sđd, tr 208). Nay có vị nào thắc mắc, xin mời cứ tới 23C phố Tôn Đản – Hoàn Kiếm – Hà Nội để được cụ giải đáp.

Ngoài ra tôi không muốn dẫn thêm những hình ảnh cố tình cắt xén, xuyên tạc khác khi xem bộ phim này.

Ông Lê Hữu Mục lảm nhảm những điều về Nhật ký trong tù, đã làm tôi nhớ đến nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Trong bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký, giáo sư Phan Ngọc viết:


“…Vào cuối tháng X-1992, Viện Văn học cho tôi xem bài viết của Lê Hữu Mục Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký. Mục đích của đời tôi là chỉ tìm phương pháp làm việc có lợi cho nhân dân nước tôi. Tôi không xét động cơ. Nhân bài này, tôi xin nêu lên những lỗi về hình thức (vice de forme) mà người cầm bút nào cũng phải đề phòng. Chỉ cần phạm một lỗi như thế là toàn bộ lập luận bị vứt bỏ. Ông Lê Hữu Mục trong bài viết của mình phạm đến tám lỗi về hình thức đủ cho pháp luật tư sản kết ông về tội vu cáo…”.

Trong bài viết của mình, tôi không dẫn ra toàn bộ tám lỗi của ông Lê Hữu Mục (bạn đọc quan tâm đến vấn đề này có thể tìm thấy dễ dàng trong cuốn Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù – nhà xuất bản Giáo dục 1993, bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký từ tr 619 đến tr 630). Với sự nghiêm túc của một nhà khoa học, với tinh thần tranh luận giữa hai vị giáo sư giảng dạy văn học, giáo sư Phan Ngọc vừa chỉ dẫn vừa khuyên răn ông Lê Hữu Mục:

“…Ông không thể trách tôi thiếu nghiêm chỉnh. Tôi chỉ cần dẫn một người là ông thấy ngay mình phạm cái điều mà Ăngđơrê Git (André Gide) nói: Ignorance qui s’ignore invite à de grandes affirmations (Sự ngu dốt không tự biết mình đẩy người ta đến những sự liều lĩnh).

…Tôi biết ông muốn phủ nhận Hồ Chí Minh là tác giả Ngục trung nhật ký. Nhưng cách làm của ông là sai lầm. Tôi xin bày cho ông một mẹo. Ông hãy tìm những bài chắc chắn là thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, thí dụ những bài làm ở Việt Bắc, thơ tặng các cụ Võ Liêm Sơn, Bùi Bằng Đoàn v.v… rồi chứng minh đó là thơ dở. Sau đó mới chứng minh Ngục trung nhật ký là của người khác, bởi vì nó rất hay, như ông đã thừa nhận. Làm thế “kín võ” lại thỏa mãn được cái tâm địa của ông. Chắc chắn ông biết mẹo này, nhưng dù có ba đầu sáu tay, ông cũng không dám làm. Bởi vì ông ngu dại gì chứng minh những bài thơ ấy là dở. Kết quả ông phạm lỗi thứ năm về hình thức: dựa trên cái võ đoán để chứng minh cái võ đoán.

… Phật dạy: “Buông dao xuống có thể thành Phật”. Đó không phải lời nói suông. Thánh Phao-lồ đã từng nổi tiếng là người sát hại người Thiên chúa giáo. Nhưng ông đã buông dao để trở thành một trong những người có công nhất với Thiên chúa giáo. Tôi không dám dạy ai. Tôi lo dạy tôi còn chưa kịp dám đâu nói chuyện dạy đời. Quyển sách ông Lê Hữu Mục viết ra thực tế là hành động giơ dao. Tôi đang chờ đợi ông sẽ làm gì với con dao ấy? Nên buông dao thì hơn”.

Sau bài viết này của giáo sư Phan Ngọc, ông Lê Hữu Mục như bị đánh đúng tử huyệt, một thời gian dài nhiều người tưởng ông đã chết. Nay ông thấy còn điều gì chưa tâm phục khẩu phục xin mời ông có ý kiến lại.

Đây tôi muốn nhắc tới ông Vũ Ngự Chiêu, người được các nhà làm phim gọi là Tiến sĩ Sử học, nhà biên khảo, mà sao ông ăn nói càn rỡ thế. Sau những luận điệu bịa đặt về chuyện Hồ Chí Minh có vợ, ông nói thêm một câu, dù các cộng sự của ông trong bộ phim có cố tìm cách cũng không xóa được: Ông nói Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Võ Nguyên Giáp. Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong. Còn vợ Võ Nguyên Giáp là bà Nguyễn Thị Quang Thái, em gái bà Minh Khai. Chẳng lẽ điều này phải đợi đến những đứa trẻ Việt Nam dạy lại cho ông sao?

Vẫn ông Vũ Ngự Chiêu nói, Hồ Chí Minh lấy nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ làm câu đầu tiên trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Để ông được “sáng mắt sáng lòng”, tôi xin dẫn cho ông tìm đọc tài liệu này nhé:

Tạp chí Xưa và Nay số 81B, tháng 11 năm 2000, trang 3 và trang 22, có bài của nhà văn người Hoa Kỳ, bà Lady Borton “Hồ Chí Minh & Tuyên ngôn Độc lập Mỹ”. Là người giỏi tiếng Việt Nam, nữ văn sĩ Lady Borton viết:
“Các nhà sử học Mỹ luôn nói (có phần nào không đúng) rằng Hồ Chí Minh đã mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Việt Nam bằng việc trích dẫn “Tuyên ngôn” của Mỹ. Cụ Hồ có kiểm tra lại trích dẫn của mình không? Nếu có thì thế nào nhỉ? Trả lời được câu hỏi ấy, chúng ta có thể đoán được chính xác rằng liệu Cụ Hồ có ngẫu nhiên hoặc cố ý sửa đổi trích dẫn từ bản Tuyên ngôn của Mỹ…

Bản Tuyên ngôn của Mỹ viết: “… Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng”.

“… We hold these truths to be self-evident, that all men (emphasis mine) are created equal…”

Khi Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ viết năm 1775, “mọi người đàn ông” (all men) là “đàn ông da trắng có sở hữu”, mà “sở hữu” lúc đó thường là nô lệ da đen. Đàn ông da đen có quyền được đi bầu 95 năm sau đó; phụ nữ Mỹ được đi bầu 50 năm sau nữa.

Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu:

“Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền bình đẳng…”

“All people (emphasis mine) are created equal…”

… “Tuyên ngôn Độc lập” của Cụ Hồ bao hàm ngôn ngữ tổng hợp như “dân” (people, common people); “nhân dân” (citizens) và “dân tộc” (nation, the people) cũng là từ chính thức để chỉ bất kỳ dân tộc nào trong năm mươi tư dân tộc của Việt Nam. Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” (men) không hề xuất hiện ở đây.

… Hồ Chí Minh rất giỏi tiếng Anh: cụ phân biệt được “đàn ông” (men) với “mọi người” (people). Với việc chỉ sửa một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo nhưng cuối cùng cũng thông báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam”.

Tôi e bút danh của ông Vũ Ngự Chiêu là Chính Đạo thì nên đổi thành Tà Đạo sẽ đúng hơn.

Ông Vũ Ngự Chiêu vừa lải nhải ở phần trên rằng: “Hồ Chí Minh muốn giành quyền lực bằng mọi giá” thì phần dưới ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ lại tát cho ông một cái vào mặt: “Chính ông Bảo Đại đã thuật chuyện ông Hồ Chí Minh đến thú thực với ông Bảo Đại rằng, người ta coi tôi quá đỏ, cho nên tôi điều khiển Chính phủ không nổi. Bây giờ tôi đề nghị ngài đứng ra điều khiển đất nước thay tôi”. Chỉ một câu trên của ông Minh Võ, tôi không cần phải dẫn thêm ra đây chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Hoàng Minh Giám đi tìm cụ Trần Trọng Kim để mời ra làm Thủ tướng. Đáng tiếc cụ Lệ Thần quá thận trọng, đã đi Singapore từ trước (Hồi ký cụ Hoàng Minh Giám).

Ông Trần Gia Phụng – nhà nghiên cứu sử – Canađa được các nhà làm phim “ban” cho cái quyền uy là “người mở đầu trả lời phỏng vấn về diễn biến cuộc tắm máu kinh hoàng tại miền Bắc”? Lúc đó ông Trần Gia Phụng (sinh năm 1942 tại Duy Xuyên, Quảng Nam) hãy còn mặc quần thủng đít mà lại nói chuyện được về “diễn biến” của cuộc Cải cách Ruộng đất như người trong cuộc vậy?

Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – đã dẫn ra “năm 1951 Hồ Chí Minh nói trước Đại hội Đảng Lao động Việt Nam là không có tư tưởng, nay có Minh triết Hồ Chí Minh”. Là nhà sử học, hẳn ông biết rõ, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ đề cao mình. Người luôn sống giản dị như một lão nông tri điền, như một bậc túc nho nơi thôn dã. Chỉ sau khi Người mất trong nhiều năm về sau, các nhà nghiên cứu mới phát lộ được những di sản Hồ Chí Minh để lại nằm sâu thành tầng, thành vỉa. Và những người tiên phong nhìn ra tư tưởng Hồ Chí Minh đó là hai nhà văn hóa Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Phạm Văn Đồng đánh giá “Hồ Chí Minh là tinh hoa nhân loại”. Còn Võ Nguyên Giáp nhận định “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”.

Ông Nguyễn Ngọc Bích “sợ rằng dân tộc mình sẽ thành dân tộc cuội”, thì tôi mạn phép ông, nếu Kiều bào ta ở Hải ngoại ai cũng như ông, xin lỗi những người chung giọt máu đào, dù có nói nhịu thành “tồng pào” thì vẫn chung một bọc trứng mẹ Âu Cơ, chắc thế giới nghĩ dân tộc Việt Nam là đại bợm.

Ông Trương Nhân Tuấn (tên thật Ngô Quốc Dũng, sinh năm 1956 tại Bạc-Liêu) – nhà biên khảo biên giới Việt – Trung – dẫn lời “ông Hoàng Tranh qua một bài phỏng vấn thì ông có nói rằng trước khi ông Hồ Chí Minh mất thì có ước muốn nghe một bài hát Trung Quốc và một cô y tá Trung Quốc đã hát bài hát đó cho Hồ Chí Minh nghe. Nghe xong thì ông Hồ Chí Minh thiếp đi và không bao giờ tỉnh lại nữa”.

Tôi cảm ơn những điệu nhạc Trung Hoa đệm cho phần trả lời phỏng vấn của ông Trương Nhân Tuấn và tôi cũng xin cảm ơn “phát hiện” của ông. Ông hẳn hiểu câu ngồi lê đôi mach, kiếm chuyện làm quà chứ? Đã là nhà biên khảo biên giới thì ông cứ nói chuyện núi non, sông suối, việc gì ông phải “đớp” vào chuyện Cụ Hồ làm chi. Các cụ người Việt Nam chúng ta xưa vẫn dạy, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ông mượn mồm ông Hoàng Tranh (hay ông để mồm mình làm cái loa cho ông Hoàng Tranh cũng được), ông lục tìm lại tất cả các tư liệu xem, những ngày Hồ Chí Minh ốm nặng, chăm sóc Người có ai ngoài nhân dân Việt Nam hay không? Cô y tá Trung Quốc hát bài hát Trung Hoa ấy mọc ở khe nẻ ra hay các ông giàu trí tưởng tượng?

Những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp lâm chung, Viện Quân y 108 đã cử một tổ cán bộ đặc biệt chăm sóc Bác gồm có: Bác sĩ Nguyễn Thế Khánh – Đại tá, Viện trưởng Viện Quân y 108; bác sĩ Lê Đình Mẫn – người được mang trọng trách sang Liên Xô học khoa ướp thi hài Bác (mà vị bác sĩ này không hề hay biết được giao nhiệm vụ này)… Về phía nữ có ba người là bác sĩ Hàn Thị Nguyệt – Chủ nhiệm khoa Dược Viện Quân y 108; cô Ngô Thị Oanh – y tá Viện Quân y 108; cô Trần Thị Qúy – y tá Viện Quân y 108.

Có dịp về Việt Nam xin mời ông đến Bệnh viện tư nhân Tràng An trên đường Tôn Đức Thắng – Đống Đa – Hà Nội để nhìn tận mắt cô y tá Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1949, người Việt “trăm phần trăm”, quê ở xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã hát khúc dân ca quan họ Bắc Ninh – cũng Việt Nam “trăm phần trăm” – mang tên “Người ơi, người ở đừng về” ru Bác Hồ vào giấc ngủ vĩnh hằng nhé.

“Soi sáng những vùng tối lịch sử, thấu đáo những biến cố của cuộc chiến tranh ở Việt Nam vừa qua, không thể không tìm hiểu sự thực về con người Hồ Chí Minh. Đánh giá chính xác con người Hồ Chí Minh chính là góp phần nhận định trước những diễn biến của thực tế xã hội Việt Nam hôm nay. Rất tiếc Hồ Chí Minh không nằm trong số những nhân vật lịch sử mà toàn bộ cuộc sống và con người là trang sách luôn mở rộng cho bất kỳ con người nào mà ai muốn tìm đọc. Cuộc sống và con người của ông luôn lẩn khuất sau những màn che với những mờ ảo của một thứ huyền thoại”. Vâng, những lời bình trên đây của bộ phim, nửa trước thật cảm động, nửa sau đúng là lập lờ. Đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, vì Người vĩ đại đến bình thường nhất mà ít người hiểu nổi. Người như con rồng vàng ẩn hiện trong mây. Vì vậy đến hôm nay các nhà làm bộ phim này mới có đất mà diễn tuồng chứ.

Tôi muốn gửi lời chào tới ông Bùi Tín, “văn kỳ thanh” đã lâu, nhờ bộ phim này mới được “kiến kỳ hình” ông. Ông Bùi Tín vốn là Đại tá quân đội, Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, sang Pháp dự Lễ kỷ niệm thành lập báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, rồi ở luôn bên đó không về. Với tội đào nhiệm ấy, Nhà nước Việt Nam dư sức truy tố và đề nghị nước bạn cho dẫn độ ông về để lập tòa án. Nhưng với chính sách khoan hồng của Nhà nước, mong muốn của nhân dân Việt Nam chờ đợi ông ngày đó không ai “đánh kẻ chạy lại”. Đáng tiếc rằng ông vẫn ngoan cố.

Ông hẳn đã được biết trong kháng chiến chống Pháp, Tòa án Quân sự đã mở tại Liên khu III khoảng năm 1950 – 1951 để truy tố cố vấn tối cao Vĩnh Thụy vì tội đào nhiệm ở Hồng Kông chứ? Kết quả là ông Vĩnh Thụy bị kết án tử hình vắng mặt. Còn trước đó, hẳn ông vẫn nhớ, trong phiên họp Chính phủ bàn về chuyện ông Vĩnh Thụy đào nhiệm, khi biểu quyết giơ tay, chỉ riêng mình cụ Bùi Bằng Đoàn – Chủ tịch Uỷ ban Thường trực Quốc hội là không giơ tay. Cụ nói tội ông Vĩnh Thụy đáng bị truy tố, nhưng cụ không nỡ. Quốc hội, Chính phủ ai cũng cảm động trước cốt cách của cụ, vì họ biết cụ đã từng làm Thượng thư Bộ Hình trong chính quyền Bảo Đại.

Cốt cách của người cha như vậy, sao ông chẳng học được chút nào? Lẽ ra thời kỳ đào nhiệm bên Pháp ông nên im lặng mà sống cho nốt quãng đời còn lại, rồi gửi nắm xương tàn ở bên đó cũng được. Đằng này ông lại bịa ra bao chuyện thật giả lẫn lộn làm hậu sinh không biết đâu mà lần. Nếu không im lặng được, ông không nên dùng tên cũ nữa, tín mà bội, hoặc ông dùng ngay tên mình mà đưa vào ruột một liều thạch tín, chắc chắn hiệu quả cao nhất.

Còn ông Vũ Thư Hiên, con cụ Vũ Đình Huỳnh – Bí thư duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông hẳn không quên cha mình vẫn được các đồng chí gọi bằng cái tên thân mật: Vũ Đàng Hoàng. Là con, nối chí cha, lẽ ra ông không nên làm cụ phải xấu mặt dưới suối vàng chứ!

Người xưa vẫn dạy: “Đêm về khuya biết sao nào sáng nhất/ Người về già biết ai thật hiền nhân”. Về già mọi điều thiện ác đều cứ hiện hết ra khuôn mặt ấy mà. Việc làm cộng với “trông mặt mà bắt hình dong” đủ để thấy các vị Bùi Diệm, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên… đã không chịu cảnh “lão giả an chi” mà vẫn nuôi trong lòng tâm địa đen tối của mối hận thù. Đáng tiếc thay, ở vào tuổi 80 – 90 các vị cứ thung dung an nhàn không muốn, lại muốn “ôm rơm rặm bụng”. Việc gì mà khi trả lời phỏng vấn các vị cứ phải phùng mang trợn má, cố gom nốt chút sức tàn lực kiệt ấy để phều phào vậy. Hãy để dành hơi mà sống nốt quãng đời còn lại, rồi khi nhắm mắt xuôi tay, có muốn về làm phân bón ruộng thì đất Việt Nam vẫn sẵn sàng nhận.

Tôi xin chịu tội bất kính vì là bậc hậu sinh mà dám múa bút trước mặt các ông, nhưng quả thật, dân gian Việt Nam có câu: “Làm sao bì phấn với vôi”. Còn câu tám chữ tôi mời các cụ luận ra, tôi không dám làm ô uế trang giấy trắng này, các cụ thứ lỗi…

Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – Hoa Kỳ ơi, cám ơn ông đã có lời phát biểu kết thúc bộ phim: “Trả lại cho Ce’za những gì của Ce’za. Trả lại cho Hồ Chí Minh những gì đích thực thuộc về Hồ Chí Minh. Cuối cùng trả lại sự thật đích thực cho lịch sử”. Tôi xin mạn phép gửi tặng lại ông và đoàn làm phim đã công phu dựng lên bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” một câu của đại văn hào Pháp J.J. Rousseau viết trong sách Khế ước xã hội ra đời từ năm 1762 nhé: “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”.

Đây tôi lại xin có vài lời nhắn gửi tới ba bạn trẻ có lời phát biểu trong bộ phim. Tôi tưởng rằng, như các bạn nói, ở Việt Nam các bạn bị tuyên truyền một phía, nghe bằng một tai, khi ra nước ngoài các bạn được nghe nhiều chiều thông tin, hẳn phải tiến bộ hơn chúng tôi trong nước chứ? Ai ngờ ở ra nước ngoài lại thêm cái bệnh đui, chột, nghe mấy kẻ lòng đầy hận thù để tự bôi đen trái tim mình. Đất nước thống nhất đã 34 năm rồi. Vết thương của dân tộc đã liền sẹo. Những người một thời đã từng cầm súng ở hai chiến tuyến nay cũng bắt tay nhau, ôm lấy nhau cùng chung tay xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, phát triển. Là những người có học thức, là lớp thanh niên, các bạn phải tiên phong trong việc xóa bỏ mọi quá khứ đau thương chứ. Vết thương đau của dân tộc ấy, những người con chung của mẹ Việt Nam không ai muốn. Đó là chuyện dĩ vãng của lịch sử một thời. Tôi không muốn biết tên các bạn là gì, khuôn mặt các bạn ra sao, vì khi xem đến đoạn các bạn đại diện cho tuổi trẻ phát biểu, tôi đã nhắm mắt lại. Tôi nhìn các bạn từ trái tim. Các bạn cũng hãy thử nhắm mắt lại, nhìn mọi việc xảy ra xung quanh bạn bằng trái tim mà xem. Và khi nhìn bằng trái tim, các bạn thử nhẩm đọc câu Kiều của Nguyễn Du sau: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”.

Lời cuối cùng tôi muốn nhắn gửi tới tất cả bạn đọc, các nhà làm phim bóp méo sự thật. Mở đầu bộ phim các ông đưa ông Tổng Bush lên nói tới tội ác của Cộng sản giết chết 100 triệu người trên thế giới. Vậy tội ác của người Mỹ gây ra trên đất nước Việt Nam này trong thời gian ném bom miền Bắc, tàn sát miền Nam ai có trách nhiệm? Các vị hẳn biết rõ hai sự kiện ngày 6/9/1945 và ngày 9/8/1945 Mỹ thả hai quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Nhật Bản chứ? Di chứng tội ác đó, 64 năm đã trôi qua, vẫn còn đấy. Nhưng chuyện nước Nhật cũng là quá xa xôi, các nhà làm phim và các bạn hãy nhìn bức ảnh dưới đây được tôi chụp tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ em khuyết tật Thụy An – Ba Vì – Hà Nội: Bà cụ này đang đẩy xe cho đứa cháu nội phải hứng chịu hậu quả chất độc màu da cam (Dioxin). Mầm xanh hy vọng của bà, giờ héo rũ mà chưa biết sẽ vuột khỏi tay bà khi nào. Người có lương tri hẳn phải suy nghĩ : Những đứa trẻ này có tội tình gì ? Còn bao nhiêu và biết đến bao giờ hậu quả đau thương này mới chấm dứt trên đất nước Việt Nam chúng ta?

Trần Gia Phụng-Viết cho đúng sự thậ

                       Lữ Giang*trái và Trần Gia Phụng

Lữ Giang

Ông Trần Gia Phụng nghiên cứu khá nhiều sử liệu, nhất là cổ sử, nhưng khi trình bày, ông thường cố gắng viết “theo lề đường bên phải”, viết cho “hợp với lòng dân”, hợp với dư luận ngoài phố hơn là sự thật, do đó ông thường được hoan nghinh và có khi còn được tôn là “sử gia” hay “đại sử gia”. Một thí dụ cụ thế:

Trong bài “Chuyện một chiếc ải đã mất”, khi nói về ải Nam Quan, ông nhìn nhận theo cổ sử:
“Danh từ “Nam Quan” do triều đình Trung Hoa đặt, có nghĩa là cánh cửa mở xuống hay đi xuống phía nam. Như thế, khi xây dựng cửa ải Nam Quan, triều đình Trung Hoa chính thức xác nhận đây là biên giới phía nam của nước Trung Hoa, giống như Nhạn Môn Quan là cửa ải cực bắc Trung Hoa. Mỗi lần sứ quan một trong hai nước bước qua cửa ải là tiến vào địa phận nước bên kia.”

Sau khi Trung Quốc xây ải Nam Quang xong, người Tàu xây ở phía bắc ải một nhà tiếp tân gọi là “Chiêu Đức Đài”, ta cũng xây một nhà tiếp tân ở phía nam ải gọi là “Ngưỡng Đức Đài”. Như vậy là Tàu “Chiêu” (khiến cho tới với mình), còn ta “Ngưỡng” (ngẩng mặt nhìn lên)!

Tuy nhiên, để vọng theo tiếng khóc ải Nam Quan (của Tàu) đang vang lên ở ngoài phố, “sử gia” Trần Gia Phụng đã phán rằng ải Nam Quan có hai phần: “phần kiến trúc do chính quyền Trung Hoa xây dựng từ thế kỷ 16 gồm có cửa quan và những cơ sở phụ thuộc phía bắc ải” là của Tàu, còn phần thứ hai là Ngưỡng Đức Đài (cái nhà tiếp tân) và hai dãy hành lang tả hữu do Đại Việt xây là phần ải Nam Quan của ta! Nói cách khác, ông đã biến cái nhà tiếp tân của ta thành một phần của ải Nam Quan để “hòa cả làng”! Với tài biến hóa sử “theo lòng dân”, theo “lề đường bên phải” này, ông quả là một nhà “lái sử” tài tình!

Tuy nhiên, khi viết bài “Lý do cuộc đảo chính 1.11.1963” đăng trên dcvonline.net ngày 4.11.2009 và một số websites khác như tuoitrevhn.com, v.v, ông không còn biến chế sử “theo lòng dân” nữa mà viết phịa sử. Ông đã lựa chọn những “sử liệu” nhảm nhí do những kẻ có trình độ ấu trỉ về xuyên tạc lịch sử tung ra để làm căn bản cho bài viết của mình.

Ông bắt chước Đỗ Mậu hay Vũ Ngự Chiêu chỉ tìm trích dẫn những “sử liệu” phù hợp với mục tiêu “oanh tạc” của ông, mặc dầu đó là những “sử liệu” rất nhảm nhí, và bỏ qua những sử liệu chính thức, có căn bản không thể chối cãi được. Ông cũng không cần biết đến một tài liệu quan trọng là bản phúc trình điều tra về vụ Phật Giáo năm 1963 của phái đoàn Liên Hiệp Quốc và các tài liệu đã được giải mã trong hơn 10 năm trở lại đây!

Vì bài “Lý do cuộc đảo chính 1.11.1963” khá dài, trong bài này chúng tôi chỉ xin đề cập đến mục 2 nói về “Dụ số 10 và vấn đề tôn giáo”. Chúng tôi sẽ đề cập đến những mục khác trong những lần tiếp theo.

Trong mục nói về nói về “Dụ số 10 và vấn đề tôn giáo” ông đã đề cập đến hai vấn đề: Vấn đề thứ nhất: Ông trích dẫn phịa sử để chứng minh rằng Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành đã ưu đãi Thiên Chúa Giáo và “quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”.

Vấn đề thứ hai còn khôi hài hơn: Ông cũng viện dẫn phịa sử để cho rằng Tổng Giám mục Huế Ngô Đình Thục lúc đó đã vận động để được Tòa thánh La Mã phong chức Hồng Y nên tìm cách báo cáo láo với Tòa Thánh rằng số tín đồ trong tổng giáo phận ông gồm hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, chiếm 80% dân số khu vực. Ông ngăn cản treo nhiều cờ Phật Giáo để Toà Thánh thấy báo cáo của ông đúng, từ đó đưa tới biến cố Phật Giáo ở Huế năm 1963!


Vì ông Trần Gia Phụng vốn được tôn là “sử gia” hay “đại sử gia”, nên chúng tôi thấy cần phải trình bày hai vấn đề này lại một lần để mọi người, nhất là các tăng sĩ Phật Giáo (đặc biệt là Hoà Thượng Chơn Thành) cho đến nay vẫn còn ôm Dụ số 10 như một võ khí tấn công, biết rõ sự thật và hiểu được ông Trần Gia Phụng đã viết sử như thế nào.

NÓI CHO RÕ VỀ DỤ SỐ 10

Ông Trần Gia Phụng đã viết như sau:

“Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6.8.1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều. Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”.

Đây là những chuyện biạ đặt và dựng đứng vì thiếu hiểu biết về luật pháp và lịch sử.

1.- Ai ban hành Dụ số 10?

Dụ là một đạo luật, chỉ có vua, quốc trưởng hay tổng thống mới có quyền ban hành. Thủ tướng không có quyền. Vậy ai đã ban hành Dụ số 10 ấn định quy chế hiệp hội cho toàn nước Việt Nam?

Dụ số 10 không phải do chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành hay do thực dân Pháp để lại như Giáo Hội Ấn Quang đã xác quyết. Dụ này do Bảo Đại ký tại Vichy, Pháp, ngày 6.8.1950, được đăng vào Công Báo Việt Nam số 33 ngày 19.8.1950.

Dưới thời Pháp thuộc, trên đất nước có nhiều quy chế lập hội khác nhau do chính quyền Nam Triều và chính quyền Pháp ban hành. Tại Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, và các vùng nhượng địa của Pháp như Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng, quy chế hiệp hội ấn định do Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi 1901) và các văn kiện kế tiếp của Pháp được áp dụng. Tình trạng này không phù hợp với một quốc gia độc lập và thống nhất nữa.

Theo Luật sư Trần Văn Tuyên kể lại, sau khi chính phủ Nguyễn Phan Long được thiết lập do Sắc Lệnh số 6/QT ngày 21.1.1950 của Quốc Trưởng Bảo Đại, chính phủ này đã quyết định biên soạn một quy chế hiệp hội chung cho cả nước. Nhưng công việc này chưa hoàn tất thì cuối tháng 4 năm 1950 chính phủ Nguyễn Phan Long bị giải tán. Chính phủ Trần Văn Hữu được thiết lập do Sắc Lệnh số 37/CP ngày 6.5.1950 để thay thế chính phủ Nguyễn Phan Long.

Trong chính phủ mới này, Luật sư Trần Văn Tuyên được cử làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông cho biết khi ông làm Bộ Trưởng được ít lâu thì Phủ Thủ Tướng nhận được dự luật về quy chế lập hội do Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp phối hợp soạn thảo và đệ trình.

Ông đã xem và thấy đa số các điều khoản chính trong dự luật này đều dựa theo quy chế lập hội của Pháp với một số sửa đổi cho phù hợp với tình hình tại Việt Nam lúc đó. Ông đã trình Thủ Tứng Trần Văn Hữu phê chuẩn và gởi qua Pháp cho Bảo Đại ký, vì lúc đó Bảo Đại đang ở Pháp.

Luật về Hiệp Hội 1901 của Pháp vẫn còn được áp dụng ở Pháp cho đến ngày nay. Còn Dụ số 10 ngày 6.8.1950 vẫn được áp dụng tại miền Nam cho đến ngày 30.4.1975 và khi ra hải ngoại, các đoàn thể của người Việt khi soạn nội quy cho các đoàn thể của mình cũng thường phỏng theo Dụ này.

2.- Ở mô cũng như rứa!

Khi phê phán Điều 1 của Dụ số 10 “sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...)” ông Trần Gia Phụng không hề biết rằng các quốc gia lớn trên thế giới (như Pháp và Mỹ) cũng quy định không khác gì Dụ số 10, vì Dụ số 10 cóp luật về hiệp hội của Pháp. Điều 1 của Dụ số 10 đã quy định như sau:

“Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.

“Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”

Rõ ràng là điều 1 của Dụ số 10 đã phỏng theo điều 1 của luật về hiệp hội của Pháp năm 1901:

“L'association est la convention par laquelle deux ou plusieurs personnes mettent en commun d'une façon permanente leurs connaissances ou leur activité dans un but autre que de partager des bénéfices. Elle est régie quant à sa validité, par les principes généraux du droit applicable aux contrats et obligations.”

Ở Mỹ, hầu hết các hiệp hội bất vụ lợi đều được thiết lập vì lý do tôn giáo, bác ái, văn học, khoa học hay giáo dục.

Luật thuế vụ liên bang của Mỹ [Federal 501(c)(3) Status] đã định danh 5 thứ hiệp hội bất vụ lợi có thể được miễn thuế, đó là các hiệp hội có mục đích bác ái, các tổ chức khoa học (scientific organizations), các tổ chức giáo dục (educational organizations), các hiệp hội có mục đích văn học, và các nhóm tôn giáo (religious groups)

Trong bài thuyết pháp trong chương trình “Tiếng Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh Little Saigon ở Orange County, Hoà Thượng Chơn Thành có nói rằng “trong thời Pháp thuộc thực dân Pháp đưa Phật Giáo vào trong cái tròng của Đạo Dụ số 10 gióng như là một hiệp hội đá banh, hiệp hội đua ngựa, vân vân...”

Luận điệu này đã được ông Trần Gia Phụng nhai lại như đã nói trên. Nay qua Mỹ, Hoà Thượng Chơn Thành cũng đưa Phật Giáo vào hội non-profit vì mục đích tôn giáo để có thể hoạt động hợp pháp và được miễn thuế, nó có khác gì hoạt động theo Dụ số 10 ở Việt Nam đâu? Ở mô cũng như rứa. Qua Pháp lại càng gióng hơn.

Thật ra, Giáo Hội cũng chỉ là một hiệp hội, nhưng người Thiên Chúa Giáo gọi là Giáo Hội (Church) vì đó là chữ được dùng trong Thánh Kinh (Mat. 16,19). Không hiểu năm 1964, khi 11 tổ chức Phật Giáo Việt Nam thành lập một tổ chức Phật Giáo thống nhất, họ cũng dùng chữ Giáo Hội (Church). Vậy chữ Church đó lấy từ đâu?

3.- Dụ số 10 không quy định việc treo cờ

Ông Trần Gia Phụng đã căn cứ vào điều nào trong Dụ số 10 để nói rằng “Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”? Chúng tôi tin chắc khi viết như vậy, “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao giờ được đọc bản văn Dụ số 10 nên đã nói bừa. Trong Dụ số 10 không có điều khoản nào quy định như vậy cả.

Năm 1962, Bộ Nội Vụ đã ban hành văn kiện ấn định thể thức treo cờ tại những nơi thờ tự trong những buổi lễ tôn giáo theo sự thỏa thuận của các tôn giáo. Trong buổi thuyết trình cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra vụ Phật Giáo, Tướng Trần Tử Oai có nhấn mạnh: “Như thế, sự quy định của Chính Phủ về vấn đề treo cờ là chung cho tất cả các tôn giáo không có thiên vị tôn giáo nào.”

4.- Nguỵ luận vì thiếu hiểu biết

Điều thứ 44 (không phải điều 45 như ông Trần Gia Phụng nói) của Dụ số 10 có quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô và các Hoa kiều Lý sự hội sẽ ấn định sau.”

Căn cứ vào điều luật này, các tăng sĩ Phật giáo đấu tranh và ông Trần Gia Phụng cho rằng Dụ số 10 đã ưu đãi Thiên Chúa Giáo (không nhắc gì đến Hoa Kiều Lý Sự Hội)! Đây là một lối nguỵ luận vì thiếu hiểu biết. Chúng tôi tin chắc rằng các tăng sĩ đấu tranh và “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao giờ đọc biên bản hình thành Dụ số 10 hay phỏng vấn những người tham gia hình thành Dụ số 10 nên đã ngụy luận như vậy.

Theo thỏa Ước Việt – Pháp được ký kết giữa Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol của Pháp tại điện Élysée ngày 8.3.1949 và các hiệp định thi hành thỏa ước này được Quốc Trưởng Bảo Đại và Cao Ủy Pháp Pignon ký ngày 30.12.1949 tại Toà Đô Chánh Sài Gòn, Pháp công nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng, liên hệ ngoại giao riêng, v.v. Tuy nhiên, Khoản I của thỏa ước đã đưa ra một giới hạn như sau:

“Sự cai trị các sắc dân không phải là người Việt Nam... sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được sự thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, vẫn còn có trách nhiệm đối với họ.”

Từ năm 1960, khi chưa có vụ Phật Giáo, ông Vũ Quốc Thông, Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, giải thích rằng việc quy định những vấn đề liên quan đến chính sách ngoại giao hay các luật lệ liên quan đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống tại Việt Nam, đều phải có sự đồng ý của Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, chính phủ Việt Nam mới được ban hành. Do đó, muốn ban hành các quy chế về các hội truyền giáo của Thiên Chúa Giáo và của Hoa Kiều đang hoạt động tại Việt Nam như Société des Missions Etrangères de Paris, Protestant Mission, Chinese Congregations, v.v..., đều phải có sự đồng ý của Pháp mới ban hành được.

(Vũ Quóc Thông, Việt Nam Tự Do, Chính Thể Cộng Hòa Nhân Vị, Nguyệt san Quê Hương số 16, ngày 16 tháng 10 năm 1960, tr. 1 - 39 và 247 – 262).

Công Giáo Việt Nam lúc đó đang đặt dưới quyền của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (Société des Missions Etrangères de Paris) của Pháp và có một quy chế riêng do Pháp ấn định. Ngày 27.12.1886 Pháp cũng đã chính thức hóa quy chế bang hội của người Hoa tại Việt Nam và đặt dưới sự kiểm soát của Pháp. Theo thỏa ước Élysée, muốn ấn định quy chế của hai tổ chức này, Việt Nam phải tham khảo ý kiến của Pháp trước khi quy định. Vì thế, điều 44 Dụ số 10 phải quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia tô và các Hoa Kiều Lý Sự Hội sẽ ấn định sau.”

Như vậy, một “chế độ đặc biệt” được nói ở đây không phải để ưu đãi Thiên Chúa Giáo và các Hoa Kiều Lý Sự Hội, mà vì bị kẹt thỏa ước Élysée. Vã lại, lúc đó ngoài Công Giáo ra, đã có tôn giáo nào thành lập Giáo Hội đâu mà nói chuyện ưu đãi hay không ưu đãi?

Điều đáng tiếc là các nhà sư đấu tranh lại vinh vào điều 44 của Dụ số 10 như một nguỵ luận để chống ông Diệm và nay được “đại sử gia” Trần Gia Phụng nhai lại!

Sau này, Bộ Nội Vụ cũng đã soạn một quy chế tôn giáo theo mô thức của Pháp, nhưng khi chính phủ Phan Huy Quát đem ra hỏi ý kiến thì bị các tôn giáo phản đối mạnh mẽ nên phải dẹp bỏ.

5.- Bể tan vì “chế độ đặc biệt”

Sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo đã họp tại Chùa Xá Lợi ngày 4.1.1964 và biểu quyết một Bản Hiến Chương thành lập Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, đưa ra những quy định nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia. Vì thế, khi bản Hiến Chương này được trình lên Bộ Nội Vụ, Bộ này đã chiếu Dụ số 10, ban hành Nghị Định số 329-BNV/KS ngày 24.3.1964 cho “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép thành lập trong khôn khổ luật lệ hiện hành”. Nghị Định này do Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trưởng Nội Vụ ký tên.

Tuy nhiên, khi Tướng Khánh lên làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng kiêm Thủ Tướng, để lấy lòng Phật Giáo, Tướng Khánh đã ký Sắc Luật số 158-SL/CP ngày 14.5.1964 phê chuẩn Hiến Chương nói trên, ban cho GHPGVNTN một “chế độ đặc biệt” nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia.

Chính “chế độ đặc biệt” này và những tranh chấp nghiêm trọng và đẩm màu trong nội bộ đã làm GHPGVNTN bể thành Giáo Hội Ấn Quang và Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự. Chính phủ đã ban hành Sắc Luật số 023/67 ngày 18.7.1967 chuẩn y Hiến Chương ngày 14.3.1967 của Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự và thu hồi Hiến Chương của Giáo Hội Ấn Quang khiến Giáo Hội này phải hoạt động ngoài vòng luật pháp.

Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang lại bể thành giáo hội quốc doanh và giáo hội không quốc doanh. Ra hải ngoại, giáo hội này lại bể ra thành Giáo Hội Liên Tông và Giáo Hội Ấn Quang. Mới đây, đa số các tổ chức Phật Giáo hải ngoại đã thành lập GHPGVNTN Liên Châu tách ra khỏi GHPGVNTN của Hòa Thượng Quảng Độ. Điều này cho thấy một “chế độ đặc biệt” là rất tai hại.

Những dẫn chứng trong phần này đã cho thấy ông Trần Gia Phụng là người viết sử rất cẩu thả, không nghiên cứu đến nơi đến chốn trước khi viết, ngay cả Dụ số 10 ông cũng chưa hề đọc mà dám viết về Dụ này!

CHUYỆN GIẢ MẠO SỐ GIÁO DÂN

Ông Trần Gia Phụng dẫn chứng rằng Đức Tổng Giáo Mục Ngô Đình Thục đã ngụy tạo số giáo dân trong tổng giáo phận Huế của ông để vận động làm Hồng Y, đưa tới biến cố Phật Giáo năm 1963. Đây là một chuyện hoàn toàn bịa đặt.

Thật ra, ông Trần Gia Phụng chỉ nhai lại luận điệu của Thích Trí Quang, một thiền sư đại vọng ngữ (nói điều sai quấy) trong thế kỷ 20 của Phật Giáo Việt Nam, đưa tới nhiều nghiệp chướng liên tục và kéo dài.

Trong tập “Tiểu truyện tự ghi” Thích Trí Quang có nói đến nguyên nhân đưa đến biến cố Phật Giáo năm 1963 như sau:

“Vatican điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô đình Thục, sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản thì cờ Phật giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ thì từ Lavang vào Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đình Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh mình báo cáo là giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) thì triệt hạ cờ Phật giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh mình hết rồi.”

Đây là chuyện không không thể xẩy ra được vì ba lý do chính sau đây:

(1) Nếu lúc đó Toà Thánh Vatican muốn nâng một giáo sĩ Việt Nam lên làm Hồng Y thì người đó phải là Tổng Giám Mục Hà Nội hay Sài Gòn chứ không phải là Huế.

(2) Số giáo dân được rửa tội hàng năm đều phải ghi vào sổ rửa tội và báo cáo cho Toà Thánh biết, nên ông Diệm không thể muốn bắt ghi bao nhiêu giáo dân cũng được.

(3) Việc suy cử một giáo sĩ làm Hồng Y thường dựa vào đề nghị của Hội Đồng Giám Mục và Khâm Sứ Tòa Thánh chứ không bao giờ dựa vào những chuyện vớ vẫn như thế.

Những dẫn chứng trong đoạn này cho thấy ông Trần Gia Phụng đã cố ý dựa vào những sự kiện nhảm nhí để viết sử!

VIẾT THEO “LỀ ĐƯỜNG BÊN PHẢI”

Trong bài nói trên, “đại sử gia” Trần Gia Phụng còn viết nhiều phịa sử khác, chúng tôi sẽ nói sau. Khi lời cảnh cáo của chúng tôi được gởi qua email, hình như bài nói trên của “đại sử gia” Trần Gia Phụng đã được rút ra khỏi nhiều websites, kể cả dcvonline.net.

Thời Xuân Thu, Thôi Trữ sau khi giết vua Tề, ra lệnh cho Thái Sử Bá phải ghi vào sử: “Tề Trang Công bị bạo bệnh mà chết”. Thái Sử Bá ghi: “Năm Ất Hợi, tháng Năm, Thôi Trữ giết vua”. Thôi Trữ nổi giận lôi Thái Sử Bá ra chém.

Thái Sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc và Quí, nối nghiệp nhà làm chức Thái Sử. Trọng thay anh, cũng chép y như thế và bị giết. Thúc kế nhiệm, cũng làm y thế và cùng chung số phận. Đến phiên người em út là Quí, cũng làm không khác ba người anh đã chết. Thôi Trữ hỏi Thái Sử Quí:

- Ba anh của nhà ngươi vì chép như thế mà đã chết cả, ngươi không sợ chết sao?

Thái Sử Quí trả lời:

- Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử. Nếu làm không đúng chức phận để cầu mạng sống thì thà chết còn hơn.

Không lẽ bây giờ chỉ vì một hai cái thư phản kháng hay một chiếc xe Van đậu ở bên đường dọa biểu tình mà người viết sử và người làm thông tin đã sợ, phải viết theo “lề đường bên phải” sao? Như vậy làm sao đánh thắng Cộng Sản?

Ngồi mát ăn bát vàng, hèn hơn những người đấu tranh ở trong nước nhiều!

Ngày 23.11.2009
Lữ Giang




Trần Gia Phụng, người thấy được cọng rác, chê cả căn nhà





Ông Bút









Thông thường một sử gia, một người chuyên tâm viết sử, ít ai đem lòng oán hận cá nhân, đặt vào ngòi bút của mình. Bởi dòng mực theo đó không còn trong sáng, khách quan, không còn giá trị, xứng đáng cho thế hệ mai sau học hỏi.



Trước 1975 ông Trần Gia Phụng, (TGP) dạy môn Sử Địa, trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Sau đó ông chú tâm viết sử, một địch thủ sâu sắc dài lâu của ông TGP là: Dòng tộc, gia đình cố TT Ngô Đình Diệm.



Đất Quảng Nam, nói về tôn giáo, phần đông theo đạo Phật, đạo Thờ Cúng Ông Bà, còn gọi Đạo Lương, Đạo Cao Đài. Đạo Công Giáo có tỷ lệ nhỏ hơn.



Nói về đảng phái chính trị, người dân theo đảng: Việt Nam Quốc Dân Đảng, hoặc Đại Việt, Cần Lao Nhân Vị tỷ lệ thấp hơn.







TT Ngô Đình Diệm chấp chánh (ngothelinh.tripod.com)



Gia đình tôi, kẻ viết bài này, cũng ở trong đa số đó, về tôn giáo và đảng phái, 1954, ông Ngô Đình Diệm chấp chánh làm thủ tướng, dòng họ nhà tôi hai bên nội ngoại, đều đi tù tại lao xá Hội An, địa điểm cũ phía bên trái Chùa Phật Học. Cha và bác tôi ở tù từ 1956 - 1959, hai người cậu ruột của tôi ở tù từ 1956 - 1958. Tất cả vì “tội” Việt Nam Quốc Dân Đảng.



Năm 15 tuổi, tôi gia nhập Thiếu Niên Việt Nam Quốc Dân Đảng, năm 17 tuổi kết nạp chính thức vào đảng, qua học lịch sử đảng, tôi nêu câu hỏi:



“1954, Ông Ngô Đình Diệm mới về nước, ông ta chưa kịp đưa ra đường lối, hoặc một chính sách nào rõ rệt. Vì sao đảng ly khai, 143 đảng viên mang 143 khẩu súng, lên núi thượng lập căn cứ?”



Những người hướng dẫn học tập, chỉ nói chung chung: “Vì ông Diệm độc tài, không cho VNQĐD và đảng khác hoạt động,” tôi hỏi tiếp: Vậy tại sao năm 1957 ông NĐD mời người của VNQĐD ra làm tỉnh trưởng, tỉnh Quảng Nam, đó là Thiếu Tá Nguyễn Đình Thiệp? Câu này không ai trả lời, tôi mang câu hỏi đi dài qua mấy thập niên...



1996, gia đình tôi định cư tại Hoa Kỳ, chẳng hiểu do đâu ông Đại Úy Thiết Giáp Phạm Văn Bảng biết tin và ghé thăm. Đây là vị khách đầu tiên của gia đình tôi trên đất mới. Anh Bảng cho biết anh từng đảng viên VNQĐD, và nói: Ở gần đây có nhiều đảng viên, như cụ Phan Vỹ, cụ Phan Ngô... Một tuần sau cụ Phan Vỹ, ông Dương Gia, quận ủy Quế Sơn, ông Trịnh Công Vinh, thị bộ Hội An, đến thăm. Sau tuần trà nước quý ông hỏi: Chú mầy qua đây rồi, có định sinh hoạt tiếp chứ? Tôi hỏi quý anh qua trước, sinh hoạt đảng, trung ương có kiểm điểm gì chưa? Quý ông hỏi lại: (có phần gay gắt) Lỗi gì mà phải kiểm điểm? Tôi đem câu hỏi thời tuổi đôi mươi lặp lại!



“TT NĐD lỗi gì, khiến đảng ly khai, lập căn cứ địa chống chính phủ?”

(Cùng thời điểm, đảng Đại Việt cũng ly khai, với chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị).



Không ai trả lời, tôi nói: “Cho phép tôi được tự trả lời:



Đảng ly khai, chống ông Diệm, vì ông ta không phải là người của Việt Quốc, như vậy đảng tranh đấu không phải cho quyền lợi dân tộc và tổ quốc, đảng tranh đấu vì quyền lợi của đảng, đảng nào cũng có tôn chỉ như nhau, bỏ chính phủ và quân đội chiến đấu trong cô đơn. Đó là một trong ngàn lý do chúng ta chiến bại, hay ngược lại chúng ta vô tình, góp cho quân thù thành tựu ngày 30/4/1975!



Ngày xưa chưa trưởng thành, quý vị khiến sao nghe vậy, tôi không hối tiếc tháng ngày thanh xuân, và ví nó như hôm nay, mới đến Mỹ, xe chưa có, bằng lái chưa có, ai chở đi đâu cũng mặc, đúng sai khó biết, nhưng một khi đã có, tôi sẽ biết đường nào đúng, sai. Nếu sai mà không biết mình sai, tôi sẽ không cùng hành trình nữa. Tóm lại tôi không bỏ, không phản đảng, đảng tịch mãi mãi VNQĐD, song không đứng trong hàng ngũ nữa, tôi sẽ hòa cùng Đồng Hương trong công cuộc tranh đấu này...



Sự kiện khác: Quê tôi thuộc quận Quế Sơn, Quảng Nam, quận nằm phía đông Trường Sơn, địa thế cheo leo nghèo khó, nơi thâm sơn cùng thẳm. Năm 1960 ông nội tôi làm Chùa cho dân tu (ông tôi không theo đạo Phật). 1962 khánh thành, lễ khánh thành rất lớn, Khuông Hội PG ngoài Huế, tỉnh hội Hội An, và ông Quận Trưởng Nguyễn Lê Thọ (ông Thọ đạo Công Giáo) cùng về tham dự lễ. Mới sáu, bảy tuổi đầu, nhưng đây là sự kiện lớn của quê hương, nhất là vùng quê nghèo khó, nên không thể nào quên. Thế nhưng lớn lên một tí đi đâu, và bất kể trang sách nào cũng đều nói: “Ông Diệm đàn áp Phật Giáo.” Thiết tưởng tôn giáo nào, cũng khuyến dạy con người ăn nói ngay lành, để tránh nghiệp chướng, vu oan giá họa cho kẻ khác, người thường tình cũng không thể làm, chưa nói tới chân tu. Do đó theo tôi, ngày nay ai nói “ông Diệm đàn áp phật Giáo” một là kẻ đó quá ngu xuẩn, chỉ biết tin sách vở, tài liệu, không đem trí não phân tích, phán xét, hoặc kẻ đó lương tâm bất thiện.



Kể từ nền Quân Chủ cáo chung tới nay, chưa có ai thương dân, yêu nước chí thành bằng ông Ngô Đình Diệm, chưa ai kiến tạo một xã hội đạo đức và nề nếp được như ông.



Một gia đình bị suy sụp vật chất, nhưng khéo gìn giữ gia phong, cũng có ngày chấn hưng thịnh vượng, sung túc. Nhưng suy đồi đạo đức, gia đình đó kể như vất đi. Quốc gia là gia đình rộng lớn, hãy nhìn về đất nước hiện nay, sau 37 năm không tiếng súng, nền giáo dục luợm thượm, đạo đức phá sản, một ngày với hàng chục án hiếp dâm, cha hiếp dâm con, ông ngoại, ông nội hiếp dâm cháu! Còn vô vàn điều kinh tởm khác...



Tôi sùng kính ông Ngô Đình Diệm, vì ông yêu nước chân thành, không là tu sĩ, nhưng sống đời đạo hạnh khắc kỹ. Không TU nhưng ông đã HÀNH đạo từng ngày, từng giờ trong cuộc sống, tất nhiên ông cũng phạm “sai lầm, sai lầm” quá lớn: Lương tâm kẻ tu hành, lại dấn thân vào sự nghiệp chính trị! Ông không thể là đối thủ của loài lang sói hung hiểm, ông đem lòng chân nhân, quân tử đãi ngộ kẻ tiểu nhân, đây là những sai lầm căn bản.



Ông Trần Gia Phụng viết gì?



Phần mở đầu bài này, tôi viết ông TGP không chỉ thâm thù với cá nhân TT NĐD, còn thâm thù với cả dòng tộc Ngô Đình, dẫn chứng:



Trong bài bút ký đầu xuân, ông TGP viết cho một đặc san, xuất bản năm 2003, tựa đề “Đi tìm Ngũ Phụng” bài này được đăng phần đầu tiên của đặc san, từ trang 9 tới trang 25, trong này trang 16 và 17, trích nguyên văn:



“Mùa xuân năm 1963, tôi nghe một chuyện như sau tại Đà Nẵng. Số là ngày tết Quý Mão tôi theo phụ thân tôi đến thăm một người bạn của ông. Khi đến nơi tại đó có sẵn một vị khách đã già. Chủ nhà giới thiệu đây là một nhà chiêm tinh, ở xa đến, ghé thăm dịp đầu năm. Lúc đó tôi đang học đại học nên có đủ trí không để nghe chuyện. Ông khách chiêm tinh gia đang nói chuyện về ngôi mộ của ông Ngô Đình Khả ở Phủ Cam Huế, ông cho biết trong mùa đông vừa qua (cuối 1962) sét đánh trúng ngôi mộ của ông Ngô Đình Khả. Không biết gia đình “Ngô tổng thống” năm nay (1963) có bị gì không? Thế rồi ông chiêm tinh gia, kể về ngôi mộ thiên táng của thân sinh ông Ngô Đình Khả, tức ông nội TT Diệm, theo ông thầy bói này thân sinh ông Khả ở làng Lệ Thủy (Quảng Bình) làm nghề “mõ” rất nghèo. Những ai lớn tuổi từng sống ở làng quê Việt Nam, đều biết rằng trong làng “mõ” là người đi rao tin tức trong làng, những mệnh lệnh của lý trưởng, ban điều hành làng, khi đi rao, người nầy dùng cái “mõ” gõ cốc cốc cốc, để gây sự chú ý của dân làng, và dân làng gọi một cách bình dân và rẻ rúng “thằng mõ”. Ngày trước dân làng, người ta rất xem thường “thằng mõ”.



Riêng ông “mõ” làng Lệ Thủy, phụ thân của ông Ngô Đình Khả qua đời, gia đình nghèo qúa, không có tiền chôn. Vị linh mục ở nhà thờ đó, hình như linh mục Nguyễn Văn Thơ (sau vào Đà Nẵng chết chôn ở khu “mả Tây” Đà Nẵng, tức khu vực trường Nữ Hồng Đức sau nầy) đã cho hai người phu dùng chiếu cuốn xác ông “mõ” đem đi chôn. Lúc đó trời đã xế chiều nên khi vào rừng hai người nầy sợ cọp, để xác lại bên một gốc cây, rồi bỏ về. Hôm sau trở lui, hai ông định đào lỗ chôn người qúa cố, nhưng thấy mối đã đùn phủ đầy xác ông “mõ”, trở thành ngôi mộ thiên táng. Người ta cho rằng nhờ đó mà dòng họ Ngô bộc phát. Con của ông “mõ” là ông Ngô Đình Khả, bơ vơ vì mất cha, được linh mục Thơ và nhà thờ nuôi cho ăn học, sau này làm lớn trong triều đình Huế. Rồi đến các ông Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, con ông Ngô Đình Khả. Ông Khôi có một thời làm tổng đốc Quảng Nam, còn ông Diệm làm tổng thống VNCH từ 1955 - 1963.



Tôi nghĩ rằng câu chuyện do ông thầy bói, kể trong mùa xuân năm đó chỉ là truyền thuyết hoang đường về phong thủy mà thôi”- hết trích.



Thủ đoạn của ông Phụng khá tinh vi, xuyên tạc, suy bỉ dòng họ người ta đã đời, cuối cùng kết luận “chuyện hoang đường”? Với khả năng người viết văn xoàng, cỡ ba xu thì tạm chấp nhận được, còn ông Phụng, người chuyên dạy sử và viết sử, cũng tệ đến thế ru? Ông viết chuyện hoang đường, rồi xử trí thế nào chứ? “Truyền thuyết phong thủy hoang đường” còn ông nội của TT NĐD nghèo đến nỗi sống vô gia cư, thác vô địa táng, đâu có hoang đường, phải không thầy dạy sử, sử gia Trần Gia Phụng?



Dụng ý gì, TGP tự mình đem chôn LM Nguyễn Văn Thơ tại “khu nghĩa địa mả Tây” ông muốn kết tội “cha đạo theo giặc Pháp chứ gì”? Tiếc thay ông Phụng sinh ra, lớn lên tại Đà Nẵng, lại là người dạy sử, viết sử, lại đi viết sai bét về một sự kiện chính tại quê nhà. Ông Phụng nên nhớ rằng: Không hề có bất cứ một Linh mục nào đã chôn tại nghĩa địa “mả Tây”, Đà Nẵng.



Người Viết văn, viết sử cần có tính cẩn trọng, là phải tìm bỏ bớt những phi lý, những mâu thuẫn trong câu chuyện, hầu thuyết phục người đọc, ông nghĩ sao: Cũng LM Thơ, khi ông mõ chết, LM không có nổi chiếc quan tài, phải bó chiếu chôn ông mõ, nhưng lại nuôi con ông Mõ, là ông Ngô Đình Khả học thành tài? Tiền một quan tài, và tiền nuôi ăn học, món tiền nào lớn hơn? Nên nhớ ở làng quê Việt Nam, không có ai kinh doanh hàm (quan tài). Khi có người qua đời, con cháu không lo nổi, xóm làng vác cưa vào rừng xẻ gỗ, chẳng phải xin xỏ ai. Chưa có xứ nào bó chiếu chôn, ngoại trừ Quảng Bình, như giáo sư, sử gia TGP nói!?



Nghĩa tử là nghĩa tận, đạo lý, nghĩa tình đồng bào để đâu?



Cả xứ đạo của LM Thơ đều nghèo mạt đến thế sao? Nghèo bạc tiền, nghèo cả đạo đức sao?



Nghèo, cha chết bơ vơ, biết chí thú ăn học thành tài, trở thành ông quan đại thần nhà Nguyễn, với tiết tháo và đạo đức sáng ngời, qua câu ca dao truyền đời: “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”. Đâu có phải nghèo, mà ngu dốt, vô hạnh như bè lũ Việt gian Cộng Sản ngày nay.



Mới đây trên Đàn Chim Việt, với bài 23/10 Ngày trưng cầu dân ý.



Ông Trần Gia Phụng, đã cố tình lãng quên thời đại khắc nghiệt và hoàn cảnh lịch sử nước nhà, vào thời điểm trưng cầu dân ý. Ông Phụng nêu 2 điểm trong phần kết luận.



Phần 1



“Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm... nghĩa là một hình thức độc diễn”.



Đại ý tác giả, cho rằng ông Diệm đã tiếm ngôi. Tôi nghĩ trong tình thế này muốn cứu nước, cứu dân, không riêng ông Diệm, bất cứ ai cũng đành lòng hành động như thế, bởi quốc trưởng Việt Nam, nhưng thường trú Paris Pháp quốc! Làm sao thỉnh quốc trưởng về được, 100% ông không về. Nếu có tham gia ứng cử, Bảo Đại sẽ thua nhiều người khác nữa, đâu chỉ thua mỗi ông Diệm.



Phần 2



“Kết quả trưng cầu dân ý là... và quyết định chức danh quốc trưởng.”



Ông Diệm về nước ngân khố rỗng không, quân đội còn trong tay Pháp, Chợ Lớn của Bảy Viễn, là động đĩ, là sòng bài, hang ổ hút xách, đảng phái vùng lên chống lại khắp nơi nơi, đồng bào Miền Bắc ùn ùn di cư cả triệu người. Liệu rĩ rã, tà tà tiến theo từng công đoạn hợp hiến, hợp pháp như ông Phụng đòi hỏi, có thực hiện được không? Giả sử theo tiến trình mang tính hình thức, che mắt người dân, để lên làm Tổng Thống khỏi ai dị nghị, ông Nhu, ông Diệm chắc thừa sức nghĩ đến, song trách nhiệm với tình thế đất nước hiện tại, điều quan trọng và cần thiết hơn.



Ông Ngô Đình Diệm, có giá trị và sự hiện hữu không chỉ từ 1954 - 1963, mà cả sau khi ông bị sát hại 1963 - 1967 đất nước vô chủ, quân vô phèng, đã nói lên cái giá trị đó. Sự kiện này quả rất ngạc nhiên, đối với chủ nhân ông bỏ tiền thuê mướn, chi phí đảo chánh.



Ông Ngô Đình Diệm, đã chết và đã làm người sống phải sợ hãi, vì từ 1963, đến hiện nay chưa ai dám công khai mở miệng nói: “Tôi giết ông Diệm”, đa phần chỉ úp úp, mở mở “Ai hiểu sao cũng được”. Thậm chí cấp chỉ huy giết đàn em Thiếu Tá Nhung, để bịt đầu mối. Vậy ông Ngô Đình Diệm xứng đáng tiêu biểu:



CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA DÂN TỘC.



Ai đã sát hại ông, chính là kẻ hèn và TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC



Giả sử người Mỹ chấp nhận giải pháp của TT Ngô Đình Diệm: Không đổ quân vào Miền Nam Việt Nam, họ đã tiết kiệm ít nhất năm chục ngàn sinh mạng của binh sĩ. Nhưng không, họ đã quyết tâm giết bằng được ba anh em ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, để đánh đổi một cái giá vô cùng đắt, cuối cùng mang về xứ “một hội chứng Việt Nam” thê thảm.



Với một bài toán này thôi, chúng ta thấy được sức mạnh phi thường của:



CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA DÂN TỘC



Người Việt có câu: “Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, ông Trần Gia Phụng, dù có tài ba đến đâu cũng sai lệch. Khi nhìn thấy chỉ một cọng rác, đi đánh giá toàn bộ một căn nhà, với lời lẽ đôi khi hằn học: có lúc viết trổng Ngô Đình Diệm, đôi khi Diệm, có chổ đóng ngoặc kép chữ “Ngô Tổng Thống”. Có thể ông và hàng triệu người không thích ông NĐD, nhưng ông vẫn là TT VNCH.



- Tôi học trò Trần Quý Cáp Hội An, có những bạn thân học trò của ông Phụng, trường Phan Chu Trinh. Tôi biết vị trí đứa học trò, song trong lòng tôi không thể trọng nể ông được, vì quá nhiều lần ông viết sai lệch, tìm mọi cách xuyên tạc cố TT Ngô Đình Diệm.



- Là quân nhân, chỉ cần một anh Trung Sĩ, tôi phải trọng họ, vì tôi Hạ Sĩ Nhất, song với Đại Tướng Dương Văn Minh, tôi khinh bỉ tận cùng.



Tháng Mười Một, lễ Tưởng Niệm qua rồi. Nay lòng thành kính, ngưỡng mộ dâng lên nhà chí sĩ ái quốc Ngô Đình Diệm, cùng anh linh, tử sĩ Quân Dân Cán Chính VNCH nén nhang tri mộ.



Hoài cảm, tháng 11



Chín năm tàn mộng hưng nước Việt

Nghìn thu ôm ấp chí tự cường

“cách mạng” (1) đem về những tang thương

Đọc trang sử cũ tuôn dòng lệ

Chạnh nhớ người xưa lụy nước non

Ngày mai ví thử quê mẹ còn

Ta về đắp tượng người trung liệt

hai hàng Tần Cối, quỳ hai bên (2)



Ông Bút

----------------------------------------

1/ “cách mạng” Hồ Chí Minh, Dương Văn Minh tự xưng “cách mạng”

2/ Tần Cối: Thích Trí Quang, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính...



--------------------------------------



Tiểu Sử Trần Gia Phụng











TIỂU TRUYỆN:

- Nguyên quán: Tỉnh Quảng Nam

- Tốt nghiệp Ban Sử Điạ Đại Học Sư Phạm Huế năm 1965

- Tốt nghiệp cử nhân Giáo Khoa Sử Học Đại Học Văn Khoa Huế năm 1965

- Trước năm 1975: Giáo sư trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng và giảng viên Viện Đại Học Cộng Đồng Đà Nẵng năm 1974.

- 1975 - 1995: Nghỉ dạy, sinh sống tại Đà Nẵng và Sài Gòn.

- 1995 đến nay: Định cư tại Toronto, Gia Nã Đại.

Liên lạc: trangiaphung2011@yahoo.com

TÁC PHẨM:

1) Trung Kỳ Dân Biến 1908 (Toronto, 1996)

2) Những Câu Chuyện Việt Sử (Toronto, 1997)

3) Những Cuộc Đảo Chánh Cung Đình Việt Nam (Toronto, 1998)

4) Những Câu Chuyện Việt Sử tập 2 (Toronto, 1999)

5) Những Kỳ Án Trong Việt Sử (Toronto, 2000)

6) Quảng Nam Trong Lịch Sử (Toronto, 2000)

7) Án tích Cộng Sản Việt Nam (Toronto, 2001). Giải nhất Giải Văn Học năm 2002 của Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do (lễ trao giải tổ chức tại Anaheim, California, ngày 10-8-2002)

8) Ải Nam Quan (Toronto, 2002)

9) Những Câu Chuyện Việt Sử tập 3 (Toronto, 2002)

10) Exposing the Myth of Ho Chi Minh (Toronto, 2003)

11) Quảng Nam Trong Lịch Sử tập 2 (Toronto, 2003)

12) Việt Sử Đại Cương tập 1 (Toronto, 2004)

13) Nhà Tây Sơn (Toronto, 2005)

14) Những Câu Chuyện Việt Sử tập 4 (California, 2005)

15) Exposing the Myth of Hồ Chí Minh (sách song ngữ, tái bản, xem lại và bổ sung, Toronto, 2005)

16) Việt Sử Đại Cương tập 2 (1428-1802) (Toronto, 2006)

17) Việt Sử Đại Cương tập 3 (1802-1884) (Toronto, 2007)

18) Trung Kỳ Dân Biến 1908 (hiệu đính và bổ sung để tái bản nhân dịp kỷ niệm 100 năm biến cố nầy)

19) Việt Sử Đại Cương 4 (1884-1945)

20) Việt Sử Đại Cương 5 (1945-1954)

21) Việt Sử Đại Cương 6 (1954-1975) Hai miền Nam Bắc

22) Chiến Tranh Việt Nam 1960-1976 - Việt Sử Đại Cương tập 7


Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

‘Không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này’



Tác giả: Cẩm Quyên- Phạm Hải
.

Tổng bí thư: Bộ máy đúng là cồng kềnh
‘Bộ máy cồng kềnh dân è cổ nuôi’

Không tìm ra 40 ngàn tỷ cải cách lương




ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm

ĐB Nguyễn Văn Minh cho rằng việc tăng lương bị trì hoãn là vấn đề lặp lại nhiều, cần xem xét lại, cần thiết phải tăng lương tối thiểu theo lộ trình để đảm bảo đời sống của cán bộ, công chức.



Muốn làm được như vậy, ông Minh đề nghị phải tiết kiệm chi tiêu: “Nhiều công trình mất hàng ngàn tỷ để xây dựng nhưng xây xong không sử dụng hoặc công trình không cần thiết, rất lãng phí”.

Tiết kiệm chi tiêu còn phải đi kèm với tinh giản biên chế. Hiện nay đội ngũ hưởng lương rất lớn nhưng người làm việc chuyên môn ít, bộ máy tổ chức cồng kềnh. Bộ Nội vụ từng triển khai việc tự đánh giá công việc của cán bộ, công chức nhưng làm xong thì không có đơn vị nào xin giảm biên chế mà đều xin tăng!


ĐB Trần Du Lịch

Còn ĐB Trần Du Lịch nhấn mạnh “nếu cứ duy trì bộ máy chính quyền địa phương 3 cấp với tất cả ban bệ hệ thống như hiện nay thì không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này. Nếu không giải quyết được vấn đề này, không thể nghĩ đến việc tăng lương, nâng cao phúc lợi cho người dân”.

Trong khi đó, ĐB Đỗ Văn Đương đánh giá con số 1/3 cán bộ công chức “cắp ô” đã được chỉ ra nhưng có giảm được ai đâu? Theo ông, cần giảm hẳn biên chế và phải quy về từng cơ quan.

“1/3 công chức ‘cắp ô’ với cơ quan hành chính là đúng đấy, tôi làm nhiều cơ quan rồi, tôi thấy thừa sức giảm 1/3 số này – số chỉ ‘ăn theo nói leo’ không giải quyết được gì, lãnh đạo cũng chỉ chỉ tay 5 ngón không làm được việc gì, tuyển nhiều nguy hiểm quá” – ông Đương nói.

Lương công chức ra trường phải 10 triệu đồng/tháng?

Theo ông Trần Du Lịch, chỉ tăng lương thêm 100.000 đồng thì không giải quyết được gì, không chống được tham nhũng, không tuyển được người giỏi và thu hút được đội ngũ tinh hoa vào bộ máy nhà nước.

ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm đồng tình cho rằng cần nâng mức lương cơ bản. Lương tối thiểu công chức mới ra trường phải là 10 triệu đồng thì mới có thể lập gia đình, mua nhà cửa … Muốn làm được việc này cần tính toán lại bộ máy chính quyền, phân cấp chức năng nhiệm vụ mỗi cấp.

“Tại sao nhiều người bỏ ra vài trăm triệu để “chạy” vào công chức, dù lương thấp như thế?” – bà Tâm đặt câu hỏi.

Theo bà Tâm, nguyên nhân là vì môi trường làm việc hiện nay thả nổi, dễ tạo điều kiện cho tiêu cực phát sinh.

Vì thế, việc tăng lương phải đi kèm với giám sát chặt chẽ, khi cán bộ sợ mất việc sẽ không có tiêu cực. Công chức không tích cực khiến người dân mất niềm tin.

‘Cỗ xe nợ công đang quá tải’



ĐB Trần Hoàng Ngân

ĐB Trần Hoàng Ngân cho biết nợ công đang ở mức rất là cao, dù nằm dưới mức pháp định là 65% GDP nhưng ông không cho rằng đó là mức an toàn.

Lý do là vì nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách hàng năm ngày càng tăng, số đảo nợ ngày một lớn, con số nợ công hiện nay vẫn chưa được tính toán đầy đủ do chưa đưa một số khoản khác vào.

Theo lý giải của ĐB Trần Hoàng Ngân, nợ công tăng nhanh và đã đạt xấp xỉ mức trần nợ công Quốc hội cho phép là 65% GDP là do trái phiếu (hiện đang để ngoài ngân sách) và bội chi. Bội chi đầu nhiệm kỳ đề ra mục tiêu về dưới 4,5% vào 2015. Năm 2011, bội chi 4,4%, nhưng đến 2012 bội chi là 5,4%, năm 2013 là 5,5%, năm 2014 là 5,3% và dự kiến 2015 là 5%.

————

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/203225/-khong-dan-nao-dong-thue-nuoi-noi-bo-may-nay-.html

Ánh sáng văn hóa bắt đầu từ con chữ !




Dù rằng xa lộ thông tin toàn cầu thiết lập đã hàng thập kỷ nay nhưng thực tế cho thấy không ít người cao tuổi xa quê hương vẫn có một ấn tượng tổng quát không mấy sáng sủa về tình hình đất nước. Có thể do nguồn thông tin không cập nhật dồi dào; hoặc đáng nói hơn, vì “nấm mồ quá khứ” chiến tranh, chia cắt, thù hận chưa hất đi được ,thậm chí còn đè nặng bản mệnh tuổi già ở xứ người Âu Mỹ . Nếu có ai đó trong số họ truy vấn tôi rằng thành quả văn hóa mà họ thường quan tâm có tính cách mạng, ấn tượng nhất là gì, tôi chẳng ngại ngần ,nói rõ ngay.



GS Ngô Bảo Châu đang dạy học cho các bé em Lũng Luông (Võ Nhai- Thái Nguyên). Nguồn trên mạng

Trước hết đấy là thành quả giáo dục,bắt đầu từ đại sự xóa nạn mù chữ cho đại trà cho toàn dân. Tiếp đến là phổ cập tiểu học, THCS cho một bộ phận lớn cư dân ở Việt Nam. Song hành với đại sự đó, là mấy chục năm,đặc biệt kể từ thời điểm đổi mới toàn diện kinh tế xã hội, đưa các thế hệ trẻ kế tiếp nhau tới trường để cố gắng đến mức cao nhất hướng tới phổ cập bậc trung học cho phần lớn người lao động chân tay và trình độ đại học trở lên cho người lao động trí óc trong tương lai gần.

Hiển nhiên, thành tựu văn hóa giáo dục to lớn đó, chỉ có thể là hệ quả tốt đẹp của một định hướng đúng đắn ngay từ trong thời chiến tranh giải phóng và trên cơ sở của một nền kinh tế thời bình vững chắc, khởi sắc , phát triển dần dần. Có thực mới vực được đạo,đạo học của người Việt bản tính coi trọng thực tế chỉ có thể phát triển trên cơ sở đó.

Tôi cũng không ngại ngần dùng từ vĩ đại để chỉ thành quả giáo dục đại trà toàn dân .Hãy đặt giáo dục, cụ thể, trước hết là việc dậy chữ cho hàng chục triệu người khởi hành trong bối cảnh nước Việt Nam mới ra đời từ cuộc Cách Mạng tháng Tám lịch sử giữa thế kỷ trước. Thời đó ba thứ giặc, giặc ngoại xâm,giặc đói và giặc dốt cộng lực hoành hành, chính thể dân chủ cộng hòa non trẻ không khác gì con thuyền nan giữa sóng to gió cả.

Trong tình cảnh ấy, người Việt càng thấy chủ trương lớn diệt giặc dốt song trùng với diệt giặc đói ,giặc ngoại xâm là chủ định sáng suốt, đi trước thời đại. Khai dân trí nhằm chấn dân khí là một đường hướng văn hóa khai phóng mà thế hệ các chí sĩ yêu nước, điển hình là cụ Phan Châu Trinh,đã đề xuất. Người Việt cao niên trải qua hai chế độ không thể quên khởi đầu khai tâm khai trí người Việt là từ những tấm mẹt, tấm mo, tấm gỗ tạp viết chữ ABC treo đầu làng cuối chợ. Để những người nông dân chân đất áo vá l tập đánh vần ngay sau ngày cách mạng Tháng Tám lịch sử, ngay trong tình cảnh nước Việt Nam mới bị thù trong giặc ngoài vây hãm.

Khởi đầu là câu ca đồng dao “o tròn như quả trứng gà-ô thời đội mũ ơ thời thêm râu” để hàng triệu người làm ruộng lam lũ nghèo hèn dưới chế độ cũ thực dân phong kiến nhập tâm những con chữ quốc ngữ đầu tiên. Từ khởi điểm dân trí cực thấp kém, hàng chục triệu người mù chữ, hàng triệu trẻ em thất học đói khát cơm ăn và chữ viết, nước Việt vượt qua cuộc kháng chiến chống thực dân cũ “chín năm làm một Điện Biên-nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”. Rồi lại trải qua cuộc trường chinh một phần tư thế kỷ chống thực dân mới cực kỳ khốc liệt, có lúc từ lớp mẫu giáo đến giảng đường đại học phía bắc Việt Nam phải chui xuống địa đạo hầm hố dưới lòng đất để tránh bom đạn Mỹ leo thang chiến tranh.

Phải hình dung ra con đường khai minh ở Việt Nam khởi đầu như thế ,hành trình khai sáng văn hóa khoa học gian nan như thế, mới thấy hết việc xóa mù chữ và nâng cao dân trí ở xứ sở này là vĩ đại biết nhường nào! Giờ đây, dù mới chỉ là quốc gia chạm ngưỡng văn minh hiện đại so với chuẩn mực quốc tế, người dân mới chạm ngưỡng mức sống trung bình của thế giới thôi, nhưng nước Việt có tới trên hai mươi triệu người đi học thuộc các thế hệ cầm giữ tương lai, kể từ cháu mẫu giáo đến cô cậu sinh viên đại học. Con số đó đối với những ai đã kinh qua những năm tháng vong quốc nô đời người như ao tù nước đọng, đã kinh qua những thời kỳ chiến tranh giải phóng đất nước gian khổ, có ý nghĩa như một biểu tượng cách mạng.Tôi tin những ai công minh, công bình với lịch sử nước Việt, không khi nào phủ nhận thành quả văn hóa giáo dục đó

Có ai không biết nhập môn văn hóa, mở cánh cửa văn minh của mỗi một con người đều phải bắt đầu vỡ lòng từ con chữ. Có người Việt nào thành danh trên con đường học vấn khoa bảng ở xứ người ,hay trên thương trường quốc nội quốc ngoại, không bắt đầu từ việc tập đánh vần, ghép chữ,mở trang giấy đầu đời nắn nót viết tên mình, tên anh tên chị ,tên mẹ ,tên cha ?. Nhớ lại đầu thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước,cả làng tôi chỉ có ba người học đại học. Sinh viên đại học thời ấy có người không biết đi xe đạp,mũ lá dép cao su như toàn dân sống nghèo, giản dị hết mức . Đâu như các cháu thiếu niên làng tôi bây giờ đi học cấp hai trên xã,không đầy cây số cũng xe đạp điện chạy vè vè.

Hầu hết các cô các cậu lớp tám lớp chín gần cuối cấp, chừng mười ba mươi bốn đã lớn phổng phao, chớm tuổi trai thanh gái lịch. Họ đều xài điện thoại di động. Không ít gia đình sắm máy tính cho con vừa chơi vừa học. Hè năm nào, trước dịp khai trường ,chính quyền xã cũng tổ chức biểu dương hàng sáu bẩy chục con em thi đỗ vào các trường đại học,cao đẳng. Mấy năm trước có em đủ điều kiện được nhà nước cho xuất ngoại đi học bên Nhật ,bên Bỉ . Diện mạo văn hóa ở một làng quê vốn thời xa xưa độc canh cây lúa , quẩn quanh bốn lũy tre làng ,nay nhờ những thế hệ người có học nối tiếp nhau mà thay đổi sâu xa từ mức sống ,chất lượng sống ,đến cung cách cư xử của con người .

Họ đi từ làng ra nước, từ ao làng ra sông ra biển lớn. Nói một cách hình ảnh, từ thủa đánh vần chữ cái ABC, từ thời chăn trâu cắt cỏ, bắt cá đơm tôm, họ đã trưởng thành. Thành phần ưu tú nhất trong số họ là cán bộ quản lý kinh tế xã hội các cấp ,là doanh nhân, là nhà giáo,bác sĩ, còn số đông thành những người làm ruộng có tri thức tầm tầm về khoa học nông nghiệp. Trên cái nền văn hóa được từng bước nâng cao lên,họ ở khác xưa, ăn khác xưa ,nói khác xưa ,sống khác xưa ,tạo nên một diện mạo mới văn minh hiện đại cho làng. Và đương nhiên quan hệ giữa người với người cũng khác xưa theo chỉ hướng văn minh nhân bản hơn. Nhiều tập tục ma chay cưới xin lỗi thời lạc hậu được xóa bỏ dần. Nói như thế đâu có phải là người viết cố ý tô hồng, tuyên truyền một chiều.

Hiển nhiên đời sống văn hóa giáo dục của Việt Nam còn nhiều bất cập so với chuẩn mực văn minh tân tiến ở xứ người có hàng thế kỷ đi trước xứ sở này trên hành trình hiện đại hóa, dân chủ hóa trong hòa bình thịnh vượng. Nhưng cứ nghĩ lại con đường nước Việt đã đi qua trong nghèo nàn lạc hậu ,trong chiến tranh, chia cắt máu lửa cùng những lầm lỗi lịch sử tưởng như là định mệnh, tưởng như không sao tránh được, ôn cố tri tân trên tinh thần thực sự cầu thị mà coi !

Nghĩ lại để ý thức hơn về một thứ ánh sáng tưởng vô hình hóa ra lại rất hữu hình kiến tạo nên cuộc sống con người là ánh sáng văn hóa khởi đầu từ những con chữ mẫu tự la tinh ABC ! . / .

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Cái Dũng của Thánh Nhân Chương 6 Phòng Sự Bất Ngờ







Thu Giang Nguyễn Duy Cần



Người xưa nói:
"Khéo giữ gìn lời nói, như người ta "chăn tù" vậy". Phải, lời nói của ta là những tên tôi mọi, phải "cấm cố" nó cho kỹ càng. Thả nó ra, phải coi chừng: nó sẽ hại mình, không phương chống đỡ. Tại nó mà kẻ địch của ta biết đặng cơ mật của lòng ta, biết được nhược điểm của bản tánh ta và nhân đó, bắt ta làm tôi làm mọi cho họ. Nếu biết đặng chỗ yếu của người khác rồi, thì làm chủ lấy họ một cách rất dễ dàng.
Bởi vậy, đừng tưởng lầm: điềm tĩnh là một đức tánh để xử với việc lớn. Bất kỳ là một hành động nhỏ nào trong đời mình, như lời nói vô tình, thốt ra trong khi mừng, giận, thương, vui... cũng phải kiểm soát kỹ lưỡng, đừng để nó làm cho mình mất sự điềm tĩnh đi. Điềm tĩnh trong từng việc nhỏ rất khó, khó hơn là trong lúc mình tự xử sự với việc lớn.
Yoritomo Tashi có thuật một câu chuyện ngộ nghĩnh như vầy:
"Lao, một tên để tử rất nhiệt tâm đeo đuổi theo con đường tận thiện của Điềm Đạm, nhưng chưa vượt qua khỏi giai đoạn háo thắng, nóng nảy. Một buổi kia đến tìm tôi: "Sư phụ con đã nghe theo lời giáo huấn của Sư phụ và hằng ngày luyện tập. Nay con có thể tự hào là đã thành thục rồi. Con đã làm chủ lấy con rồi. Con hôm nay đến đây, bái yết Sư phụ, là để cho Sư phụ thấy rõ nơi con cái kết quả ấy.
Này con, con hãy coi chừng, đừng vội vàng mà sa vào cái tật háo thắng tự phụ. Con nên biết rằng: Điềm đạm là cái hạnh tối cao, siêu thoát. Muốn được nó, bất kỳ một trở lực nào hết sức lớn lao hay hết sức nhỏ nhặt.
Thưa Sư phụ, con đã biết lẽ ấy rồi. Con bây giờ, sẵn lòng chờ đợi Sư phụ thử con, bất kỳ là bằng cách nào.
Con chắc chắn như vậy? Con chắc sẽ thắng tất cả mọi cảm xúc, không chút nao lòng phải chăng?
Con chắc như vậy, và con chắc chắn rằng: bầu trời thăm thẳm kia đổ nát trên đầu con, cũng không làm cho lòng con nao núng nữa.
Được! Vậy con hãy lại ngồi trên chiếu kia, và cứ lẳng lặng làm thinh mà đợi thầy thử con. Thầy sẽ xem coi con có thể chịu nổi một cuộc thí nghiệm ghê gớm này không!
Tôi bèn kêu Châu Ly vào và dặn nhỏ nó vài lời, làm cho nó tỏ vẻ kinh khủng. Sau đó tôi nói lớn lên:
Thôi con hãy lại ngồi gần bên sư huynh con. Sẵn cơ hội con sẽ học thêm một bài học khác.
"Lao, là con nhà giàu sang quyền quí. Nó mặc một bộ đồ quí giá, tay áo dài, thêu kim tuyến. Ngồi xếp bằng chiếu, những tà áo trải trên mặt chiếu rất đẹp".
Châu Ly, vâng lệnh tôi, đi ngay lại bên mình Lao, rồi làm bộ như vô ý, đạp đôi giày dơ lên trên áo dài của Lao, và ngồi phịch lên đó. Nhưng Lao, không đợi cho nó có kịp thời giờ ngồi lên trên, đã vội vàng đẩy mạnh anh ấy nhào hớt ra ngoài xa và nói: "Thằng vô ý thế nào!". Gương mặt Lao đã lộ vẻ giận dữ.
Tôi bèn giơ tay lên bảo: "Thôi, không cần phải thí nghiệm thêm nữa, con đã hai lần phạm lỗi: thứ nhất, con đã bị hoàn cảnh trái nghịch buộc con phải thốt ra lời; thứ nhì, con bị sự nóng giận lôi cuốn con và làm chủ lấy con.
Đấy là hai cái lỗi trọng nhất, đối với một tín đồ của Điềm đạm. Nhưng cũng còn một cái lỗi thứ ba này, mà con không khéo tránh: con để cho người ta, xuất kỳ bất ý làm chao động lòng con. Con không biết phòng sự bất ngờ.
Thầy biết dư: nếu có đao phủ thủ bước vô, hăm he con bằng ngọn gươm sắc lẻm của nó, cũng không làm mất đặng sự bình tĩnh của con. Nghe báo cáo một cái tin rất dữ, hoặc nghe trời sắp tan vỡ như tro bụi, chưa ắt đã làm cho con nao núng. Khi thầy nói với con chờ đợi một cuộc thí nghiệm ghê gớm, là thầy dụng ý làm cho tâm trí con tưởng tượng trước sẽ gặp những cuộc chấn động to tát như thế. Nhưng con đâu có dè, lại bị phải một sự cỏn con đáng buồn cười như thế kia, nó đánh úp làm cho mất cả công phu điềm tĩnh của con đi. Từ đây con nên nhớ kỹ bài học này".
Điềm tĩnh, không phải chỉ để đối phó với những việc lớn trong đời mà thôi. Trong những việc nhỏ từ cử chỉ, từ dáng điệu, từ nét mặt cũng phải kiểm soát kiềm chế. Trong những trường hợp to tát, ta thường dễ gìn giữ cử chỉ điềm tĩnh hơn là trong những câu chuyện "vô cớ" hằng ngày.
Luận về những đại dũng, Tô Đông Pha nói: "Bực đại dũng... thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh; vô cớ bị những điều ngang trái cũng không giận" (thốt nhiên tâm chi nhi bất kinh; vô cố gia chi nhi bất nộ). Trái lại, kẻ thất phu bị nhục, thì tay tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh" (thất phu kiếm nhục, bạt kiếm nhi khởi, định thân nhi đấu). Cái đó, chưa đủ gọi là "dũng"!.
Hai chữ "thốt nhiên", và "vô cố" là hai chữ thần, những tín đồ của Điềm đạm cần phải tụng niệm hàng giờ hàng phút mới đặng.
Đọc sử thời Chiến Quốc, ai là người không biết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ? Yêu Ly cảm cái nghĩa của Hạp Lư nên hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ... Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly, đứng sau lưng cầm kích mà hầu. Thừa lúc thuận chiều, đâm suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khoẻ như voi, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần!... Nhưng rồi, lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn, cười và bảo: "Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ"!
Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: "Người này là một bậc dũng sĩ. Trong một ngày, chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các người nên tha hắn cho hắn về Ngô để tỏ lòng trung".
Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn giáo trong bụng ra mà chết.
Người ta bảo Yêu Ly là dũng sĩ... Nhưng đây là một sự sắp trước rồi, chỉ có trần tĩnh mà thi hành thôi. Đâu có thể bì với cái dũng của Khánh Kỵ thốt nhiên bị lòng phục thù của mình để tha thứ được cái kẻ đã xúc phạm đến sanh mạng mình... Thay vì nghiền nát kẻ giết mình kia cho hả giận, Khánh Kỵ điềm tĩnh, nhận thấy mình chết đây không phải tại Yêu Ly mà là tại mình thất trí. Dìm đầu Yêu Ly 3 lần xuống nước, làm cho ta thấy Khánh Kỵ đã phải bị một cơn tranh chấp mãnh liệt nơi lòng... Sau cùng, Khánh Kỵ đã thắng được cái lòng tự ái của mình, cả cái thiên tính tự vệ của mình nữa. Thật đúng với câu: "Thắng nhơn giả hữu lực, tự thắng giả cường". Sự điềm tĩnh của Khánh Kỵ ở trên mấy tầng mây đối với cái điềm tĩnh của Yêu Ly. Thảo nào Yêu Ly không còn mặt mũi nào sống sót...
Cử chỉ ấy thua gì ở cử chỉ điềm tĩnh và đầy nhân đạo của Jésus khi bị quân lính đâm vói bên hông, lúc gần trút linh hồn lại còn cầu nguyện: "Xin Cha hãy tha tội cho chúng nó. Chúng nó không hiểu cái việc của chúng nó làm".
Tôi nói không thua Jésus vì Jésus là nhà đạo hạnh hoàn toàn, còn Khánh Kỵ là một tay tướng giặc: sự điềm tĩnh và lòng tha thứ ấy là một sự "thường" đối với những nhà thượng võ hiếu thắng.

Chú sâu xấu xí



Pháp Nhật




Nó không có khái niệm gì về sự đẹp xấu của cơ thể nó cho đến một hôm nó nghe thấy tiếng la thất thanh của một bé gái “mẹ ơi! ghê quá … mẹ ơi, con sợ”. Khi đó nó không tin là người ta sợ nó. Nó nghĩ chắc cô bé đó sợ một cái gì khác, nhưng mẹ của cô bé đã dùng cây hất nó đi nơi khác. Bị tung lên không trung rồi rơi xuống đất. Nó thấy cơ thể nó rã rời, đau đớn. Nhưng vẫn không đau đớn bằng khi nó biết nó xấu xí, và mọi người ghê sợ. Nó bò đi trong cô đơn, buồn tủi và cuộn tròn thân lại ở một góc cây.

Sáng hôm sau, nó cảm thấy cơ thể đói khủng khiếp, đói đến nổi nó có thể ăn hết một chiếc lá trong vòng vài phút. Thế là nó bò lên cây, bò ra những nhánh nơi có những chiếc lá non ngọt, mềm. Nó ăn nhiều lắm, và nó lớn rất nhanh. Sau cái lần nó bị hất tung lên cao, nó thấy mình có một mặc cảm là xấu xí, là dễ sợ. Vì vậy nó dễ dàng phản ứng và làm đau khổ bất cứ ai đến gần mà vô tình chạm phải nó. Nó không muốn làm người khác sợ, nó không muốn ai phải xa lánh khi gặp nó cả. Nhưng chính sự mặc cảm đang lớn dần trong nó ngăn nó đến với mọi người và ngăn mọi người đến với nó.

Thần tượng của nó là những chú bướm xinh đẹp. Nó say mê, chiêm ngưỡng những chú bướm không chỉ vì đôi cánh đẹp rực rỡ mà còn vì sự bình an, nhẹ nhàng toát lên từ những gì bên trong, xa thẳm. Bỗng trong nó xuất hiện một ước muốn lớn lao. Nó muốn trở thành một chú bướm. Nó muốn có được sự bình an, nhẹ nhàng và tự do bay lượn đến những phương trời cao rộng mà nó hằng mong ước.

Nó cũng muốn có được vẻ đẹp ít ra là hơn hình dáng của cơ thể nó bây giờ. Nó không dám mơ ước là nó sẽ đẹp như những chú bướm, vì mặc cảm xấu xí trong nó hãy còn quá lớn.

Sau khi ăn xong vài chiếc lá, nó nằm yên và thiếp ngủ đi. Trong giấc ngủ nó nghe có ai đó đang gọi nó. Nó căng mình thức dậy. Bên cạnh nó là một chú bướm đang đứng âu yếm nhìn nó. Nó hạnh phúc lắm vì hôm nay nó được thấy thần tượng của nó – Một chú bướm xinh đẹp. Trong giây phút ngỡ ngàng đó nó không nói được gì. Nó chỉ yên lặng và ngắm nhìn.

- “Anh muốn thông báo cho em một tin vui. Tổ tiên của chúng ta đã nhận được những lời ước của em, và đã cử anh đến để hướng dẫn em đi tiếp lộ trình còn lại.” Chú bướm nhẹ nhàng nói với nó

Nó rất ngạc nhiên khi nghe chú bướm nói từ “tổ tiên của chúng ta”. Nó hỏi:

- “Ý anh là …”
Dường như hiểu được điều nó muốn hỏi, nên chú bướm ôn tồn nói tiếp.
- “Đúng vậy, em và anh cùng một nguồn.”
- … ?

- “Trước đây anh cũng từng trải qua những khổ đau, mặc cảm như em bây giờ. Anh từng bị người ta xa lánh, hất hủi. Anh cô đơn, thậm chí có khi anh nghĩ mình sẽ tìm đến cái chết, hoặc sống một đời sống buông thả như những chú sâu ở các vùng tối, nơi luôn có những tiếng nhạc vang rền của dế đêm, và tận hưởng những cảm giác lân lân tuyệt đỉnh của những chiếc lá say. Nhưng em biết không? Anh đã may mắn nhận ra được con người đích thực của mình. Anh đã may mắn thấy được con đường. Vẻ đẹp đích thực sẽ không đến từ những gì hào nhoáng bên ngoài. Nó đến từ bên trong, bên trong những tâm hồn đẹp, trong sáng và thánh thiện. Và con đường chuyển hóa là con đường đã từng giúp anh có được vẽ đẹp và sự bình an như ngày hôm nay. Con đường đó không dành riêng cho anh, mà nó dành cho tất cả mọi người, cho những ai muốn đạt đến một vẽ đẹp đích thực và toàn vẹn.”

- “Vậy anh chỉ cho em cách để đi trên con đường đó đi.”

- “Chỉ cho em con đường, đó cũng chính là lý do mà anh có mặt với em hôm nay. Con đường chuyển hóa là con đường tìm lại với chính mình, đối diện với tất cả những khó khăn, khổ đau và bế tắc của bản thân, để thấy được những nguyên nhân gây ra những khổ đau đó và tìm cách chuyển hóa chúng.”

Những lời chia sẻ của chú bướm về một con đường đã giải tỏa cho nó rất nhiều những bế tắc, giúp cho nó thấy được một hướng đi. Nó đã làm một cái kén và chui vào trong đó. Giờ đây nó đang ở trong kén. Nó ở trong kén không phải là để trốn tránh mọi người, mà nó muốn dành trọn thời gian còn lại để đối diện với chính nó, để thấy cho rõ mặt mũi đích thực của nó.

Nó thấy mình có rất nhiều chuyển hóa khi ở trong kén. Thời gian yên tĩnh khi ở trong kén đã cho nó rất nhiều bình an, nhưng nó cũng cần phải phá bỏ luôn chiếc kén để đạt được niềm bình an và vẻ đẹp toàn vẹn. Đó là những gì mà chú bướm đã dặn nó trong những giây phút cuối cùng trước khi bay đi.

Ở đầu kén đã xuất hiện một lỗ nhỏ. Chỉ còn một giai đoạn cuối cùng này thôi là nó sẽ lột xác, và một chú bướm xinh đẹp xuất hiện. Bỗng đâu đó có tiếng hát vang lên:

Chú sâu xấu xí kia
Chú bướm xinh đẹp này
Tuy hai mà lại một
Cuộc đời ôi lạ thay

Rồi từ từ nó cũng vượt qua giai đoạn cuối cùng. Nó tung đôi cánh sặc sỡ nhiều màu lượn ba vòng xung quanh chiếc kén. Nó bay lên cao rồi hạ xuống thấp như thể nó đang cảm ơn đất trời đã tạo ra sự hiện hữu mầu nhiệm của nó.

“Mẹ ơi! Có chú bướm xinh đẹp đang đậu trên hoa phong lan kìa. Con thích quá! Mẹ dừng lại cho con xem chút đi”. Nó nghe rất rõ những lời mà cô bé đang nói với mẹ. Nó biết giờ đây cô bé không con sợ nó nữa và nó cũng sẽ không bị hất tung lên không trung như lần trước. Vì vậy nó đã đậu trên nhánh phong lan một cách bình an và nhìn cô bé mỉm cười. Rồi nó lại nghe thấy tiếng hát ở đâu đó vọng lại thêm lần nữa:


Em đừng sợ sâu nhé
Sâu sẽ hóa bướm thôi
Cũng như khổ đau vậy
Mang hạnh phúc cho đời.

Biển cuốn trôi đời nhau…



Cư sĩ Liên Hoa



Em nằm yên giấc mồ côi
Đoá hồng lắng đọng bên dòng phù du
gió nguồn ngày tháng vi vu
sóng đời dồn dập vô thường viễn xa

cùng từ lượng kiếp tìm về
cánh hoa vạn kỷ bỗng hồi xuân xưa
giật mình thấy mộng kiêu sa
chợt rơi tâm tưởng, lòng ta thưở nào

ai mang gió bụi vào mơ
ai đem gió cát để rồi lãng phiêu
cùng nhau nơi cõi sơn hà
ta về thường trụ, ta bà cảnh xưa….



Giữa gió cát phù du, sóng đời đã bao lần thổi đến. Gió lạnh, cát mềm, sóng đẩy đưa ướt đẩm thân tâm, nghe lòng chơi vơi như bãi cát hoang vu, đón những cơn sóng vỗ về, rát da rát thịt. Đời người ư, vô thường như những gì không nắm bắt được, cho đời hắt hiu, cho tâm say sóng, cho mộng tìm về.

Mỗi người đều ôm một nửa đời hoặc trọn cuộc đời người, rong chơi trên biển nghiệp nầy, hứng chịu mưa nắng êm dịu hay dồn dập được trao tặng con người. Có kẻ đã ngả gục trên bước đi sanh tử, có người chạy trốn vô thường, ảo ảnh trong hoang tưởng, hay tìm nơi cùng cốc thâm sơn quán chiếu lại lòng hoặc có kẻ từ từ đi đến, nắm lấy vô thường biến ảo làm vui, như cơm ăn, như áo mặc, như niềm vui trong tấm lòng trong… nào ai biết ai đúng hay sao, chỉ là cách lựa chọn.

Tự nhiên, tôi nghĩ đến cánh hoa hồng mỏng manh soải mình nằm yên bình trên bãi cát, chợt thầm liên tưởng đến sóng, những đợt sóng vô tình, chợt bâng khuâng đến biển… như khoảng đời đã qua, hiện tại và đi tới, như cuộc liên hoàn của đời sống. Có lúc ta bắt được một nhịp cầu nào đó để đến với đời, tìm tâm trong hơi thở, tìm thời gian qua trong buông bỏ, tìm tương lai như sóng viễn du, tìm hiện tại trong nụ cuời.

Trong Chân đế, tất cả chỉ là một, như cái thai trong bụng của người mẹ không chia cách giữa con và mẹ trong Thai tạng giới, để thành hình nên trẻ thơ trong sáng, ngạc nhiên với cuộc đời, để chuyển hoá, để thể nhập, nhìn rõ nguồn cội của dòng sanh tử, “năng đoạn phiền não” trong Kim cang giới.


một sớm hôm thức giấc
mặt trời vừa hé môi
lắng tìm tâm thuở trước
chẳng thấy bóng tâm đâu

nằm vùi trong giấc ngủ
ngày tháng vội vàng qua
mỉm cười buông màn mộng
mắt nhìn rõ mây trời…..

Trong Tục đế, sơn hà đã ngăn cách, em và ta cũng là mộng đẹp, tìm nhau như hai là hai, như hai là một trong cuộc phân chia của nhị nguyên, để tìm đường trở về, nắm tay nhau vượt ngàn sống núi, vuợt bể khổ sông mê, vuợt đoạn đường trước mắt, duới chân… để thấy được mầu nhiệm của con đường không thực, giả tưởng.

Khổ đau theo từng bước chân, tâm tình có lúc hay nhiều khi bấn loạn, trái tim có nhiều khi co thắt, bồn chồn, mạch máu có nhiều khi căng thẳng… ta đi tìm ta, lòng nóng như lửa đốt, trí hoang mang như cơn mê, mắt nhìn xa ngàn vạn dậm … sao lại quên đi tâm hiện tại vẫn còn đang nở hoa.

Lời nguyên Bồ tát Quán Thế Âm chợt hiện về như tấm lòng Từ vừa có mặt, khi bất hạnh cào xé và cơn đau chợt có mặt, khi tâm bất an….

biển lửa sục sôi, muôn trùng sóng
khổ ải vô vàn bởi vọng mê
dừng tâm hoa nở, hương trầm ướp
thênh thang nào sợ sóng luân hồi…*

“Nam mô Nhất niệm tâm vô quái ngại, Quan Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện”.

Có người quan niệm rằng Nam Hải là một vùng biển nơi địa danh nào đó, có đức Bồ tát mang lòng từ bi, luôn có mặt khi có người đau khổ niệm được nhất tâm bất loạn… để cứu độ, đưa qua đời buồn, gian truân … nhưng theo người tu Mật giáo, thì Nam Hải là biển lửa, vì phương Nam là Hoả, thuộc Bình Đẳng Tánh Trí, thuộc Tâm, do đức Như Lai Bảo Sanh làm chủ.*

Sóng nghiệp tràn lan, vô độ, đưa người lăn lóc theo từng cơn sóng gió cuộc đời, theo tâm mang nhiều điên đảo mộng tưởng, như lửa bừng cháy, thiêu đốt tâm trong khổ đau, bất hạnh, làm miên trường cay đắng, tạo vô lượng phiền não…

Trong Kinh Kim Cang nói rằng: “Như Lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai” (Gọi là Như Lai có nghĩa là không từ đâu đến và cũng không đi về đâu).

“Khi vọng tưởng điên đảo, tâm bấn loạn, rơi vào đau khổ, thấy có trầm luân, thấy có sơn hà đại địa, có tràn lan sóng gió, biển động mênh mông, không biết đường đâu để ra, để về….

Nơi Đàn Tam giác của Bảo bộ khởi từ Như Lai Bảo Sanh trong Giới Định Huệ làm đốt cháy vọng niệm, đưa tâm trở về. Từ Niệm căn hay Tinh tấn căn, nhìn rõ nhân duyên đến đi của vọng tưởng, sóng lặng gió yên… nhẹ nhàng như làng gió mát, trong lành, sung suớng như được sanh từ báu vật của tâm, được viên ngọc Như ý, như lòng từ của Bồ tát Quán thế Âm. Trong mưa gió của cuộc nhân sinh, bão tố, sóng động ngút ngàn, tiếng niệm Bồ tát như hồi cung bổn nguyện, như tâm tự quy nguyên, trở thành thiên thủ thiên nhãn, trong “chân quán thanh tịnh quán, quảng đại trí tuệ quán, bi quán cập từ quán”.

Niệm tên Ngài như niệm chính tâm mình, như thể nhập trong dòng sóng tự tại, tròn được hạnh lớn của Bồ tát Trì Địa đi xây đường xá, lấp bùn lầy, lấp sông vọng niệm, gìn giữ tâm như giữ đất sạch, tâm trong, do đó, mới chuyển hoá được khổ, khi có mặt của lòng Từ, của Trí tuệ, thong dong bước đường đi qua biển sóng.

Bồ tát có bao giờ lìa chúng sanh, và chúng sanh có bao giờ rời xa Bồ tát. Tâm có bao giờ bỏ tâm, con người có bao giờ lãng tránh con người, chỉ có quay đầu về. Chỉ có lòng sen Trí tuệ, chỉ có tâm Từ bi, chỉ có tình yêu thương chân thật mới đem cho cuộc đời, cho con người được những an lạc và hạnh phúc chân thật trong sự chia sẻ, nơi đó tràn đầy lòng bồ đề tự sanh, có đầy đủ tâm vô úy, mới dập tắt được ngọn lửa buồn đau, bất hạnh.

Vì ai, thu khoác lá vàng
đất nằm ôm vạn chân tình bằng thơ
Xin người chớ bỏ mộng mơ
Thương thu mưa nắng vàng thâm sắc màu

Đi đâu cũng lại luân hồi
Khi quên hình dáng nụ cười năm xưa
mở từng bong bóng của tâm
sẽ nghe lại tiếng thiên thu gọi về

miên man có gã du hành
lang thang trên chốn nhân sinh tìm nguồn
thấy trong một khối tinh cầu
có người trước ngõ, trở về tìm thơ…..


Miên man với bao cảnh đời, hình như đời sống hiện tại quá bấp bênh, chánh báo không đủ nên y báo thành tán loạn, khổ đau tràn đầy, chiến tranh khắp nơi, mạng sống vô thường…Chúng ta sao lại không tìm nhau trên cuộc đời huyễn ảo, vô thường nầy….để cho nhau ánh mắt thương yêu, nụ cười san sẻ…

Người hiểu đạo Phật, sẽ có đầy đủ tình thương yêu con người do sự tu tập, thấy rõ được nhân duyên chằng chịt như lưới võng trời Đế Thích, và do quán được tất cả đều do tâm.

Đạo Phật làm cho chúng ta tâm hồn trẻ trung vì không còn bị lệ thuộc vào những vọng tưởng, thất tình, không còn nô lệ vào Thần linh, vào sự che chở, thưởng phạt của bất cứ ai… vì mỗi người chính là chủ nhân ông của cuộc đời mình, trong dòng sinh mạng nhân bản đích thực, tự tại trong từ bi, an lạc trong trí tuệ, hạnh phúc trong dũng lực, tinh tấn trong hành động thiện nghiệp …. vén mây trời bao la cho cuộc sống thở rộng…

Mưa nắng cuộc đời đã làm cho tâm hồn ta sạm nắng, như lá thu đổi màu vàng sậm trong bất hạnh, dù đã giúp cho đời những tình thơ ca tụng, thưởng ngoạn, mộng mơ. Trong luân hồi mà chúng ta đã thấm nhuần từ vô lượng kiếp, nay mở bong bóng tâm để thấy rõ thực tánh của các pháp, của tâm… để nghe lại tiếng thiên thu, lời thiên thu réo gọi từ tâm chân chất, rỗng không.

Có gã du hành trong chốn nhân sinh, trên vai mang gánh nặng vừa bỏ lại, bay nhảy trong khối tinh cầu, đã thấy mặt mũi nhau rồi … hãy trở về, hãy về đây, nơi nhà xưa, nơi con tâm cũ, nơi có vô lượng chân tình, để trao nhau lời thơ, dù đang đứng trước ngõ … Thấy được ngõ vào, có phải chăng đây là hạnh phúc mà chúng ta tìm kiếm..

Giáo pháp của đạo Phật bao la quá như lòng Bi Trí của đức Phật, như cuộc đời Ngài từ vô lượng kiếp đến nay vì con người khai mở đường đi đến Chân Thiện Mỹ, đến bờ giải thoát.

Người Cùng tử tìm ra được một lương dược, một phương thuốc thích ứng cho chính mình, từ trong vườn hoa đẹp đó, thực hành và có chút an lạc, dù là đường còn xa vạn dậm vì vọng tưởng vẫn còn chi phối.

Thưa bạn, vẫn với những ý nghĩ cạn cợt của người có chút hiểu biết, đi tìm tâm, đôi khi cứ tưởng tâm ở bao xa, trên rừng sâu, núi cao hay ẩn trốn nơi nào đó.. trong đau khổ, chợt quay về, nhìn lại thấy nụ cười vẫn còn nở trong tâm, trên môi khô, thấy biển cuốn trôi đời nhau vào tánh không, để nhận thức được rằng tình yêu thương con người vẫn tràn đầy và hạnh phúc là những gì đẹp nhất mà con người ai ai cũng mong tìm đến. Tuy nhiên, với những lời văn thô thiển, ngây ngô… nhưng với một tấm lòng chân chất, chia sẻ, dù bạn có đồng ý hay không, cũng xin nhận nơi đây một chân tình kính dâng và chúng ta có phải chăng có đầy đủ phước đức và nhân duyên mới hiện hữu làm người trong cõi vô thường…