Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

Nghịch lý không: Thủ tướng chưa hiểu rõ “chế độ ta”?




Nguyễn Đình Ấm

VTV1 19h đưa tin, vào ngày 26/6/2017 tại buổi tiếp xúc cử tri Hải Phòng, trả lời cử tri Nguyễn Văn Điển về xử lý vụ Đồng Tâm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết: “ Ở chế độ chúng ta mà bắt giam Công an mấy chục người, làm sao có chuyện như vậy?... Mà cái tội bắt giam người trái pháp luật đó phải được điều tra, xử lý nghiêm túc cũng như tội phá hoại tài sản…”

Tôi hơi giật mình trước phát biểu này của Thủ tướng. Bởi thời gian qua tôi ngưỡng mộ, thấy Thủ tướng gần dân, thấu hiểu phần nào tình cảnh của người nông dân khi ông yêu cầu xem xét chế độ thu hồi đất đai, dừng các công trình thương mại trong sân golf Tân Sơn Nhất…
Lẽ nào,Thủ tướng chưa hiểu rõ “xã hội ta” đang “vỡ trận” bởi các quốc nạn nhất thiết phải ngăn chặn: Tham nhũng kinh khủng, phá rừng, cát tặc, ô nhiễm môi trường, lạm phát cấp phó, “quy trình”, cả họ làm quan, hot girl - đại gia phạm tội “thi đua” đào tẩu, ăn tàu vỏ thép, quân đội sử dụng đất quốc phòng sai mục đích khắp nơi,

Thưa Thủ tướng, dưới “chế độ ta” sao quân đội nhận hơn 200 ha đất của dân để làm sân bay nhưng 36 năm sau không làm lại không trả cho dân sản xuất, sinh sống mà để hoang, đầu cơ, cán bộ tư lợi rồi chuyển cho DN sai mục đích, trong khi đất đai là nguồn sống gần như duy nhất của người nông dân.

Tại sao bà con kiện cả bao năm trời mà “chế độ ta” không giải quyết? Tại sao khi cụ Kình và nhân dân theo yêu cầu của cán bộ “chế độ ta” ra đồng để xác định mốc giới thì bị Phó Công an huyện bất ngờ đạp khiến ông cụ vỡ xương chậu, rồi ném lên xe đưa lên Hà Nội giam giữ, đồng thời tuyên bố là “đối tượng nguy hiểm, gây rối trật tự công cộng”? (Theo tường thuật của cụ Kình).

Ở thôn Hoành có giặc giã nào đang tàn hại dân mà “chế độ ta” lại đưa cả đội cảnh sát cơ động vũ khí đến tận răng xông vào đây? Với mục đích gì nếu không phải để sẵn sàng trấn áp họ?
Người dân yêu cầu đội cảnh sát tập trung một chỗ, chăm nuôi tử tế như là “vật bảo tín” để phòng khi chính quyền tiếp tục ra tay trấn áp thì liệu đây có phải là “bắt giữ người trái pháp luật” không? Hay chỉ là hành vi tự vệ ôn hòa – vốn được cả những người bị giữ phải lên tiếng cảm ơn khi ra về?.

Xin hỏi và lại… xin hỏi Thủ tướng
Xin hỏi Thủ tướng, nếu bà con thôn Hoành không giữ các cán bộ, chiến sĩ thì vụ việc sai trái, bất công ở đây có bị “chìm xuồng” như ngàn vạn vụ khác trên khắp dải đất hình chữ S này? Hiện nay Thủ tướng có biết ở “chế độ ta” còn bao nhiêu người oan sai kể cả “lão thành cách mạng” kiện 10 năm - 20 năm , thậm chí là lâu hơn nữa mà không được giải quyết thấu đáo?
Bản thân Thanh tra chính phủ cũng chẳng phải vừa “rút kinh nghiệm” việc tiếp dân “không hiệu quả”, người tiếp khiếu nại “không làm gì cũng chẳng sao…” đấy thôi.

Lại xin hỏi Thủ tướng, dưới chế độ nào mà nhà kinh doanh bất động sản chỉ trả cho người dân trả từ vài trăm ngàn đồng đến vài triệu/m2 đất, sau đó qua tay nhà đầu tư thì lên mức vài trăm triệu đồng/m2? Những người không chịu chấp hành quyết định bất công này bị “chế độ ta” đối xử như những kẻ thù của chế độ.

Chỉ tính riêng tại Văn Giang, chỉ vì 500 ha đất để đại gia xây nhà kinh doanh mà nhiều người bị ngồi tù, bao nhiêu người bị sách nhiễu, bị sa thải, chuyển công tác đến chỗ khó khăn, tước mất quyền công dân, bị khủng bố tinh thần...
Tại Phúc Đồng (quận Long Biên - Hà Nội), đại gia Vincom được Công an yểm trợ làm việc thất đức, 5h sáng giáp tết Đinh Dậu bất thình lình đem xi măng đổ lấp nghĩa trang cổ của hàng nghìn năm của dân chỉ để làm đẹp con đường đã rộng thênh thang vào khu chung cư của họ… Phía Bắc là vậy, trong Nam cũng không hề yên bình khi tại quận Cái Răng (Cần Thơ), hai mẹ con bà Phạm Thị Lài… phải trần truồng giữa thanh thiên bạch nhật vẫn bị đội cưỡng chế lấy bao tải úp chói.
Tình cảnh bi thương nêu trên là không thể nào kể siết ở “chế độ ta”.

Kết

Thủ tướng có thấy nghịch lý không khi một người nông dân không chịu giao cho DN vài chục, vài trăm trăm mét đất để họ kinh doanh kiếm lời thì bị cầm tù, trong khi đại gia lấy cả 157ha đất an ninh quốc phòng kinh doanh mặc cho sân bay tắc nghẽn. Hay một tỉnh miền núi Yên Bái nhiều trẻ em không có đôi dép đi trong mùa lạnh giá, vừa rồi chính Thủ tướng phải cấp cho 460,7 tấn gạo cứu đói nhưng một giám đốc sở, Công an tỉnh,... mà đền đài, dinh thự nhìn trên cao như kinh thành Huế!

Nếu Thủ tướng vẫn chưa hiểu, thì bất công vẫn diễn ra và sự phản kháng vẫn âm ỉ tích tụ chờ ngày bộc phát. Lúc đó, e rằng, Thủ tướng có hiểu thì đã quá muộn.

'Đào núi và lấp biến'




Anh Văn

“Đào núi, lấp biển” từng được coi là minh chứng vô tận cho sức người trong hoạt động cải tạo tự nhiên để làm kinh tế, nay trở thành một câu nói minh họa cho sự phát triển kinh tế thiếu bền vững.

Không chỉ Hạ Long, mà cả những điểm di sản hay vùng sinh thái du lịch khác cũng bị xâm hại nghiêm trọng. Sơn Đoong (Quảng Bình), Kinh đô (Huế), rừng Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), Phú Quốc (Kiên Giang),…

Từ tư nhân đến quân đội “đào núi”

Vào năm 2014, cảnh tượng công trường phá núi khai thác đá ở Vịnh Hạ Long đã được một flycam ghi nhận được. Chính quyền Hạ Long lúc đó phải mất 10 tháng (2015) mới đưa ra được mức phạt…. 17 triệu đồng dành cho vi phạm này.

Quan điểm của ông Giám đốc doanh Minh Anh (nơi gây ra sai phạm) là: di sản không nuôi được con người thì di sản chẳng để làm gì. Kết quả, ông dùng mìn để xẻ núi đá vôi như hình ảnh đã được ghi nhận.

“Đào núi, lấp biển” từng được coi là minh chứng vô tận cho sức người trong hoạt động cải tạo tự nhiên để làm kinh tế, nay trở thành một câu nói minh họa cho sự phát triển kinh tế thiếu bền vững.

Gần đây, cũng liên quan đến vụ “xẻ núi” trong khu vực đệm Vịnh Hạ Long, nhưng xuất phát lại từ Lữ đoàn 170 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng I Hải quân- và dù chính quyền sau đó xác minh rằng, không phải khai thác đá mà là do công trình quốc phòng thuộc quản lý của đơn vị quân đội nêu trên (ranh giới đất quốc phòng và được phép của Bộ Quốc phòng), nhưng sau đó, UBND tỉnh Quảng Ninh lại ra quyết định “phê bình” và yêu cầu chấm dứt hoạt động. Điều đó gián tiếp công nhận rằng, hoạt động trên thuần về phục vụ kinh tế hơn là mang tính quốc phòng của đơn vị, và thực tế - bên cạnh xây dựng công trình quốc phòng là “tận thu tài nguyên đá”.

Quân đội - dù không hưởng cơ chế “chủ đạo của nền kinh tế”, nhưng lại hưởng được đặc ân là “vì mục đích quốc phòng”, dẫn sai phạm hàng loạt liên quan đến sử dụng sai mục đích.

Cách đây 10 năm (2007), báo chí chính thống từng lên tiếng về việc, trung tâm tiệc cưới White Palace (Q. Phú Nhuận – Tp. Hồ Chí Minh) được dựng lên trên đất của quốc phòng, chủ đầu tư là công ty Tây Nam (Quân khu 7), nhưng hoạt động kinh tế lại không phục vụ cho quốc phòng (tức sử dụng sai mục đích). Khiến cho tiền thuế trng sử dụng đất (thuê đất) bị mất trắng. Dẫn đến sự va chạm về mặt quản lý và cách thức sử dụng đất đúng mục đích của phía dân sự (chính quyền địa phương) và bên quân đội (Bộ Quốc phòng). Và bên Quốc phòng luôn vịn cớ “vì mục đích quốc phòng” để đấu lý với chính quyền dân sự!

Câu chuyện Quảng Ninh nối tiếp câu chuyện Tp. Hồ Chí Minh đã trở thành một thực trạng đáng lo ngại liên quan đến các doanh nghiệp đeo hàm, làm kinh tế trên nguồn tài nguyên quốc gia. Mà một trong những nguồn tài nguyên đó là đất đai – khoáng sản và vùng biển.

Bàn tay con người, đaị diện cho ý chí chủ đầu tư và sự hiệp đồng tác chiến của chính quyền đã khiến cho rừng bị chảy máu, và núi bị xói lở. Nó núp dưới bình phong đầy chất nhân đạo: phục vụ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Hệ quả xấu càng nhân hai khi rơi vào tay các doanh nghiệp quân đội dưới mác: phục vụ kinh tế - quốc phòng. Điều này hàm nghĩa, lợi dụng danh nghĩa quân đội làm vỏ bọc để làm trái pháp luật trở thành xu hướng được đẩy mạnh, “nguồn thuế và tài nguyên” trở thành nạn nhân khi gánh vai trò động lực kinh tế của quân đội.

Trách ai bây giờ?

Sự buông lỏng quản lý từ địa phương, sự tha hóa biến chất của quân đội có phải là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng “dời núi, lấp biển” trái pháp luật nêu trên?

Không! Thực chất, gốc rễ của vấn đề chính là đến từ văn kiện Đại hội XI của ĐCS, khi xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP-AN, QP-AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và trên từng địa bàn”. Nghĩa là mọi chính sách phát triển ở địa phương đều có cổ phần của quân đội, đặc ân này trở thành một “bảo kiếm” giúp cho quân đội “đào núi và lấp biển” mà không ngại sự quản lý hay thậm chí chế tài ở địa phương.

Đó cũng là cách làm chiều lòng nhà quân đội, đem lại những giá trị kinh tế nhất thời. Và cái gọi là “bền vững” trong môi trường bền vững (hệ sinh thái, đa dạng sinh học), kinh tế bền vững (tăng trưởng, phát triển, hiệu quả), xã hội bền vững (bản sắc văn hóa, khả năng tiếp cận, sự ổn định) chưa bao giờ được định hình trong quan điểm làm kinh tế theo kiểu “cào bằng” của đội ngũ quân đội.

Vừa qua, liên quan đến vụ golf Tân Sơn Nhất, Bộ Quốc phòng chủ trương tổ chức thanh tra toàn bộ đất quốc phòng tại TP.HCM. Nhưng đây chỉ là một động thái hiếm hoi nhất trong 64 tỉnh thành trên cả nước, xuất phát từ tâm điểm nóng của dư luận vừa qua mà thôi. Do đó, nó chỉ giải quyết phần ngọn, còn gốc rễ, là phải từng bước buộc quân đội thoái dần ra khỏi các hoạt động kinh tế, trở về chuyên môn chính là tập luyện và bảo vệ tổ quốc. Bắt đầu từ việc rút quân đội ra khỏi nhiệm vụ kinh tế từ văn kiện ĐH Đảng.

Lỗi 404- Đừng lấy tay che mặt trời



Tác giả: Lê Ngọc Sơn- Nghiên cứu bậc tiến sĩ, Đại học Công nghệ Ilmenau, CHLB Đức


.404 là “lỗi” thường gặp của các tờ báo ở Việt Nam, thường được gọi vui là “tứ bất tử”, để chỉ tình trạng một bài báo nào đó bỗng dưng… bất đắc kỳ tử. Đằng sau triệu chứng 404 này liệu có phản ánh một căn bệnh nào đó của xã hội đương đại?


Thế, Quyền, Tiền, và… 404


Việc 404 xuất hiện dày đặc và liên tục trong rất nhiều vụ việc có sự dấn thân của báo chí cho thấy một thực trạng đáng lo ngại về sự can thiệp vào sự chuyên nghiệp của báo chí. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này: lỗi chuyên môn, tác nghiệp, bài báo sau khi đăng lên đã được phát hiện các sự cố và buộc phải gỡ bỏ; sự can thiệp của những nhóm lợi ích kinh tế/chính trị, muốn làm sai lệch hoặc che giấu sự thật để đoạt lợi (về tiền bạc, danh dự, trốn tránh trách nhiệm pháp lý). Với những người làm nghề báo lâu năm, đặc biệt là ở cấp quản lý (ban biên tập), thì hầu hết cho rằng lỗi 404 xuất phát từ nguyên nhân thứ hai – sự nhúng tay của một bộ phận nào đó có thế, có quyền, và cả… có tiền.


“Quyền” là thứ mà kẻ nắm trong tay công vụ có thể dùng nó để can thiệp hoặc gây ảnh hưởng đến các tờ báo, hoặc sinh mệnh chính trị của lãnh đạo các tờ báo, hoặc cơ quan chủ quản. “Thế” là những kẻ thân hữu, có sự quen biết nào đó với những nhân vật có quyền lực. Và “tiền” là công cụ của những kẻ tài phiệt, dùng để can thiệp và xé toạc các tờ báo (nếu có cơ hội). Khi sự tác quái của cả “quyền”, “thế” và “tiền” cùng song hành, cộng với sự tiếp tay, thiếu bản lĩnh, thậm chí là bạc nhược của một số tờ báo sẽ là tác nhân gây ra sự “đột tử” những đường link báo chí. Cứ thế, như những cơn mưa kích hoạt “vạt nấm” 404 nảy nở, sinh sôi.


Thực tế, chúng ta đã thấy bên cạnh nhiều tờ báo bản lĩnh, giữ vững tính chiến đấu với tiêu cực, với cái xấu, tham ô tham nhũng, thì vẫn có những tờ báo vì lợi ích của mình đã phải khuất phục trước các thế lực khác. Chuyện một số báo làm sai lệch phát biểu của Thủ tướng, không nhắc đến việc Vincom xây dựng các tòa cao ốc (làm căn hộ và văn phòng) tại khu Triển lãm Giảng Võ ở Hà Nội là một chuyện tương tự như vậy. Người trong nghề biết rõ chuyện có những tập đoàn, doanh nghiệp phân công người phụ trách đi gỡ tất cả các bài báo phản ánh các vấn đề tiêu cực của tập đoàn, doanh nghiệp đó… Trong những trường hợp này, gỡ bài báo là việc bị sỉ nhục đối với báo chí và lý tưởng nghề báo. Một khi đồng tiền đâm toạc tờ báo, có nghĩa đạo đức nghề nghiệp đang bên bờ vực tiêu vong. Với người làm báo chân chính, đạo đức tiêu vong có nghĩa lý tưởng nghề nghiệp chỉ còn là mớ khẩu hiệu tự vuốt ve an ủi tâm hồn.


Sáng tạo không thể dựa trên cấm đoán


Rút bài báo trong trường hợp trên cũng có nghĩa là can thiệp trắng trợn vào sự công chính. Nó là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội mà ở đó sự công chính không được đặt lên trên hết, nơi tiền – quyền, hay mối quan hệ có thể lấn át sự công bằng xã hội. Điều đó làm sâu sắc thêm dấu vết của một xã hội thiếu thốn các chuẩn mực. Mà một xã hội thiếu chuẩn mực (về công chính) sẽ là một xã hội vô vọng với công bằng, phát triển lành mạnh.


Nếu vì một lực lượng quyền lực nào đó can thiệp vào hoạt động báo chí để trục lợi cho nhóm lợi ích, thì việc gây nên các sự cố 404 càng đáng lên án. Trong thời buổi mà bạn đọc ở thế chủ động và thông tuệ hơn, chính 404 gợi ý cho họ về những bàn tay lua xua phía sau sự cố “đường link tự dưng lăn ra chết”. Về lâu dài, việc này tạo ra thế đi thụt lùi của xã hội. Thực tế các nước tiên tiến cho thấy, một xã hội sáng tạo và phát triển dựa trên tự do, chứ không phải chú trọng vào sự cấm đoán. Cấm đoán là hành vi đặc trưng của những kẻ sợ hãi cái mới, mà sợ hãi cái mới có nghĩa là cản bước sự tiến bộ, vì cái mới (kể cả thách thức mới) là yếu tố kích thích sự phát triển.


Những người lạc quan thì tin rằng, rồi cũng sẽ đến một ngày xã hội đạt đến mức phát triển nhất định, mà ở tầm mức đó người ta sẽ ý thức được rằng: không thể vì sợ nắng mà người ta cố đưa tay che khuất mặt trời. Việc đưa tay che lấy mặt trời là những hành động ngô nghê và ngạo mạn, trên hết nó là kết quả của sự vô minh. Những người thích đùa thì ví von rằng, trong khi thế giới đang chạy đua với cách mạng công nghiệp 4.0, thì ở ta muốn “đi tắt đón đầu”, thực hiện đại nhảy vọt lên… 404. Đó là một sự đùa mang lại những tiếng cười ra nước mắt. Thế nên, dù 404 là kết quả của sự chi phối của thế lực kinh tế, hay là sự can thiệp từ nhóm lợi ích chính trị nào đó, thì việc can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của báo chí là một hành động lỗ mãng, cần phải được chặn lại. Nền pháp quyền cần trao cho báo chí các công cụ pháp lý thực chất để tự vệ trước sự can thiệp của các nhóm lợi ích, để báo chí thực hiện tốt vai trò và chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình. Điều đó sẽ góp phần cân chỉnh, cùng tiến lên một xã hội văn minh, phát triển.


Lê Ngọc Sơn – Nghiên cứu bậc tiến sĩ, Đại học Công nghệ Ilmenau, CHLB Đứ
c

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

mộ người nam bắc





Em -- vợ lính và cũng là mẹ lính
Mùi áo chồng và cả mùi áo con
Mùi chinh chiến, mùi duyên tình Trời định
Để một đời: Em 2 chữ sắt son
Khi anh sống, áo treillis bùn đất
Lúc dựng cờ, áo thẫm máu, đất nâu
Con bé dại hỏi mẹ câu ... ba mất
Nghĩa là gì ... người thức trắng đêm thâu
Ngày khôn lớn, Mẹ vẫy tay con trẻ
Bước hành quân theo nối tiếp Cha Anh
Lòng quả phụ khấn thầm câu lòng mẹ
Ơn Trời cao xin ban phúc ơn lành
Mười năm sau Mẹ lên rừng phương Bắc
Thăm con giờ "tù cải tạo" khổ sai
Khấn hồn thiêng mà rưng rưng nước mắt
Phù hộ con, anh trong tấm thẻ bài ...
Chữ quả phụ chỉ riêng anh hiểu được
Chữ mất con, em xa xót trong lòng
Trắng khăn tang một lần em đã bước ...
Xuống mộ sâu rồi chia cách vợ chồng
Anh và con -- cả cuộc đời em đấy
Bao tháng năm 2 di ảnh bên em
Hồn ai đó vấn vương ngàn lau sậy
Mộ 2 người Nam -- Bắc lạnh sương đêm.


Như Thương

cách mạng thi ca việt nam+ tình dục



trần nghi hoàng




Cả chục năm gần đây, giới văn học bất kể trong lẫn ngoài nước, bỗng cùng nhau người trước kẻ sau, lũ lượt hô hào rầm rộ ồn ào náo động nhất định làm cách mạng cho thi ca và tình dục. Đúng ra, chủ đề “tình dục” chỉ bị quí vị này lợi dụng! Họ không có thâm ý cũng như nhã ý (và nhất là không có khả năng!) làm cách mạng tình dục gì sốt! Vấn đề là, họ chỉ muốn mang “tình dục” hoặc những con chữ, những ngôn ngữ nói về “tình dục” vào chữ nghĩa thi ca!



Chuyện như thế thì tôi thấy chả có gì là nghiêm trọng và đáng nói tới. Chuyện “tình dục” ấy mà! Nó là một thứ nhu cầu bình thường như bao thứ nhu cầu căn bản. (ăn, ngủ, đụ, ỉa). Và sau khi con người ý thức (hay nhận ra hoặc tự nhận) là mình đã tiến bộ văn minh, con người ta còn có thêm những nhu cầu “sinh tử” khác như: suy tưởng, phát biểu, tự do… Và bất cứ thế lực hay món gì ngăn cản những nhu cầu này, đều phải nhận lấy một hậu quả khó lường do những cuộc “cách mạng”, “lật đổ” diễn ra..


Chuyện nó chẳng ra làm sao, hà cớ cứ bận tâm. Những quí vị đạo đức (thật và đa số giả) thích càm ràm về những chuyện này, xem ra, đã “nhàn cư vi bất thiện”. Tôi nói “bất thiện” là vì quí vị đang “xâm phạm gia cư bất hợp pháp”!


Mấy cái vụ mà một số quí thi sĩ Việt Nam quốc nội và hải ngoại đang tận lực cổ võ, để phát huy kia [tòan] là những vụ rất “riêng tư”. Chẳng hạn như “thủ dâm”, “làm tình”… Bộ không phải là những chuyện mà (hầu như) những con người bình thường đều phải “làm” nó ở một nơi kín đáo, vắng vẻ, riêng tư… Ngay cả người Mỹ, là những người được xem là “tự do” và “tiến bộ” về quan điểm trong lãnh vực tình dục, cũng phải có những tờ báo riêng, hay những trang web riêng… để “xả xú bắp” về chuyện “tình dục”. Playboy, Playgirl đại loại…


Nhưng người Việt Nam chúng ta thì khác. Bởi chúng ta có nhiều thứ “truyền thống” đáng nể luôn luôn đè nặng trên đầu. Với truyền thống dân tộc bốn-năm ngàn năm văn hiến, người Việt rất khoái làm “cách mạng”. “Cách mạng” đối với người Việt Nam đồng nghĩa với “bắt chước”.


Trong lãnh vực thi ca, người Việt Nam khởi nghĩa cuộc cách tân bằng phát động phương pháp nhại thơ Maiakovski và mấy thứ Nga-Tàu thời XHCN! Bây giờ, thời kinh tế thị trường, khi thấy thứ thi ca biến thái “cách mạng cách tân” của các “thi sĩ” trong nước với trạng huống bắt chước lạc đường, thì một số “thi sĩ” Việt hải ngoại cũng hoảng hốt làm những cú nước rút đề hầu mong theo cho kịp cái đà cách tân vĩ đại của “anh chị em ta” trong nước!


Nói đúng kiểu Việt Nam “truyền thống”, thì: ' Người Việt chúng ta không thèm làm (cách mạng) thì thôi, đã làm(cách mạng) thì bắt buộc là phải “qua mặt” Tụi Nó. Tụi Nó ở đây, tất nhiên là những con người của những quốc gia khác trên thế giới, đã khám phá sau khi khám xét kỹ lưỡng, và khám nghiệm một cách đàng hoàng. Tất yếu là đã trải qua đúng theo những chu kỳ của một cuộc sáng tạo để thành công và thành danh. Thành công có nghĩa là được thế giới con người công nhận là một phát minh mới trong lãnh vực văn hóa. Và sau đó tất nhiên là sự vụ thành danh.


Truyền thống Việt Nam chúng ta, bất kể trong hay ngoài nước, không nhất thiết và có thể tuyên ngôn một cách không cường điệu và cưỡng bức tí nào hết, là không thèm hoặc không cần phải trải (nghiệm) qua những thứ chu kỳ ấu trĩ đó! Dân tộc Việt Nam bốn-năm nghìn năm văn hiến là một dân tộc của thi ca mà lại! Cứ phong thanh nghe đâu đó trên thế giới đang có một phong trào thơ đang phát động, thì “bổn phận” đương nhiên của những thi sĩ và không thi sĩ Việt Nam là phải liền tức thì phát động cái phong trào “nghe đồn” trên thành một “phong trào” to lớn rền vang và rền vang một cách ngang nhiên vô tội vạ!


“Tiên hạ thủ vi cường” – “Bắn chậm thì chết”. Những “thi sĩ” cách tân hiện đại của Việt Nam ta, là những tay súng “chớp giật, sao băng”. Từ thơ 'Tân Hình Thức', nhảy qua thơ' Nhại Lạ'i (tức thơ nhại thơ). Bước vào đường cùng và đường cụt, thì ngõ thoát hiện ra sáng ngời trước mắt là thơ 'Nhai Lại,' tức thơ Recycle… Cuộc biến chuyển cách tân thơ thập phần ngoạn mục đủ sắc màu ái ố hỉ nộ. Và bây giờ là bay bổng lên bằng 'Thơ Sex Siếc'. Sau cách 'Tân Hình Thứ'c là công cuộc' Tẩy Rửa Nội Dung'
.
Song le, “xấu đẹp tùy người đối diện”. Cuộc cách mạng nào chẳng đổ máu hoặc mực, phải không? Cũng như, có người thích Paris, (vẫn) ngợi ca Paris như những tay văn nghệ thời cuối thế kỷ XIX. Nhưng đâu ít những người khác chê bai Paris thậm tệ.


Xin đọc vài dòng thơ của Kenneth Koch, một thi sĩ Mỹ, viết về Paris:
' WHAT PEOPLE SAY ABOUT PARIS?'

They often begin by saying, “Paris! How I wish I were there!”
Someone said, “Paris where good Americans go when they die.”
“Pit pat, pit pit patter,” say the raindrops
Falling on Paris in Apollinaire’s poem “La Pluie.”
“I was so happy in Paris,” I said. “It was like
Loving somebody. The first three times I left there, I cried.”
“I don’t like Paris.” say some. And others, “Paris is getting nice again.”
“If you don’t meet anyone but concierges and waiters,
How can you like any place?” Another says, “The French do nót have friends,
They have relatives. “ A Frenchman says, “Le francais n’est pas interlligent,
Il est rapide.” “Paris is ruined,” say certain, all the time.
Paris was at its best in the noneteenth century.”
“Paris was wonderful between the wars.” “Old Paris is no more,”
Said Baudelaire. “The form of a city
Changes more quickly, alas! Than a mortal’s heart!”


Paris hả? Rất nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam ta đã từng đem Paris vào văn chương thi ca. Paris trở thành cái tên của vùng đất hứa mà anh chị văn nghệ sĩ nào đã tới được Paris, là coi như đã thành tựu viên mãn. Đã được ấn chứng là một văn nghệ sĩ thứ thiệt, thời thượng và thời cuộc!

Tôi cứ tưởng như đó là chuyện của người Việt Nam bốn-năm nghìn năm văn hiến và văn hóa. Đâu ngờ, người Mỹ giang hồ cưỡi ngựa chăn bò hai trăm năm lập quốc, phú cường hùng cường và văn minh điện toán tàu ngầm hỏa tiển cung trăng, lại cũng cứ bị cái Paris nó ám ảnh. Dĩ nhiên, như đã nói “xấu đẹp tùy người đối diện”, “người vầy người khác”. Nhưng cuộc lý luận lý giải sẽ trường giang bất tận và không kết thúc! Ủa? Anh muốn thích Paris thì anh cứ thích! Tôi thì thấy Paris bây giờ cũng rạc rày như Đà Lạt của Việt Nam. Những dáng sắc hương hoa của văn hóa văn học, của thơ mộng thơ ngây và thơ thẩn đã tàn rụi theo năm tháng. Ừa rồi sao? So what? Tôi vẫn cứ thích Paris. Thì mặc mẹ anh cứ thích Paris. Tôi thì không cũngso what? Cuộc tranh cãi sẽ trở thành vô duyên, thậm chí vô bổ và kết quả thì vô hậu và sẽ vô cùng dai dẳng chẳng đi đến cái thành La Mã nào. Vậy thì, phe thích làm thơ 'sex siếc', thích bày của quí và những cơn động tình (tưởng tượng) của mình lên giấy, cứ việc tự nhiên cho! Ngược lại, phe “chi hồ giả dã” gì đó, cứ tiếp tục “gáo tra dài cán”, xí quên “giáo đa thành oán”, đừng nên tiếp tục vọng động! Tuy nhiên, mọi thứ đều có cái “giới hạn” của nó! Cái giới hạn vô hì'nh nhưng hết sức chặt chẽ. Mời đọc chơi vài dòng của Joseph Brodsky: 'TO URANIA
I.K.

Everything has its limit, including sorrow.
A windowpane stalls a stare; nor does a grill abandon
A leaf. One may rattle the keys, gurgling down a swallow.
Lonelines cubes a man at ran dom.
. . . . . . . . .
And what is space anyway if not the
body’s absence at every given
point? That’s why Urania’s older than sister Clio!
(Joseph Brodsky
sách đã dẫn; trang 21)



Mọi thứ đều có cái giới hạn của nó. Ngay cả những nỗi niềm đau khổ! Mỗi khối cô đơn nằm trong sự hiện hữu của mỗi con người. Nhưng cái khối cô đơn kia, và ngay cả cái sự hiện hữu của con người, cũng đều có những giới hạn của chúng nó. Thế thì ô hô ai tai! Mặt mày xụi lơ ngó ngoài liếc trong không tìm ra cứu cánh. Có khi, chính cứu cánh là cái phương tiện vãng lai tưởng chừng thập phần hiện hữu, nhưng lại rồi thập phần chẳng hiện hữu gì hết! Đã nói, mọi thứ đều có giới hạn của nó mà. Cái gì hiện hữu rồi cũng có lúc không hiện hữu nữa. Có những phương ngôn tục ngữ hay phong dao đồng dao từ thời xa xưa, vẫn còn giá trị hữu ích cho con người muôn đời. Thí dụ như câu “Thái quá bất cập” – Cái gì mà nhiều quá, quá đáng thì cũng sẽ không khá được. Bắt chước, thoạt kỳ thủy chẳng có gì là xấu. Nhưng trong sự bắt chước phải biết tiêu hóa. Sử dụng của người khác, nhưng đã được “thích hợp” hóa với bản chất của mình. Chẳng hạn như những chữ “xà bông” mà tiếng Việt chúng ta đang xài, vốn dĩ là từ chữ “savon” của tiếng Pháp. Hoặc những chùm từ như “tam sao thất bổn”, cứ nói hoặc viết ra, là hầu như người Việt Nam nào cũng hiểu đến thất thoát sai lạc trong sự vụ truyền miệng rỉ tai. Giới hạn của mỗi sự việc nó khác nhau. Phải tinh tế và mẫn cảm để nhận ra cái lằn ranh này. Mà một người là “thi sĩ thực sự”, thi hai bản năng “tinh tế” và “mẫn cảm” hầu như phải có là điều tất nhiên.


Đọc 'Kinh Karma' hay 'Kinh Tố Nữ', tôi không thấy có sự tục tĩu hay nhớp nhúa trong những trang tình kinh nói trên. Ngay cả' Nhục Bồ Đoàn' của Lý Ngư, tôi đọc được văn chương và tính ẩn dụ bên trong những câu chữ nói về nhục cảm thân xác. Bởi tự hai cuốn 'Tình Kinh', hoặc tác phẩm 'Nhục Bồ Đoàn', đã đưa ra cái chuyên đề để lý giảI: “Tình Dục”. Nhưng đọc những câu thơ “bày biện” của một số quí vị thi sĩ đang thời từ trong nước tới hải ngoại, tôi chỉ thấy được một điều là quí vị đang “thủ dâm Ngôn Ngữ”. Tuy nhiên, bày biện cũng có nhiều cách bày biện. Bày biện có thẩm mỹ, có kỹ thuật và nhất là phải giữ cho được cái tính Thơ, thì tôi thấy rất là hiếm hoi. Xin kể hầu một câu chuyện về hai chữ “bày biện”: Một bà góa kia chồng mất đã được đúng năm. Bà vẫn luôn thương nhớ ông chồng bạc mệnh. Vào ngày giỗ đầu của chồng, bà làm một bữa cổ thực thịnh soạn, mời bà con, làng xóm đến dự. Khi quan viên đã tề tựu đông đủ, bà cứ lăn ra mà khóc trước bàn thờ chồng, kể lễ nỗi niềm thương tiếc. Bà khóc và khóc tỉ tê khổ não. Đứa con gái mười lăm tuổi của bà khuyên can bà thế nào cũng không được. Mấy bà khách bà con an ủi thế nào bà cũng cứ hiên ngang mà khóc. Mới đầu, nhịp khóc còn nhẹ nhàng, rấm rứt. Khi bắt trớn được, bà khóc vật vã, lăn lộn trước bàn thờ. Hai tay bà cứ đấm thùm thụp lên mặt đất. Đầu bà gục hất tung xoay túi bụi. Thời đó, cách nay đã khá là lâu, đàn bà mặc váy maxi nhưng ứ thèm mặc lót bên trong mấy cái món lỉnh kỉnh rườm rà. Nên bà góa ta sau một hồi “chổng mông” lăn lộn khóc, váy nó cứ tuồn tuột dần và điều tất nhiên đã xảy ra: bà “bày biện” ra cái món của quí đã cả một năm rồi “tiu nghỉu” của bà. Đứa con gái mười lăm tuổi thẹn quá, bèn nói với bà: “Mẹ ơi! Mẹ mời bà con hàng xóm tới nhà giỗ bố, lại cứ “bày biện” ra như thế kia, nom kỳ cục quá mẹ à!” Bà góa ta vừa khóc, vừa đưa tay quẹt nước mắt, hắng giọng bảo con gái: “Thì mẹ mời bà con hàng xóm tới nhà ăn giỗ bố, phải “bày biện” ra mời bà con hàng xóm người ta xơi chứ! Con nói năng chi lạ, chẳng có lễ giáo lịch sự gì cả.”.

Mời xơi thì mời. Bà con hàng xóm có dám xơi hay không, lại là một chuyện khác cần phải nghiên cứu và “ấn chứng” lại! Cũng như, làm cách mạng thì đã là người Việt Nam, ai lại không thích? Truyền thống dân tộc mà! Làm thơ hả? Người Việt Nam nào chả biết làm thơ. Lại truyền thống thêm cái bản sắc dân tộc trống đồng và cây đa đầu đình lũy tre cuối xóm! Nhưng làm cách mạng “kiểu” như thế nào, “cách tân” ra làm sao và cho cái gì, để đi đến đâu, thì là những câu hỏi, những cật vấn rườm rà không cần thiết!


Còn nữa. Cái tạng của hầu hết văn nghệ sĩ Việt Nam ta nó như 'vầy'… Cứ có một chút danh, một vài tác phẩm thì bèn thành ngay một cục thiên tài, độc nhất vô nhị trong cõi trần ai. Do đó, dân tộc Việt Nam ta, dù ở trong nước hay đang lưu vong hải ngoại, đều là những Nhà Cách Mạng và những Thi Sĩ. Và ai cũng là độc nhất. Đó là truyền thống văn hóa Việt Nam.


Tô Hoài chép chuyện Nguyễn Tuân và Nguyễn Sáng: “Nguyễn Sáng đến chơi, mùng ba Tết. Hai người uống vui, câu chuyện xoay quanh nghệ thuật. Bốc lên, Nguyễn Sáng hét: “Chỉ có một thằng Sáng thôi. Còn thì cứt hết!” Nguyễn Tuân giơ tay ra cửa: “Đi ngay!” Nguyễn Sáng vẫn hăng: “Nguyễn Tuân à, đừng tưởng bở! Ông không biết viết tiểu thuyết. Truyện không có nhân vật, vứt đi!” “Anh ra khỏi đây ngay.” Nguyễn Sáng lập cập xuống thang. Gặp tôi, Nguyễn Sáng nước mắt đầm đìa. Nguyễn Sáng bảo con gái tôi: “Người ta đuổi chú. Năm mới mà chú bị người ta đuổi.” Ngồi một lúc, tỉ tê hỏi mới ra câu chuyện những cái tài cái tai gặp nhau. Nguyễn Sáng nói một câu sắc rợn: “Nó cũng khinh người bỏ mẹ, lại bảo mình khinh người!” “Lúc nãy có nói thế với Nguyễn Tuân không?” “Chưa nói hết câu, nó đã tống mình đi rồi. Tức quá, đi luôn”.. (Tô Hoài; Cát Bụi Chân Ai; Hồi ký. T(hanh Văn xuất bản 1990; Trang 178) .


Tinh thần cách mạng và tinh thần thi ca dâng cao lên rồi, hai thứ này nó phối trí và phối hợp với nhau thành “tường đồng vách sắt”, có thể chống đỡ bất cứ cuộc tấn công nào! Dù bom nguyên tử hay đạn thủy lôi! Vả lại, ngoài hai tinh thần cách mạng và thi ca ra, mỗi một văn nghệ sĩ Việt Nam là một “thiên tài”. Chúng ta có vô số thiên tài và trùng điệp những ngọn cô phong…. Mặc cho mưa gió nghìn trùng. Đâu rồi cách mạng cho thi ca và tình dục của người Việt?. (*).. []


------------- . .
(*) bản đã được BBT Hội Luận biên tập ;và tác giả đồng ý so với bản trước đây in trên trang mạng khác. (BBT/ Hội Luận).




trần nghi hòang
(Virginia)

Thơ sẽ chẳng là gì cả





vẫn biết thơ ra khỏi đầu là kết thúc
trang viết chẳng khác gì thoi vàng vó rắc,tro tiền giấy bay ! (câu Kiều)
hộp sọ rỗng rễnh
nỗi nhớ nhớt nhầy tình yêu thời thổ tả (*)
tôi lạc giữa hang sâu ẩm ướt
mặt trời nằm phía ngoài cửa động
nước sông mát lạnh
tôi bật diêm thắp nến
hình như có ai đưa miệng thổi
tối om
đầu thạch nhũ ứa giọt cam lồ
chắc là thơ
tôi bắt đầu nghĩ lan man
thơ mà không tình yêu thì buồn chết được
nhưng cuộc đời này đâu chỉ có bóng giai nhân
đôi mắt trẻ con Phi Châu trắng dã
người đàn ông nằm bất động ruồi nhặng vi vu
nỗi khổ trùm kín khuôn mặt nhiệt đới
chiếc đầu lâu cắm trên khung xương quai xanh
người đàn bà da màu câm lặng
có lẽ chẳng thiết tha gì cuộc sống
đừng mong chi một mảnh tình vắt vai
đêm Phi Châu đặc quánh
thơ sẽ chẳng là gì cả !


phan văn thạnh
(Saigon,10/6/2015)

---------

(*) Tình yêu thời thổ tả (tiếng Tây Ban Nha: El amor en los tiempos del cólera) là một tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Colombia Gabriel Garcia Marquez (1927 - 2014) - xuất bản năm 1985 - được tạp chí New York Times đánh giá là một trong những thiên tình sử đẹp nhất mọi thời đại, là "tuyên ngôn cho sự bất diệt của trái tim". (PVT)

MÁI TÓC EM





Mái tóc em gói cả trời đêm
khiến trăng trốn xuống bên thềm nhà tôi
bóng về chiếm chỗ tôi ngồi
đuổi hồn vào mộng vĩnh vòi được yêu


Mái tóc em gom hết mỹ miều
làm cho nhân thế còn chiều vẹo xiêu
tôi buồn cột sợi cô liêu
đợi đêm gối giấc mơ kiều đài trang

Mái tóc em ôm trọn địa đàng
hồn tôi đắm đuối vội vàng khỏa thân
tắm trong nhục thể thiên thần
xác khô chết dưới dương trần không tên

ĐÔI BẦU...




Ôi!
đôi bầu thiếu nữ cóng cơn
Ôi!
đôi bầu khát vọng nào hơn


Trăm năm trời đất ghen hờn
đôi bầu thiếu nữ chờn rờn nhân gian
xuống địa ngục lên thiên đàng
đôi môi mở ngậm buộc ràng yêu thương

Ôi !
đôi bầu sữa mẹ no tròn
Ôi!
đôi bầu sữa mẹ sạch thơm

Trăm năm nào có hao mòn
đôi bầu sữa mẹ nuôi tròn nghĩa nhân
sánh cùng trời đất vạn năng
mạch nguồn thơm ngọt trào dâng vĩnh hằng

TÌNH YÊU TÔI HÓA ĐẠO GIỮA NGÀN SAO





Bỏ lại dưới chân góc phố nhỏ nhoi
nơi tôi ngồi đơn côi cùng nỗi sợ hãi
mang tình yêu em tôi bước lên con đường trống trãi
không một bóng người
không cả bóng tôi


Linh hồn tôi theo ánh dương quang đại
thoát khỏi xác thân tù ngục đọa đày
rời xa thế giới tàn phai
chất chồng tội lỗi
rền vang lời sám hối đầu môi

Tôi đến tận cung trời
ghé bến cây đa hỏi thăm chú Cuội
nàng Hằng Nga đã bao ngàn năm tuổi
vẫn giữ tình si cho nhan sắc mãi ngậm ngùi

Vị thuốc cây đa có đủ đắng cay chua chát ngọt bùi
mà trường sanh cách xa nhân thế
Cuội đắm mê chi sống đời cô độc
in bóng mình cùng trời đất buồn vui

Linh hồn tôi giờ có thể tới lui
tự do tự tại vào ra duyên nợ
tình yêu em là khí trời tôi thở
tình yêu tôi là mạch đất dưỡng nuôi

Tôi đâu cần vị thuốc cây đa
vẽ đẹp Hằng Nga sợi dây tơ Nguyệt lão
sinh tử luân hồi kiếp người áo não
tình yêu tôi hóa đạo giữa ngàn sao

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

MẶT TRỜI ĐỎ





Mặt trời đỏ chói lòa đôi mắt
ta đi giữa ngày như kẻ mù gà
chạm vai sự thật sao lạ quá
đụng mảnh dối gian rách toạt da


Cứ ngỡ là đường cái quan ta bước
có ngờ đâu ngõ cụt chẳng còn xa
mặt trời vẫn đỏ mây nào qua
gió cũng không về lay động hoa

Ta vẫn đi như kẻ mù gà
máu tim chảy nhuộm đất tà ma
"ở đây chân lý mờ nhân nghĩa
áo em đỏ quá nhìn không ra"*

Mặt trời vẫn đỏ mồm quỷ dữ
ta đi giữa ngày như kẻ mù gà

* "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
áo em trắng quá nhìn không ra"
( thơ Hàn Mặc Tử)

CÔ BÉ NGÀY XƯA HAY NÓI DỐI




Hồn thất tán lang thang vạn nẻo
thân xác còn neo lại góc đơn côi
em tôi bây giờ hẳn đã lớn
có chồng chưa sao không thấy thiệp mời


Cô bé ngày xưa hay nói dối
nhận lỗi thay người để bị đòn roi
những vết bầm hằn lên làn da trắng
xót lòng tôi khi em kể chuyện buồn

Em vào đời bước chân bươn chảy
vẫn còn mang vụng dại thơ ngây
giữa thị thành phù hoa náo động
em còn không lời nói dối trắng trong

Bao năm rồi tôi vẫn thầm giấu bóng
bên con sông em thả lá thu vàng
thay con đò trôi tìm biển cả
và dối lòng tôi đã không yêu

Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017

Nhân dân




 Nguyễn Trọng Tạo




Có thể thay quan, không thay được Nhân Dân
Thay tên nước, không thể thay Tổ Quốc
Nhưng sự thật khó tin mà có thật
Không thể thay quan dù quan đã thành sâu!


Quan thành dòi đục khoét cả đất đai
Vòi bạch tuộc đã ăn dần biển đảo
Đêm nằm mơ thấy biển Đông hộc máu
Những oan hồn xô dạt tận Thủ Đô


Những oan hồn chỉ còn bộ xương khô
Đi lũ lượt, đi tràn ra đại lộ
Những oan hồn vỡ đầu gãy cổ
Ôm lá cờ rách nát vẫn còn đi


Đi qua hàng rào, đi qua những đoàn xe
Đi qua nắng đi qua mưa đi qua đêm đi qua bão
Những oan hồn không sức gì cản nổi
Đi đòi lại niềm tin, đi đòi lại cuộc đời


Đòi lại những ông quan thanh liêm đã chết tự lâu rồi
Đòi lại ánh mặt trời cho tái sinh vạn vật…
Tôi tỉnh dậy thấy mặt tràn nước mắt
Nước mắt của Nhân Dân mặn chát rót vào tôi.


Ôi những ông quan không Dân trên chót vót đỉnh trời
Có nhận ra tôi đang kêu gào dưới đáy
Cả một tỷ tôi sao ông không nhìn thấy?
Vì tôi vẫn là người mà ông đã là sâu?…

NGỦ MỘT GIẤC ĐI TÔI





Ngủ một giấc đi tôi
nếu ngày mai có người gõ cửa
đành thôi
thức dậy để ngày đưa
cái đói đòi ăn
miệng nhai nát nhừ sự sống
đề làm cái bóng
hòa vào chợ đông


Ngủ một giấc đi tôi
nếu mai không có người gõ cửa
thì thôi
ngủ nữa nào thừa
may ra thần chết về đưa
vào vừa địa ngục
gặp lại đôi thằng bạn cũ
nhậu suốt mùa thu

Ngủ một giấc đi tôi
đừng mơ lên đến thiên đường
nơi đất nước nhiễu nhương
chỉ phường phản trắc
dẫn dắt
đánh tráo trời đất

Ngủ một giấc đi tôi

Công an Yên Bái tạm giữ Trưởng ban Bạn đọc báo Giáo dục Việt Nam





(CLO) Nguồn tin của báo Điện tử Congluan.vn từ Công an tỉnh Yên Bái cho biết, ngày 22/6/2017 Công an TP Yên Bái đã bắt quả tang nhà báo Duy Phong – Trưởng ban Bạn đọc Báo Giáo dục Việt Nam (Giaoduc.net.vn) để điều tra về hành vi chiếm đoạt tài sản.

Theo đó, ngày 22/6, Lê Duy Phong đi ô tô mang BKS 30E – 35481 tới một nhà hàng ở tổ 66, phường Nguyễn Thái Học (TP Yên Bái). Tại đây, anh Phong đã có hành vi nhận tiền của 1 doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Yên Bái. Tới khoảng 12h45 cùng ngày, khi hai bên đang giao dịch, tiền được để trên mặt bàn thì bị Cơ quan CSĐT Công an TP Yên Bái bắt quả tang. Lê Duy Phong được cho là đã tống tiền 1 doanh nghiệp ở Yên Bái với số tiền 250 triệu đồng để không phản ánh sự việc tiêu cực lên mặt báo. Lê Duy Phong (SN 1985, ở Hải Ninh, Tĩnh Gia, Thanh Hóa, thường trú tại phường Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội), đã được cấp thẻ nhà báo


Xác nhận với báo Điện tử Congluan.vn, ông Nguyễn Tiến Bình – Tổng biên tập Báo Giáo dục Việt Nam cho biết đã nắm được việc này và đợi thông tin chính thức từ cơ quan công an. Thời điểm này ông Bình không có bình luận gì thêm. Được biết, nhà báo Duy Phong là tác giả loạt bài về biệt phủ ở Yên Bái của gia đình Thiếu tướng Đặng Trần Chiêu – Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái và gia đình ông Phạm Sỹ Quý – Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trưởng tỉnh Yên Bái.

Congluan.vn sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này!

Dương Đông

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

LẠNH





Bước chân lạnh
đôi tay lạnh
mái đầu mong manh
đêm
chỉ có những ngôi sao trên cao
không một đốm lửa nào
hấp háy
hơ chảy
máu tim
con đường lặng im
hun hút
tương lai


Căn phòng lạnh
gối chăn lạnh
quạt trần quay nhanh
đêm
chỉ có lũ muỗi xúm nhau tranh
không một nhúm âm thanh
vọng động
đánh bóng
giấc mơ xưa cũ
lụ khụ
hôm qua

Hiện tại
đêm
ngái ngủ
sự sống chìm trong lời chỉ dụ
ướp lạnh
trái tim
chỉ có loài sâu bọ nhung nhúc
ăn
tất cả những gì chúng có thể ăn

Lạnh!

Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm




Nam Giao 



Hộ Pháp Cao Đài Phạm Công Tắc (1890-1959) và đội Hộ Vệ Quân trước Tòa Thánh Thất tại Tây Ninh (Photo – Internet/VNMLQHT)

Lời Giới Thiệu (nhấn mạnh và hình ảnh) của hoangnamgiao –

● “Cao Đài Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm” là tên của một tập tài liệu do nhà biên khảo Huỳnh Tâm chấp bút và do Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Đài Âu Châu bảo trợ tinh thần và yểm trợ phổ biến. Tài liệu do Giáo sư Gustave Meillon (thuộc Académie des Sciences d’Outre-Mer) viết lời giới thiệu và được phát hành vào năm 1990. Biên khảo nầy chủ yếu xử dụng tài liệu của Ban Đạo Sử Cao Đài và Thư viện Cao Đài tại Pháp (Quận 5, thủ đô Paris), ghi lại những mốc lịch sử trong mối quan hệ giữa Đạo Cao Đài (thông qua Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ / Tây Ninh) và chính quyền Đệ nhất Cộng hòa từ ngày 12-1-1950 đến ngày 22-12-1963. Trong 14 năm đó, với hình thức trình bày “sử biên niên”, tác giả đã đặc biệt làm nổi bật tương quan giữa hai nhân vật Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Tổng thống Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa.

● Đạo Cao Đài được chính thức thành lập thông qua Đại lễ Khai Đạo vào ngày 19-11-1926 tại chùa Thiền Lâm, tỉnh Tây Ninh, với sự hình thành của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Là một tôn giáo xuất sinh từ Việt Nam, dung hợp giáo lý của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, Đạo phát triển mạnh ở Nam Bộ, lan ra miền Trung và qua cả Cao Miên. [Theo số liệu của cơ quan thống kê Việt Nam cho đến năm 2010, Đạo Cao Đài có khoảng 2,4 triệu tín đồ trong 35 tỉnh/thành ở Việt Nam, và vào khoảng 30 nghìn tín đồ ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc châu. – Wikipedia]. Trôi nỗi giữa buổi giao thời của phong trào giải thực và chiến tranh lạnh, đạo Cao Đài đã liên tục phải ứng phó với những thế lực ngoại nhập (như Pháp, Nhật, Cộng sản quốc tế, Mỹ …) trên đất nước Việt Nam thông qua những “con bài” ủy nhiệm của họ. Trong đó, “oan trái” nhất là ứng phó với chính quyền Ngô Đình Diệm, khởi đi với tư cách “đồng minh” nhưng kết thúc bi thảm vì bị chính quyền nầy “phản bội”.

● Đàn áp tôn giáo và tiêu diệt đảng phái đối lập là hai chủ trương đặc thù của chế độ Diệm. Chúng ta đã có rất nhiều tài liệu về chủ trương nầy đối với Phật giáo và Hòa Hảo, … nhưng về Cao Đài thì chỉ có một số tài liệu về hai nhân vật nỗi bật nhất của Cao Đài là Phạm Công Tắc và Trình Minh Thế mà thôi. Do vậy, tập biên niên sử “Cao Đài Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm” nầy chính là tiếng nói chính thức và có thẩm quyền của tín đồ Cao Đài về chính quyền Ngô Đình Diệm, sẽ giúp chúng ta thêm dữ kiện trong việc phân định tội lỗi lịch sử của chế độ nầy một cách chính xác và đầy đủ hơn. – NAM GIAO




Lời Giới Thiệu (của GS Gustave Meillon)



Giáo sư Gustave Meillon (1915-1994)

[Photo: http://caodaitv.free.fr/archivetv1/2008duhanhdhpad02.htm ]

Ðức tin Cao Ðài đã vượt qua những trở lực để vươn mình vào ánh sáng dưới mặt Trời và những nguyên nhân ngăn cản đã bỏ lại sau lưng trên dòng thời gian lịch sử, trang sử truyền giáo ấy bởi giá trị hiến dâng của toàn đạo chịu nhọc nhằn khổ sở đổi lấy bi tráng nầy, đã chứng minh ngọn nóng của lửa Thiên vẫn thắp sáng và nay là trường ca bất tận sống cùng Nhân loại. Lịch sử đạo Cao Ðài với bao niềm tự tin đã dâng về đấng Ngôi Cao từ những an lành trong cõi đời, đến khung cửa trí tuệ được mở rộng và đôi bàn tay huyền diệu biết nâng niu đầm ấm cho nhau, biết kính trọng đức Cao Ðài vẫn hằng sống ngự trị ở khắp mọi nơi, ngay cả lòng bao dung và vị tha trên đường chân lý phục vụ Từ Bi Bác Ái Công Bình bước vào thời đại vĩnh cửu và cuốn sách Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm của nhà biên khảo Huỳnh Tâm là những thành tựu đắp xây công nghiệp Ðạo.

Ban Ðạo Sử Cao Ðài Âu Châu xét rằng cuốn sách Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm của nhà biên khảo Huỳnh Tâm xem như một vị trí công quả rất đáng nâng niu đã vượt ra thời gian và sẽ được lưu truyền một công trình biên khảo sau 20 năm, nay Hiền Huynh Huỳnh Tâm cập nhật hóa tất cả tài liệu của Ðạo đã lưu trữ tại Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Ðài Âu Châu và những dữ kiện được đối chiếu, hầu giúp bạn đọc sau nầy có dịp nghiên cứu truyền giáo của đạo Cao Ðài dưới chế độ kỳ thị Tín ngưỡng và đạo đã cống hiến sự nghiệp đức tin cho đất nước Việt Nam vô điều kiện.

Cuốn sách Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm của biên khảo Huỳnh Tâm đã trình bày và được mở ra những trang sử tư liệu rõ ràng trước hoàn cảnh Ðạo nhận phải những phức tạp trên cao điểm gay gắt từ năm 1954-1963 do chế độ Đệ nhứt Cộng hòa bày biện. Ðạo vẫn truyền lưu và lịch sử vẫn phải ghi nhận như một chứng nhân của bao thời trôi theo dòng đời từ Pháp thuộc đến đệ nhứt Cộng hòa, đệ nhị Công hòa rồi nay Xã hội Chủ nghĩa và Ðạo vẫn truyền giáo trên những mặt đời thênh thang đến khắp cùng vũ trụ và sự nghiệp truyền giáo Cao Ðài không ngừng nghĩ một giây khắc nào, từ đây Nhân loại cất cao âm hưởng vinh ca Ðức Cao Ðài vào tần nhịp khắp cùng vũ trụ.

Ðã bao chế độ trôi qua từng ấy kiếp sống thay nhau nhường chỗ, nhưng Ðạo vẫn là Ðạo của muôn đời còn đó và lời cầu Kinh, Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Ðạo Luật, Thánh Ngôn vẫn là chất liệu tinh anh nuôi sống cho tất cả tâm hồn tươi mát và cuốn sách Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm cũng để ghi nhận một thời gay gắt, nói lên tính năng động của cơ Ðạo thăng trầm theo vận sinh tồn của vũ trụ và trần thế vẫn sàng sảy để tỏ rõ thân thế miên trường của đạo Cao Ðài, đạo Cao Ðài sẽ là dòng đời lịch sử nương chuyển theo lưu truyền 700.000 mùa mai nở.

Paris 25/12/1990

Giáo Sư Gustave Meillon



Lời Trình Dâng

Ánh sáng của Ðạo chỉ lối cho chúng tôi đến với Ban Ðạo Sử Cao Ðài tọa lạc tại Paris 5, nơi lưu trữ tư liệu Ðạo đầy đủ nhứt ở Âu Châu, bởi Quý Ngài Tiền Khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh như Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt “Lê Văn Trung”, Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Chánh Phối Sư Thượng Vinh Thanh “Trần Quang Vinh” đã ủy thác cho Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Ðài Âu Châu truyền giáo vào Phương Tây và từ ấy đã có rất nhiều nhà biên khảo Tây phương đến BÐSCÐ nghiên cứu, nhưng trên lãnh vực biên khảo và ghi nhận những khúc quanh lịch sử của Ðạo có liên quan đến nền Ðệ nhứt Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trị vì 9 năm vẫn chưa được khám phá.

Từ cơ duyên ấy trách nhiệm nầy của người Tín đồ Cao Ðài và lương tâm người biên khảo xin dâng hiến phần công quả nhỏ, làm gạch nối bạn đọc hầu tham khảo lịch sử của đạo Cao Ðài sau thời Pháp thuộc và gửi đến Ban Ðạo Sử cuốn sách Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm, nhằm bổ túc vào những dữ kiện truyền giáo đã trải qua một chế độ kỳ thị Tôn giáo và những biến cố của Ðạo ở thời nầy.

Chúng tôi khởi đầu biên khảo cuốn sách nầy bởi động lực kỳ thị Tôn giáo và thiếu vắng nhân bản của chế độ Ngô Ðình Diệm, những chính sách nghiệt ngã của nhà Ngô dành cho đạo Cao Ðài chồng chất chưa được lịch sử ghi nhận, nếu có chăng cũng là phần ghi chú nhỏ trong hời hợt, quên lững và dị biệt, bởi người viết sử của thời nầy trống vắng tinh thần chứng nhân và bỏ rơi giá trị Ðức tin, Nhân bản đến mức độ không còn vì lòng trung thực.

Từ những yếu tố ấy chúng tôi không ngần ngại lấy lương tri để biên khảo đề tài nầy và suy nghĩ những cưu mang đích thực vì tất cả cho lẽ sống đức tin công bình, bởi những sự kiện hiển nhiên của lịch sử và tự nó sống trên lưu truyền mà không cần đến mọi sáng tạo theo cảm tính của hư cấu.

Nay chúng tôi đã hoàn tất biên khảo Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm sớm hơn hai năm dự định và chúng tôi xin cảm ơn Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Ðài Âu Châu, Giáo sư Gustave Meillon, Ban Ðạo Sử Cao Ðài, Thư Viện Cao Ðài tại Pháp đã bảo trợ tinh thần, tư liệu tham khảo và vật chất cần thiết trong lúc biên khảo, với lòng chân thành nầy chúng tôi xin cầu nguyện Chí Tôn và Phật Mẫu chan rưới phép lành đến khắp cùng quý vị và bạn đọc xa gần như ý .

Mùa Ðông Paris 1990

Huỳnh Tâm

Cao Ðài Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm

28/10/1914 - Ðức Hộ Pháp ở buổi xuân thời thường giao tiếp với Phan bội Châu, Phan châu Trinh, Lê văn Trung, Cao quỳnh Cư, Cao hoài Sang, Thuần Ðức (Nguyễn trung Hậu), Trương hữu Ðức, Lương khắc Ninh và Gibert Chiếu và Người liên giao toàn khối Văn học Nghệ thuật Nam-Bắc đồng suy tư tìm sinh lực đổi mới cho quê hương, xứ sở.

Người thân thương mọi giới qua tinh thần bao dung và văn học nghệ thuật được nhân sĩ toàn quốc kính trọng như một hiền sĩ đương thời yêu nước.

Người theo năm tháng trăng trở nhìn về phía trước viễn cảnh của đất nước Việt Nam vì độc lập và tự trị, những nhịp cầu lương tâm ấy mở ra chân trời như tiếng gọi giao lưu thúc dục con dân đất Việt đi tìm hạnh phúc cho toàn dân và phát triển xứ sở thịnh vượng, từ ấy những suy tư ngồi lại như thời hàn vi của Ngô Ðình Diệm thường vấn an Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, ngày Ngô Ðình Diệm lên ngôi Thủ Tướng lập ra chế độ kỳ thị Tôn giáo.

26/7/1915 - Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc trong buổi đương thời Pháp thuộc vẫn như mọi công chức khác thuyên chuyển đi làm việc tại Hưng Thạnh, Qui Nhơn Trung Kỳ. Ðất Qui Nhơn đoán nhận khí thế sinh anh hùng nhập cuộc, cửa ngỏ giao lưu nhân sĩ miền Trung từ Bình Thuận cho đến Nghệ An, những Chí sĩ miền Trung nung đúc cách mạng dân tộc đang vươn mình.

Người từ Nam ra Trung như lời kêu gọi của Tổ Quốc, hợp thành tầng lớp thanh niên Tây học nhiệt huyết để tìm một định chế cho tương lai xứ sở. Tại Qui Nhơn Ngài cùng những nhân sĩ miền Trung đẩy mạnh khai tử nạn mù chữ, lập ra hội khuyến học bảo trợ xây dựng trường sở, mở thêm lớp học đêm và ngày nâng cao dân trí, khuyến khích phát triển kinh tế mở rộng cơ sở kinh doanh phục vụ dân sinh.

Ngài cùng đứng tên nhiều tờ báo và thành lập Văn Ðàn Thi Xã tại Qui Nhơn, mượn môi trường văn học nghệ thuật làm đất chiêu hiền đãi sĩ và tìm những đồng thuận để khai phóng quê hương đổi mới, cùng dung hợp Ðông-Tây hòa nhứt để trở mình khỏi ách đô hộ ngoại bang, tinh thần Nho sĩ Tây học bột phát tại miền Trung cao độ, như quy hội về Trường Sơn, Triều đình nhà Nguyễn để mắt bất đồng, Chính quyền Pháp thuộc ra tay đàn áp tàn bạo trí thức miền Trung yêu nước.

11/4/1928 - Ðức Hộ Pháp thế đời hành Ðạo đem hết tất lòng và khả năng truyền giáo xây dựng nền đạo, tín đồ nhập môn cầu đạo mỗi lúc mỗi đông, chính quyền thuộc địa Pháp xem Ngài như một trở ngại lớn cho sự đô hộ tại Việt Nam. Lúc ấy Ngô Ðình Diệm cũng từ quan bỏ triều đình nhà Nguyễn, để đi tìm giải pháp mới cho Việt Nam.



Hộ Pháp Phạm Công Tắc và hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu

12/01/1950 - Ngô Ðình Diệm gia nhập tổ chức chính trị Mặt Trận Quốc Gia do cựu Thủ Tướng Bác sĩ Lê Văn Hoạch sáng lập và lãnh đạo, nguyên là một tín đồ Cao Ðài, ở thời điểm nầy ông Ngô Ðình Diệm rất mật thiết với đạo Cao Ðài.

27/02/1950 - Sinh viên Ðỗ Vạn Lý tín đồ đạo Cao Ðài du học tại Hoa Kỳ, đón tiếp và giới thiệu Ngô Ðình Diệm với Quốc Hội Hoa Kỳ, Sinh viên Ðỗ Vạn Lý qui tụ được sinh viên Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ và một số sinh viên Chính quốc tiếp xúc Ngô Ðình Diệm.

Sau ấy Ngô Ðình Diệm được đức Hồng y Spellman bảo trợ và đề nghị với Chính phủ Hoa Kỳ tổ chức đưa Ngô Ðình Diệm về Việt Nam thay thế Bảo Ðại.

27/3/1950 - Ðức Hộ Pháp hội đàm cùng với Hoàng đế Bảo Ðại tại Ðà Lạt về tình hình đất nước đang chuyển mình vào thế không thuận cho tương lai Việt Nam .

Người có đề nghị cùng Hoàng đế Bảo Ðại, thành lập một Chính phủ có nhiều thành phần và Ngô Ðình Diệm cũng được đề nghị trong danh sách ấy.

29/03/1950 - Quốc Trưởng Bảo Ðại ủy quyền cho Ðức Hộ Pháp đến Nam Vang Hội nghị an ninh Việt-Miên.

Thông cáo chung: Dành mọi đặc quyền và ưu đãi cộng đồng Việt kiều như những cộng đồng kiều dân khác đang sinh sống trên đất nước Cao Miên. Hai dân tộc Việt-Miên đồng quyền Tự do Tín ngưỡng không phân biệt Tôn giáo, ổn định biên giới và bang giao mật thiết.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cũng nhân dịp nầy ngõ lời giới thiệu với Hoàng đế Cao Miên về thân thế của Ngô Ðình Diệm, Hoàng đế Cao Miên rất hoan hỉ cảm tình Ngô Ðình Diệm từ ấy.

18/10/1950 - Ðức Hộ Pháp ra miền Bắc hội đàm cùng các nhà lãnh đạo tinh thần Tôn giáo tại Hà Nội như: Ðức Giám mục Lê Hữu Từ, Thượng Tọa Thích Tâm Châu và các đảng phái chính trị, để tìm giải pháp cho Việt Nam. Tại Thánh thất Hoàn mã Hà Nội, Ðức Hộ Pháp ban phép lành dạy toàn đạo và Chức sắc lấy tình thương yêu, hòa thuận để vượt qua những biến cố thử thách và đất nước sẽ biến đổi vào những năm kế tiếp, tín đồ Cao Ðài Hà Nội ghi nhớ lời vàng thước ngọc không quên lời Tiên tri của Người.

Cũng ở dịp nầy Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc hội đàm với Linh mục Lê Hữu Từ và Người để lời khen ngợi Ngô Ðình Diệm.

1954 Linh mục Lê Hữu Từ vào Nam cũng kể lại cho Ngô Ðình Diệm biết về những mẫu chuyện trao đổi với Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại Hà Nội và Linh mục có lời khuyên Ngô Ðình Diệm không nên phụ Người (Ðức Hộ Pháp) .

Sau nầy Ngô Ðình Diệm quên lời dạy bảo của Linh mục Lê Hữu Từ “Không nên phụ lòng Người”, nhưng Ngô Ðình Diệm đổi lòng thành ra “Nên phụ lòng Người”.

27/05/1953 - Tại Sài Gòn mở ra Hội nghị Ðoàn kết Ðộc lập Hòa bình cho Việt Nam, do Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh tích cực tổ chức để tìm những giải pháp thiết thực mưu cầu hạnh phúc toàn dân và phổ biến lập trường của nhân dân Việt Nam vì tự do, độc lập, để chuẩn bị vận động cho Thủ tướng Ngô Ðình Diệm về nước

20/6/1953 - Ngô Ðình Diệm đến Belgique (Bỉ quốc) cư ngụ tại xứ đạo Mons, để chuẩn bị yết kiến Quốc Trưởng Bảo Ðại, thời điểm nầy Ngô Ðình Diệm tranh thủ tìm mọi hậu thuẫn của các chính giới trong và ngoài nước tại Âu châu.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc kêu gọi Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Ðài Âu Châu tạo mọi điều kiện để Ngô Ðình Diệm tiếp xúc với Quốc Hội và Chính phủ Pháp quốc.

10-27/10/1953 - Ðức Hộ Pháp đại diện Ðức Quốc Trưởng Bảo Ðại triệu tập hội nghị toàn quốc tại Sài Gòn nhằm tiếp ứng tình hình mới Việt Nam hậu Pháp thuộc, có các Tôn giáo và đảng phái chính trị đồng thuận xây dựng một Việt Nam tương lai như: Cao Ðài, Hòa Hảo, Ðại Việt, Việt Quốc và có các ông Ngô Ðình Nhu, Nguyễn Xuân Chữ v.v…

28/5/1954 - Vào lúc 18 giờ 30 tại điện Elysées, Bộ Trưởng Ngoại giao ông Mecheri tiếp đón phái đoàn Cao Ðài dưới sự hướng dẫn của Ðức Hộ Pháp trong nghi lễ Quốc khách, thảm nhung danh dự hướng vào sảnh đường điện Elysées. Tổng Thống Pháp René Coty và Thủ Tướng Laniel bắt tay chào mừng Ðức Hộ Pháp và đoàn tùy tùng.

Hội nghị ra thông cáo chung đồng thuận tìm một giải pháp Việt Nam tự trị.

29/5/1954 - Vào lúc 17 giờ tại Hôtel Georges V Paris, Ðức Hộ Pháp mở cuộc họp báo dành riêng cho báo giới và ký giả phỏng vấn về tôn giáo Cao Ðài và tình hình Việt Nam hiện tại cũng như trong tương lai, sau cùng Ngài dùng thời gian đi thăm gia đình và viếng mộ phần đại văn hào Victor Hugo “tức Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn” tại điện Panthéon và yết kiến Quốc Trưởng Bảo Ðại.

5/6/1954 - Toàn đạo tổ chức ngày sinh nhựt Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc hưởng thọ 60 tuổi “Lục tuần” tại Hộ Pháp Ðường. Có trên 60 Ðại sứ khắp nơi trên thế giới đến Tòa Thánh Tây Ninh để chúc thọ Ðức Hộ Pháp và chụp hình chung lưu niệm.

Nhân ngày lễ Lục tuần Ðức Hộ Pháp gửi đến các Ðại sứ một thông điệp kêu gọi “Nhân loại hãy hướng về thế giới vì Công bình, hạnh phúc và hổ trợ cho Việt Nam sớm được độc lập”. Lời kêu gọi của Người được các Ðại sứ tiếp nhận và hưởng ứng .

Cùng ngày Thần Học Quốc Tế và Thông Thiên Học Quốc Tế đồng tiếp nhận đức tin Cao Ðài được vào chương trình truyền thông Quốc Tế và Tòa Thánh nhận điện văn chúc thọ của Ngô Ðình Diệm gửi đến Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc .

10/6/1954 - Ðức Hộ Pháp đến Ðiện Thorène yết kiến cùng Quốc Trưởng Bảo Ðại và có sự tham dự quý ông Ngô Ðình Diệm, Phó Thủ Tướng Nguyễn Trung Vinh, Tổng Trưởng Tài Chánh Dương Tất Tài, Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân, Dương Hồng Chương và Ðỗ Hùng…

15/6/1954 - Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc hội kiến cùng quốc Trưởng Bảo Ðại và Ngô Ðình Diệm tại điện Thorène, về những sự kiện đất nước chuyển biến trong hội nghị Genève.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Cố vấn Quốc Trưởng Bảo Ðại, đề nghị trao quyền cho Ngô Ðình Diệm làm Thủ tướng và được Quốc Trưởng Bảo Ðại chấp thuận để cho Ngô Ðình Diệm về nước toàn quyền thành lập chính phủ.

Quốc Trưởng Bảo Ðại khuyên nhủ Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm rằng: “Ông hãy hợp nhứt các giáo phái vào cộng đồng Quốc gia, thống nhứt phần đất còn lại của chúng ta”.

Và Quốc Trưởng Bảo Ðại ký cho Ngô Ðình Diệm ngân phiếu Một triệu đồng bạc để tổ chức những cuộc biểu tình tự phát, Ngô Ðình Diệm cằm chi phiếu cảm ơn và tâu: “Bẩm Hoàng Thượng nếu khi nào Ngài thấy tôi có lỗi, Ngài chỉ nói một lời là tôi từ chức ngay”.

Và Quốc Trưởng Bảo Ðại đề nghị với Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc: “Nhờ Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc về Việt Nam huy động Tín đồ Cao Ðài và toàn dân đón tiếp ông Ngô Ðình Diệm”.

26/06/1954 - Ngô Ðình Diệm về nước để chấp chánh quyền Thủ Tướng, sau nầy là nền Ðệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam theo thể thức dân cử phổ thông đầu phiếu, cùng ngày Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và phái đoàn Cao Ðài thay mặt Quốc Trưởng Bảo Ðại chuẩn bị đến Genève tham dự Hội nghị Quốc tế chia hai miền Nam-Bắc đất nước Việt Nam thành hai khối Cộng sản và Quốc gia.

13/7/1954 - Thủ Tướng Pháp Quốc ông Laniel tiếp Ðức Hộ Pháp tại điện Matignon bởi tình thân hữu và Thủ Tướng Pháp rất cảm kích đức tin Cao Ðài từng soi sáng những tấm lòng hy sinh phụng sự nhân loại.

Trong buổi tiếp kiến với Thủ Tướng Laniel, đức Hộ Pháp thừa dịp giới thiệu Ngô Ðình Diệm hầu gây cảm tình với Chính phủ Pháp, nhằm mở đường thuận lợi cho sự bang giao sau nầy của Chính phủ Ngô Ðình Diệm.

15/7/1954 - Ðức Hộ Pháp cùng phái đoàn Cao Ðài đến Thụy Sĩ, do Cựu Hoàng Bảo Ðại ủy quyền dự Hội nghị Genève. Tại Hôtel Régina là nơi làm việc của phái đoàn Cao Ðài và văn phòng Ðức Hộ Pháp mở cửa trên 24/24 giờ hầu tiếp đón các phái đoàn cũng như những dữ kiện lịch sử Việt Nam phát ra từ Genève, tại đây phái đoàn Cao Ðài có nhiệm vụ dung hòa và kêu gọi đôi bên VNDCCH và VNCH hãy hy sinh quyền lợi phe phái để ngồi lại tự mình giải quyết cho dân tộc hòa bình, tránh cảnh chiến tranh chia đôi Dân tộc, đức Hộ Pháp không muốn lịch sử dân tộc Việt Nam lập lại lần thứ hai như Trịnh-Nguyễn .

Phái đoàn Cao Ðài đứng trước Liên Hiệp Quốc làm chứng nhân lịch sử Việt Nam. Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thay mặt toàn dân Việt Nam làm quan sát viên hội nghị Genève về Việt Nam, Người kêu gọi hội nghị hãy vì Tự do, Hòa Bình và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.

Ông Phạm văn Ðồng trưởng phái đoàn VNDCCH, Bác sĩ Trần Văn Ðỗ trưởng phái đoàn VNCH, cả hai không đồng thuận để ngồi lại tự giải quyết lợi ích chung vì Việt Nam . Vì lẽ bất đồng ý thức hệ đưa đất nước phải chia đôi, vĩ tuyến 17 làm phân ranh hai miền Nam-Bắc.

Phái đoàn đạo Cao Ðài và phái đoàn VNCH cùng một vị trí, đối diện với phái đoàn VNDCCH, trong Hội nghị quốc tế Genève đình chiến Việt Nam. Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thay mặt Quốc Trưởng Bảo Ðại và toàn dân tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc: “Nếu Việt Minh và Pháp tuân lịnh ngoại bang chia nước Việt Nam làm hai mà không có sự chấp thuận của toàn dân Việt Nam thì Bần đạo chống cả hai hết”.

Lời tuyên bố cương quyết vì thương yêu dân tộc Việt Nam vô bờ bến của Ðức Hộ Pháp, nay vẫn còn lưu trữ tại thư viện Liên Hiệp Quốc Genève .

18/7/1954 - Ðức Hộ Pháp mở cuộc họp báo tại Genève vào lúc 17 giờ với sự hiện diện cả hai phái đoàn VNDCCH, VNCH, các Ðại sứ tại Liên Hiệp Quốc và phóng viên ký giả quốc tế . Người kêu gọi thế giới tạo mọi điều kiện cho Việt Nam sớm được Ðộc lập .

20/7/1954 - Genève, Hiệp định đình chiến Việt Nam chính thức chia đôi từ vĩ tuyến 17 thành hai vùng ảnh hưởng, miền Bắc do khối Cộng sản Nga cầm quyền, miền Nam do khối tư bản Mỹ chi phối. Genève đánh dấu một khúc quanh lịch sử Dân tộc Việt Nam chia đôi đất nước, phái đoàn Cao Ðài làm hết sức mình để kết hợp và dung hòa nhưng sự cố chấp và chia để trị đã đè nặng quê hương khắc khoải bởi hai khối quyền lợi vị kỷ, họ từ chối quyền sống làm người và tinh thần dân tộc Việt Nam Lạc Hồng trên 5000 năm văn hiến.

Biến cố Genève, Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc và toàn đạo Cao Ðài để hết tất lòng cho sự độc lập Việt Nam. Lời Tiên tri của Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại Genève như sau: “Hôm nay là ngày khởi đầu cho nội chiến, rồi đây dân tộc Việt Nam sẽ nghèo khó nhứt trên thế giới bởi không có thời gian để phát triển đất nước, lẽ ấy chúng ta là con dân đạo phải hy sinh vì dân tộc mà không hổ với Tổ Tiên”.

Ðình chiến hai miền Nam-Bắc Việt Nam được ấn ký chưa ráo mực bắt đầu trầm mình vào nội chiến Huynh-đệ tương tàn chồng chất triền miên .

10/08/1954 - Tướng Hoa Kỳ Lansdale cố vấn cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, đến núi Bà Ðen thuyết phục tướng Trịnh Minh Thế quân đội Cao Ðài Liên Minh và hối lộ các cấp chỉ huy lực lượng võ trang quân đội Cao Ðài, cùng lúc tướng Lansdale sử dụng tiền bạc mua được tướng Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Văn Thành về hợp tác với Ngô Ðình Diệm.

19/08/1954 - Ngô Ðình Diệm cũng cố địa vị ra tay tiêu trừ các thế lực tạm chung sống và mượn hoàn cảnh đương thời để cho kế sách âm mưu chiếm đoạt lòng yêu nước của toàn dân và khai trừ những nhân sĩ yêu nước đã từng chia sẻ và tạo ra Ngô Ðình Diệm.

12/10/1954 - Ðức Hộ Pháp đến Tokyo (Nhật) rước di hài của Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể (qui danh Nguyễn Phúc Vân, đích tôn của Ðông Cung Cảnh) về nước ngày 20/10/1954, theo như di ngôn của Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể ủy nhiệm cho Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc và toàn đạo Cao Ðài đem di hài về Tòa Thánh Tây Ninh hương khói.

Chính phủ Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, Tín đồ Cao Ðài và hai người con của đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể, ra sân bay Tân Sơn Nhứt đón rước di hài theo nghi lễ Hoàng Gia.

Di hài đến Sài Gòn được quàn tại đền thờ Ðức Tổ Hùng Vương 3 ngày để đồng bào, nhân sĩ, những Ðại sứ ngoại giao đoàn và Chính phủ đến tưởng niệm vị anh hùng vong thân, sau 3 ngày dưới sự hướng dẫn của Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm cùng tháp tùng di linh hài Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể về Tổ đình Tòa Thánh Tây Ninh thờ phụng tại Báo Quốc Từ .

29/01/1955 – 08/02/1955 - Lễ Khánh Thành Tòa Thánh Tây Ninh.

Chương trình khánh thành Tòa Thánh trong 12 ngày có trên 950.000 Tín Ðồ về dự lễ và trên 120.000 quan khách cùng tham dự, Nội ô Tòa Thánh cũng như 18 phận đạo ngày đêm tấp nập, chưa kể tín hữu và người dân Tây Ninh tham dự, 21 trai trường đón tiếp từ 6 giờ sáng, cứ 15 phút có một hiệp trên 1.500 người ăn cơm cho đến 20 giờ đêm mới chấm dứt .

31/01/1955 - Tại Ðại Ðồng Xã trước Ðền Thánh là nơi cử hành chánh lễ Khánh thành Ðền Thánh, bề ngang 10 thước, bề dài 40 thước, hai khán đài nam và nữ, mỗi khán đài chứa trên 1.000 người, hết chỗ chen chân. Phía trước khán đài danh dự, ngoài Ðức Hộ Pháp còn có Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, Ðại sứ các Quốc gia và Ðại diện của các Tôn Giáo, ở phía dưới là khán đài của Chức Sắc Cửu Trùng Ðài, Hiệp Thiên Ðài, Hội Thánh Phước Thiện Tòa Thánh Tây Ninh, Chức sắc các Chi Phái, Chức sắc các Tông Ðạo, Hội Thánh Ngoại Giáo về tham dự cùng các Bộ phủ Chính quyền nhà nước cũng như các chính giới trong và ngoài nước Việt Nam, ngoài ra còn có một khán đài dành riêng cho các cơ quan báo chí khắp nơi loan tin và tường thuật, Ðạo hữu đứng hai bên trong và ngoài rừng thiên nhiên, cũng như các cửa lộ dẫn vào Tòa Thánh.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đọc diễn văn: “Ðến lúc Bần Ðạo cần cho Thế giới hiểu rõ uy tín của đạo Cao Ðài cả về phẩm lẫn lượng đặc điểm là cho các nước hiểu quyền năng Ðức Chí Tôn trong kỳ hỗn loạn nầy, để mong rằng nhơn-loại nên hướng về hạnh phúc chung bớt sự tương tàn, tương sát lẫn nhau !”.

Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm đọc diển văn . “Ðức tin Việt Nam sẽ đến với nhân loại như một hoài bảo canh tân xã hội hoàn toàn mới”. “Hôm nay là ngày khánh thành Tòa Thánh để đánh dấu nền tảng Tôn giáo của Việt Nam, tôi xin chúc mừng Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh đã cho tôi một vinh dự nầy và tôi xin kêu gọi toàn đạo hỗ trợ cho Chính phủ để kiến tạo đất nước, như trước đây toàn đạo đã từng hỗ trợ cho Chính phủ”.

07/02/1955 - vào lúc 0 giờ Ðức Hộ Pháp cắt dây băng trấn thần Ðền Thánh, toàn đạo khởi hành Ðại lễ vinh danh Ðức Chí Tôn cùng Tam giáo.

Bãi đàn Ðức Hộ Pháp tuyên bố cùng với Ngô Ðình Diệm: “Trong lúc hỗn loạn nầy, số phận hẩm hiu nhứt là các dân tộc nhược tiểu. Thế giới hiện nay có hai chủ trương: Một bên lấy võ-lực làm căn bản, một bên đem tiền tài để huy động khắp nơi.

Nhưng ta không sợ. Bằng võ-lực: Ta có thể hợp sức nhiều nước để chống lại. Bằng tiền-tài: Ta có thể không mắc mưu, nếu ta không ham lợi. Nói tóm lại chỉ có thống nhứt tinh thần mới có thể thoát khỏi tai-họa hữu hình, mà chỉ có thống nhứt tôn giáo mới thống nhứt nổi tinh thần. Vậy con cái Ðức Chí Tôn phải đồng tâm hiệp lực để Ðạo được mau tiến triển để làm tròn phận sự một công dân của một quốc gia, một hiếu tử của Ðức Cha-Lành”.

11/02/1955 - Tướng Trịnh Minh Thế phong cấp quân hàm cho Hồ Ðức Trung và Nguyễn Văn Ðờn lên Thiếu tá chuẩn bị về Sài Gòn đầu hàng Ngô Ðình Diệm và Tướng Trịnh Minh Thế đến Trí Huệ Cung xin ý kiến Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cùng mời Người về Sài Gòn để dự lễ Quốc Gia Hóa Quân Ðội Cao Ðài. Người tiên tri trước rằng: “Qua không thể nào ngồi chứng kiến cái chết của các con, tùy ý các con định liệu”.

13/02/1955 - Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm đọc diển văn khai mạc lễ Quốc gia hóa quân đội Cao Ðài Liên Minh (CĐLM) chính thức sát nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm gắn quân hàm Thiếu Tướng cho Trịnh Minh Thế.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc âu lo cho đàn con mất tổ và Ngài phán rằng: “Vô Phương hết Thế không Thành”. Lời Tiên tri 78 ngày sau:

– Trung Tướng Nguyễn thành Phương bị sa thải ra khỏi quân đội Quốc gia, vì kế hoạch bội nghĩa của Ngô Ðình Diệm đã kết thúc qua hồ sơ bản án “Trung tướng Nguyễn Thành Phương tàng trữ xe hơi”, từ ấy Diệm-Phương thành hai kẻ bội phản không cùng một chiến tuyến để đối diện với Cộng sản, Nguyễn Thành Phương tự đầu quân vào Bình Xuyên để đối kháng với Ngô Ðình Diệm .

– Thiếu Tướng Trình Minh Thế bị tử trận oan uổng và bí mật tại dạ cầu Tân Thuận Sài gòn, bởi viên đạn đi vào từ tai trái xuyên qua mắt phải.

– Trung Tướng Nguyễn văn Thành bị cách chức đày đi Côn Ðảo.

Triều đại nhà Ngô không chấp nhận ngồi chung ba tướng Phương, Thế, Thành.



Tướng Trịnh Minh Thế (1922-1955), Thiếu tướng trong Quân dội Cao Đài – “bị tử trận oan uổng và bí mật” tại cầu Tân Thuận, Sài Gòn.

03/05/1955 - Ngô Ðình Diệm ra tay lấy trước mạng Thiếu Tướng Trịnh Minh Thế tại dạ cầu Tân Thuận, sau 78 ngày trên cầu vai quân hàm Thiếu tướng, hưởng dương 33 tuổi. Truy phong Trung tướng, xác quàn tại Tòa Ðô Chính Sài Gòn và được tổ chức quốc táng, Ðại tá Văn Thành Cao đọc điếu văn với hàng nước mắt thương tiếc cho người vắng số, chính trị muôn mặt kẻ đọc điếu văn chính là danh thủ, chỉ một viên đạn trúng tai trái xuyên vô mắt phải, vào lúc 03 giờ 15 phút chiều, Ngô Ðình Diệm thăng thưởng chiến công quân hàm Ðại tá cho danh thủ Văn Thành Cao tại dinh Ðộc Lập.

Trong những ngày tang chế, linh cửu của Thiếu tướng Trịnh Minh Thế còn quàn tại Tòa Ðô Chính, lời phu nhân cố Thiếu tướng Trịnh Minh Thế, bà Nguyễn Thị Kim đau khổ ôm xác chồng trong tuyệt vọng thống thiết và tiết lộ: “Phải chi ông nhà tôi đừng nghe lời xúi biểu của ông Nhị Lang thì hôm nay đâu có xẩy ra nông nỗi nầy”, và “nếu như ông nhà tôi vâng lời theo Thánh ý của Ðức Hộ Pháp thì hẳn không vắng số như hôm nay” .

Sau cái chết của Thiếu Tướng Trịnh Minh Thế, Ngô Ðình Diệm chỉ thị cho Trần Kim Tuyến khai thác hồ sơ và những hành vi hai mặt bội phản CÐLM của Nhị Lang như sau:

“1/ Nhị Lang tự ý thay mặt Thiếu tướng Trịnh Minh Thế đến Vũng Tàu họp mật với Bảy Viễn.

2/ Nhị Lang tự ý thay mặt Thiếu tướng Trịnh Minh Thế xuống Cái Vồn họp mật với Năm Lửa.

3/ Nhị Lang tự ý họp mật với Lâm Thành Nguyên ở Sài Gòn “tự Ba Cụt”.

4/ Nhị Lang tự ý đại diện Thiếu tướng Trịnh Minh Thế ký vào “Tối hậu thư” buộc Ngô Ðình Diệm phải thi hành theo những điều kiện của C.D.L.M.”

Kế sĩ gian phi tạo ra 04 dữ kiện trên để cho mối đa nghi từ Ngô Ðình Nhu ra tay ám sát Trung tướng Trịnh Minh Thế và Ngô Ðình Diệm, chưa kịp vung lưới bắt Nhị Lang quân sư phù thủy phản bội CDLM đã tẩu thoát đến Cao Miên ngày 18/02/1956, tiếp tục ăn cơm đạo Cao Ðài và sau đó bội phản đạo Cao Ðài lần cuối vào năm 1975.

28/04/1955 - Ngô Ðình Diệm thành lập Hội Ðồng Nhân Dân Cách Mạng truất phế Bảo Ðại tại Tòa Ðô Chính Sài Gòn. Mượn tay các Tướng lãnh Cao Ðài truất phế Bảo Ðại như Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, Trịnh Minh Thế, Hồ Hán Sơn và các tướng Nguyễn Văn Vỹ, Lê Văn Tỵ. Tướng Nguyễn Văn Vỹ tuyên bố trên đài phát thanh:


“1/ Tôi nhất định không nhìn nhận quyền hành của Bảo Ðại, bởi vì tôi nhận thấy phong trào cách mạng là đúng với chính nghĩa.

2/ Tôi hoàn toàn chấp nhận những nghị quyết Đại hội Nhân dân Cách mạng đã biểu quyết trong phiên nhóm hôm 29/04/1955. Tuyên bố truất phế Bảo Ðại và toàn chế độ thực dân Pháp.

3/ Tôi không nhận đặc ân của Bảo Ðại ban bố cho tôi.

4/ Tôi tình nguyện và nhất định ở lại dinh Ðộc Lập và tôi sẵn sàng hiến mình cho chính phủ lâm thời thành lập nay mai và cho Ủy Ban Cách Mạng sử dụng.

Bức thư nầy do chính tay tôi viết đúng theo tư tưởng của tôi trước Tổ quốc, tôi yêu cầu được phổ biến bằng báo chí và đài phát thanh.

Ký tên

Nguyễn Văn Vỹ”

Kế hoạch của Ngô Ðình Diệm mượn tay các tướng lãnh, tiểu trừ ảnh hưởng Bảo Ðại trong chính quyền mới, Ngô Ðình Diệm đứng ngoài Hội Ðồng Truất phế Bảo Ðại để không mang tiếng bội nghĩa

17/05/1955 - Sau khi Ngô Ðình Diệm tiểu trừ được Tướng Nguyễn Văn Hinh và quân đội Bình Xuyên, miền Nam không còn những đối đầu quân sự ngôi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm được ổn định và ông chuẩn bị chính sách khủng bố đảng phái và các Tôn giáo như: Cao Ðài, Phật Giáo, Hòa Hảo và nhân sĩ yêu nước. Khởi đầu cho chính sách, Ngô Ðình Nhu hạ thủ Ðại Tá Hồ Hán Sơn tại Tây Ninh .

20/08/1955 - Ngô Ðình Diệm lập mưu đồ cho Nguyễn Văn Thành lật đổ quyền Tổng Tư Lệnh quân đội Cao Ðài của Trần Quang Vinh.

Nguyễn Văn Thành nắm quyền Tổng Tư Lệnh liền tổ chức phản loạn và thanh trừng nội bộ.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thu quyền của Nguyễn Văn Thành và giao cho Ðại Tá Lê Văn Tất.

Nguyễn Thành Phương mượn quân đội Liên Minh của Trịnh Minh Thế mưu gian ác khủng bố ám sát Ðại tá Lê Văn Tất, buộc nhường quyền cho Nguyễn Thành Phương, bất chấp tuân lịnh của Hội Thánh .

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc nhận định tình thế quân đội Cao Ðài không làm tròn sứ mạng vì Ðạo-Ðời đúng nghĩa-vụ và danh dự, để Ngô Ðình Diệm giựt dây nội bộ chia rẽ, Ðức Hộ Pháp không hài lòng những việc làm của Trung tướng Nguyễn Thành Phương, Thiếu Tướng Trịnh Minh Thế và Tướng Nguyễn Văn Thành bởi tự ý về Sài Gòn cộng tác với Ngô Ðình Diệm để rồi rơi vào kế sách phản bội, Ngô Ðình Diệm chiến thắng rực rỡ kế sách Quốc gia hóa quân đội Cao Ðài, các Tướng lãnh Cao Ðài Liên Minh thất trận chính trị và tan vỡ tại Sài Gòn.

Ngô Ðình Diệm mượn danh thủ Ðại tá Văn Thành Cao và Ðại úy Quy điều động các đơn vị Cao Ðài Liên Minh về Tây Ninh khủng bố, phong tỏa Tòa Thánh, bắt giam Chức sắc Thiên Phong và Tín đồ cùng bao vây Hộ Pháp Ðường, để chặn lối đối đầu của những tiểu đoàn Cao Ðài không chấp nhận Quốc gia hóa và thị uy như một thông cáo nhằm thách đố đạo Cao Ðài .

02/09/1955 - Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm chỉ thị kế hoạch của Ngô Ðình Nhu cho Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Cao Ðài Nguyễn Thành Phương ra sức tăng cường, bao vây siết chặt Nội ô Tòa Thánh Tây Ninh và thành lập Ủy Ban Thanh Trừng, bắt Chức sắc, Tín đồ giam cầm và bắt tín đồ Nữ phái câu lưu tra tấn ép buộc khai theo hồ sơ ngụy tạo nội dung nhiều điều khiếm nhã cho Ðức Hộ Pháp, bao vây Hộ Pháp Ðường cầm tù lỏng Ðức Hộ Pháp cho đến 16/2/1956.

Bởi Ngô Ðình Diệm tối mắt nghe lời sàm tấu của những bầy tôi nịnh thần, sợ đạo Cao Ðài có nhiều ảnh hưởng trong xã hội, với tính phán đoán cực kỳ đa nghi của Ngô Ðình Nhu, nhà Ngô đã quên lúc thăng trầm đời áo vải để quyết định bắt Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vì Người là chứng nhân hiểu rõ Ngô Ðình Diệm đã một thời van xin quì lạy trợ lực vật chất và tinh thần để về cầm quyền Việt Nam, nay Ngô Ðình Diệm trở giáo phất cờ bao vây Tòa Thánh, bắt Chức sắc, Tín đồ Cao Ðài cầm tù tra khảo không luật pháp và cấm phổ truyền đức tin Cao Ðài, sự kiện nầy còn gọi là (“biến cố Ngô Ðình Diệm”).

Ngài Linh Mục Cao văn Luận viết rằng: “Ðạo Cao Ðài hỗ trợ cho Ngô đình Diệm về nước lập chánh phủ và đạo Cao Ðài đã nuôi Ngô Ðình Diệm sống những ngày tháng tại Hoa Kỳ và tại Paris v.v… Sau khi Ngô Ðình Diệm được chính quyền trong tay quên nhân nghĩa ấy”

Trước tình thế phản bội của anh em Ngô Ðình Diệm đối xử với đạo Cao Ðài không còn lễ nghĩa nên Phó chủ tịch Hội đồng Hồ Hán Sơn lui về Tây Ninh và sau đó bị giết một cách rất bí mật do chính tay Ngô Ðình Nhu mua chuộc tướng Nguyễn Thành Phương và Ngô Ðình Diệm trả mọi chi phí để cho Nguyễn Thành Phương bao vây Tòa Thánh.

Kế hoạch Diệm dùng Nguyễn Thành Phương kết thúc, lực lượng võ trang Cao Ðài đã hoàn toàn quốc gia hóa và Diệm-Nhu nghinh tiếp Nguyễn Thành Phương với một giá rất rẻ Phó Thủ Tướng không ngai vào lao lớn Chí Hòa được tra tấn và cho ra đời một thân tàn danh liệt suốt kiếp, lịch sử đã chứng minh kẻ bội phản được phán xét dưới mặt trời công bình.



Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương, Tư lệnh Nghĩa binh Cao Đài,đọc diễn văn quy thuận chính phủ (Ảnh chụp 7-5-1955 / Nguồn: RFA)

23/10/1955 - Ngô Ðình Diệm tự ý phản bội truất phế Quốc Trưởng Bảo Ðại bằng trưng cầu dân ý, chấp chính lên làm Tổng Thống lập nền Ðệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam đầu tiên tại miền Nam, trên danh nghĩa miền Nam thanh bình và có vị Tổng Thống anh minh.

Chính thể nền Cộng Hòa miền Nam lại mở ra sự bất ổn mới để quên đi những nhân sĩ đã từng ủng hộ Ngô Ðình Diệm lên làm Tổng Thống, một triều đại mới thể hiện khả năng Ngô chí sĩ độc thoại yêu nước cô đơn, bởi gia đình trị đứng trên cao cả dân tộc và chính thể Cộng Hòa thiết lập chế độ độc tôn, làm mất năng tính của một vị Tổng Thống anh minh và tự nó buộc vào vắng bóng Nhân sĩ.

Lòng dân bắt đầu bất tín Ngô Ðình Diệm và đến lúc không tha thứ một chế độ cai trị đất nước tan rã trầm trọng như:

– Bội phản tinh thần Nhân sĩ của buổi ban đầu thành lập nền Ðệ nhứt Cộng Hòa và các tín ngưỡng Việt Nam, đảng phái yêu nước.

– Thất nghĩa với đức tin Cao Ðài và đồ mưu sách động quật mồ Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể tại Thánh Ðịa Tây Ninh.

– Không thi hành những điều khoản đã hứa với nhân dân và ám sát Thiếu Tướng Trịnh Minh Thế.

– Ngô Ðình Diệm phản bội lòng tin yêu nước của Ðức Ngự Mã Thiên Quân “Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

– Ngô Ðình Diệm thanh trừng MTTNTLQG tại dinh Ðộc lập, để lập triều đại gia đình trị và Cần-La .

– Ngô Ðình Diệm mướn bồi bút H. Hoài Hương, viết thiên phóng sự dài hạng trên nhựt báo Dân Nguyện với giá 1.200.000 đồng, nhằm mục đích bôi đen uy tín Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đang lưu vong tại Nam Vang.

16/11/1955 - Ngô Ðình Diệm đề bạt danh thủ Văn Thánh Cao làm chỉ huy trưởng chiến dịch miền Ðông, nhằm trong kế hoạch “Cao Ðài trừ Cao Ðài” phong tỏa Tòa Thánh Tây Ninh.

Cùng ngày Ngô Ðình Diệm thăng quân hàm cho danh thủ lên cấp Thiếu tướng chỉ huy CÐLM thay Thiếu tướng Trịnh Minh Thế.

14/02/1956 - Ngô Ðình Diệm ra lịnh cho Trung Tướng Nguyễn Thành Phương bao vây Tòa Thánh Tây Ninh và thanh trừng nội bộ các Tướng Tá trong quân đội Cao Ðài còn trung thành với Ðạo, như Thiếu tướng Lê Văn Tất, Ðại úy Vui, Trung úy Khoa, Trung tá Phú, bị thanh trừng nên các vị tướng lãnh đành phải rời Tòa Thánh, vượt biên lưu vong tại Cao Miên.

Thánh thất Kim Biên, Trấn đạo Tần Nhơn là nơi cư ngụ tạm thời của quân sĩ lưu vong.

16/02/1956 - Ðức Hộ Pháp không thể để cho cảnh đồng đạo tương tàn buộc lòng phải rời khỏi Tòa Thánh vào lúc 6 giờ sáng, do Giáo hữu Thượng Của Thanh lái xe đưa đoàn tùy tùng đến Kampuchia. Ðức Hộ Pháp và đoàn tùy tùng chính thức lưu vong tại Thánh Thất Kim Biên, Trấn đạo Tần Nhơn thủ đô Phnom Penh.

Thiếu Tướng Lê Văn Tất đón tiếp Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc về Thánh Thất Kim Biên.

Ðức Hộ Pháp tạm dùng cửa ngõ trung lập Kampuchia để truyền giáo và thi thố đức hạnh cùng thông công với nhân loại theo Thánh ý của Chí Tôn.

Ðức Hộ Pháp tuyên bố như sau: “Bần Ðạo buộc mình phải xuất ngoại đặng bảo thủ tự do cá nhân của Bần Ðạo, hầu đem ra một giải pháp mới mẻ có thể thống nhứt hoàn đồ và chủng tộc là phương pháp Hòa Bình chung sống”.



Thánh Thất Kim Biên tại Phnom Penh, 1937

10/03/1956 - Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ủy nhiệm cho Tòa Thánh Tây Ninh ký thỏa ước Bính Thân (28/01/1956) cùng với chính phủ Ngô Ðình Diệm nhằm xác nhận chủ quyền của đạo Cao Ðài.

12/3/1956 - Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo Ðại, phong tỏa bao vây Tòa Thánh Tây Ninh bắt Ðức Hộ Pháp và cấm truyền giáo Cao Ðài.

Việt Nam sản sinh cùng lúc hai vị nhân tài sát phạt toàn dân như Ngô Ðình Diệm thi hành chính sách độc tài gia đình trị và bội phản nhơn nghĩa miền Nam, Hồ chí Minh thi hành chính sách cộng sản trị, đấu tố toàn dân đến cửa nghèo đói, thủ tiêu tất cả trí thức và nhân tài không đồng chính kiến ở khắp hai miền Nam-Bắc .

Việt Nam nội chiến Ngô-Hồ phân tranh như “Trịnh-Nguyễn”.

15/3/1956 - Tại Nam Vang Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc khôi phục lại tinh thần Dân tộc trong lòng Việt kiều và xây dựng Thánh Thất Kim Biên Trấn Ðạo Tần Nhơn để mở ra chân trời truyền giáo hải ngoại.

Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc nhờ những phương tiện của Hội Thánh Ngoại Giáo Cao Ðài Tây phương vận động chính sách “Hòa Bình Chung Sống” để giải trừ chế độ Ngô-Hồ phi nhân. Người hướng dẫn tín đồ xuyên suốt qui luật chung sống, xây dựng nhân nghĩa, xã hội công bình hạnh phúc và cứu khổ .

17/3/1956 - Ðức Hộ Pháp kêu gọi Tình Thương xóa bỏ hận thù đem Từ Bi Bác Ái Công Bình làm phương châm ngoại giao danh dự, Ngài gửi đến Liên Hiệp Quốc và các đại cường quốc những thông điệp và đính kèm Cương Lĩnh có ba phần trọng yếu.

1- Thống nhứt lãnh thổ và khối dân tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa.

2- Tránh mọi xâm phạm nội quyền Việt Nam.

3- Xây dựng hòa bình, hạnh phúc và tự do dân chủ cho toàn dân.

20/03/1956 - Thư gởi Chủ Tịch Liên Hiệp Quốc và Thủ Tướng Chánh Phủ các Cường Quốc.


“Kính quí Ngài,

Sau 80 năm bị đô hộ dưới quyền Pháp thuộc, ngày 09.03.1945 toàn cả quốc dân Việt Nam quật cường giải ách nô lệ việc trọng đại ấy đã có tiếng đồn khắp cả thế giới và các liệt cường quốc đều hiểu rõ.

Ðã 11 năm tranh đấu không ngừng để định dựng chủ quyền độc lập cho Tổ Quốc, dân tộc Việt Nam đã phải chịu bao nhiêu thống khổ, tang tóc về tài sản cũng như sinh mạng, lại thêm bị hai ngoại quyền Cộng sản và Tư bản xen vào nội bộ, chia quốc dân Việt Nam làm hai xu hướng.

Kể từ ngày quân đội Pháp thất trận ở Ðiện Biên Phủ lại thêm một tai hại lớn lao nữa trồng lên đầu dân Việt Nam. Thật vậy chín nước ở Hội Nghị Genève với hảo ý đem hòa bình lại cho xứ Việt Nam và chấm dứt chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh đã vô tình mà không nhận định sự tai hại cho Việt Nam là thế nào, nên đã ký một hiệp định chia đôi lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 rồi lại định cho Việt Nam phải tự tìm phương thống nhất.

Chúng ta nên nhớ rằng khi ký Hiệp Ðịnh Genève thì vĩ tuyến 17 đã biến thành một cách thực tế ranh giới chia hẳn hai miền Nam Bắc, miền Bắc thì do Cụ Hồ Chí Minh với chánh phủ thân Nga và miền Nam thì Cụ Ngô Ðình Diệm với chánh phủ thân Mỹ.

Là nạn nhân của thời cuộc và sự tranh chấp của chủ nghĩa Quốc tế, dân tộc vô phúc này, thay vì đặng giúp đỡ và an ủi lại phải thêm một vết đau thương do chín nước đã vô tình xâm phạm quyền dân tộc tự quyết của họ.

Tình trạng ấy đã hiển nhiên và không một ai có thể nào chối cãi. Việc cốt yếu hiện nay là phải tầm một diệu dược để cứu chữa bệnh trạng ấy.

Bần Ðạo rất hài lòng nhận nơi đây hảo ý và sự cố gắng dẻo dai của các Cường quốc Trung lập để tìm một giải pháp hòa bình mong giải quyết vấn đề Việt Nam.

Là giáo chủ một Tôn Giáo tượng trưng tinh thần của một dân tộc đủ phong tục, đủ văn hiến, do một nền văn minh tối cổ Khổng Giáo, Bần Ðạo không thể nào ngồi yên đặng nhìn sự thống khổ của họ vì lẽ bất công của xã hội nhơn quần.

Vì cớ nên Bần Ðạo định góp sức mọn mình với sự cố gắng của các liệt cường để tìm phương pháp cứu vãn tình thế, giải nạn cho chủng tộc Việt Nam đặng bảo vệ hòa bình và hạnh phúc cho họ.

Hôm nay Bần Ðạo phải xuất ngoại cốt yếu để bảo thủ tự do của cá nhân, hầu có đủ phương tiện kêu gọi lòng nhân đạo của các liệt cường giúp sức cho Bần Ðạo đủ phương hòa giải hầu tránh nạn cốt nhục tương tàn của sắc dân Việt sắp gây nội chiến và đôi ảnh hưởng.

Nhơn đó Bần Ðạo xin gởi theo đây một chương trình tối thiểu mà đại ý là một đường lối chung sống lập thành tại nước Việt Nam một chánh phủ liên bang hầu có thể thực thi Thống Nhất theo như Hiệp Ðịnh Genève đã đề nghị.

Chương trình này Bần Ðạo đã định rõ trong bức điện văn gởi cho tứ cường trong buổi hội nghị Genève kỳ nhì vào ngày 21 tháng 7 năm 1955 và đã nhờ Thủ Tướng Edgar Faure chuyển đệ.

Bần Ðạo chỉ xin Liên Hiệp Quốc và các liệt cường thật tâm ủng hộ và cương quyết bảo đảm cho Bần Ðạo được tự do tuyên truyền giải pháp này khỏi sự khủng bố của hai Chánh Phủ đương quyền Hồ Chí Minh và Ngô Ðình Diệm trong khi Bần Ðạo thật hành sứ mạng hòa bình này.

Bần Ðạo quả quyết rằng: Ðồng bào Việt Nam luôn luôn yêu chuộng hòa bình sẽ hưởng ứng nhiệt liệt phong trào này nếu họ được tự do phát biểu ý chí của họ.

Bần Ðạo tỏ lòng tri ân Quí Vị.

Phnom Penh, ngày 20.03.1956

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc”

26/03/1956 - Chánh Sách Hòa Bình Chung Sống Do Dân Phục Vụ Dân Lập Quyền Dân.

Ðề nghị của Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giáo chủ đạo Cao Ðài gởi cho Liên Hiệp Quốc cùng các cường quốc và chánh phủ hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

CUƠNG LĨNH


I – Thống Nhất lãnh thổ và khối dân tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa

II – Tránh mọi sự xâm phạm vào nội quyền Việt Nam.

III- Xây dựng Hòa Bình, Hạnh Phúc và Tự Do Dân chủ cho dân

I- THỐNG NHẤT LÃNH THỔ VÀ KHỐI DÂN TỘC VIỆT NAM

VỚI PHƯƠNG PHÁP HÒA BÌNH

A- GIAI ÐỌAN THỨ NHỨT:

1/ Ðể hai chánh phủ địa phương tạm giữ nguyên vẹn nền tự trị nội bộ mỗi miền theo ranh giới vĩ tuyến.

2/ Thành lập một “Ủy Ban Hòa Giải Dân Tộc” gồm các nhân sĩ trung lập và một số đại diện bằng nhau của Chánh Phủ hai miền để tìm những điểm dung hợp giữa hai miền.

3/ Tổ chức nước Việt Nam thống Nhất thành chế độ liên bang trung lập gồm hai phần liên kết (Nam và Bắc) theo hình thức Thụy sĩ với một chánh phủ liên bang lâm thời, để điều hòa nền kinh tế trong nước và để thay mặt cho nước Việt Nam thống nhất đối với quốc tế và Liên Hiệp Quốc.

4/ Bãi bỏ bức rào vĩ tuyến 17. Dân chúng được bảo đảm sự lưu thông tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam để so sánh và chọn lựa chế độ sở thích mà định cư.

Vĩ tuyến 17 chỉ là một ranh giới hành chánh của hai miền hiện hữu mà thôi, còn dân tộc Việt Nam vẫn là một khối duy nhất trung lập và tự do.

B- GIAI ÐOẠN THỨ NHÌ

1/ Ðánh thức tinh thần dân tộc đến mức trưởng thành, đủ sức đảm nhiệm công việc nước theo nhịp tiến triển của thế giới trong khuôn khổ tự do và dân chủ.

2/ Khi dân tộc đã trưởng thành và khối tinh thần đã thống nhất thì toàn dân Việt Nam sẽ tự giải quyết thể chế thiệt họ theo nguyên tắc tự quyết bằng cách mở các cuộc tổng tuyển cử theo hiệp định Genève tháng 07/1954, để thành lập quốc hội duy nhất cho việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử này sẽ tổ chức dưới sự kiểm soát và trách nhiệm trọn quyền của Liên Hiệp Quốc để ngăn ngừa mọi điều áp bức dân chúng.

3/ Quốc Hội này sẽ định thể chế thiệt thọ và thành lập một chánh phủ trung ương nắm trọn quyền trong nước Việt Nam.

II TRÁNH MỌI XÂM PHẠM NỘI QUYỀN VIỆT NAM

1- Hữu dụng nền độc lập của mỗi miền đã thu hồi do hai khối đã nhìn nhận (chánh phủ Hồ chí Minh ở miền Bắc và chánh phủ Ngô Ðình Diệm ở miền Nam).

2- Nương vào các nước trung lập như Ấn độ, Anh, Miến Ðiện, A phú Hãn… để mở một đường lối thứ ba gọi là “đường lối dân tộc” căn cứ trên khối dân tộc để làm trung gian hòa giải hai chế độ.

3- Tránh mọi hướng dẫn ảnh hưởng hoặc can thiệp của một khối nào trong hai khối đối lập Nga Mỹ, vì đó là nguyên căn một cuộc tương tàn có thể gây nên trận thế giới chiến tranh thứ ba…

Gia nhập vào một trong hai khối Nga hoặc Mỹ tức là chịu làm chư hầu cho khối ấy và tự nhiên là thù địch của khối kia.

Như chính sách ” Hòa Bình Chung Sống ” không thể thực hiện đặng; bằng chứng là tình trạng của Ðức, Áo, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam hiện tại.

III XÂY DỰNG HÒA BÌNH HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN DÂN

1- Kích thích và thúc đẩy cuộc “thi đua Nhơn Nghĩa” giữa hai miền Bắc và Nam để thực hiện hạnh phúc cho nhân dân trong cảnh Hòa Bình xây dựng trên nguyên tắc bác ái, công bình và nhơn đạo.

2- Áp dụng và thực hành bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, thực hiện tự do dân chủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

3- Thâu thập tất cả mọi ý kiến, phát huy do tinh thần hiền triết cổ truyền của chủng tộc đưa lên và giao lại cho Liên Hiệp Quốc hòa giải để thi hành cho dân chúng nhờ.

4- Dùng tất cả biện pháp để thống nhất tinh thần dân tộc trong việc xây dựng hạnh phúc với điều hay lẽ đẹp trên căn bản hy sinh và phụng sự.

5- Hai miền phải thành thật bãi bỏ mọi tuyên truyền ngụy biện xuyên tạc lẫn nhau. Phải để cho nhân dân đứng trước sự thật tế mà nhận xét sự hành động của đôi bên rồi lần lần sẽ đi đến chỗ thống nhất ý kiến.

6- Sự thực hiện “Chánh sách Hòa Bình chung sống” trên đây sẽ đặng thi hành dưới sự ủng hộ và kiểm soát thường trực của Liên Hiệp Quốc và các phần tử Trung Lập trong nước và ngoài nước, hầu ngăn ngừa mọi áp bức nhân dân do nơi quyền độc tài của địa phương hay do áp lực của ngoại quyền xúi giục.

Nam Vang, ngày 26.03.1956

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc

28/03/1956 - Thư gửi cho: Cụ HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH C.P.V.N.D.C.C.H. và Cụ NGÔ ÐÌNH DIỆM, TỔNG THỐNG C.P.C.H.V.N.


“Kính hai Cụ,

Cũng như Bần Ðạo, có lẽ hai cụ hiểu rõ hơn Bần Ðạo nữa về thế nguy ngập cho Tổ Quốc và giống nòi Việt Nam ta đã trót chịu hơn 11 năm tang tóc vì nạn cốt nhục tương tàn nồi da xáo thịt.

Cái họa ấy do đâu?

Phải chăng vì đồng bào ta vô ý thức mà trở thành nạn nhân của hai ảnh hưởng ngoại quyền gây loạn ? Tình thế phải chấm dứt mới thực hiện đặng phương pháp giải ách lệ thuộc ngoại bang và thâu hồi độc lập thật sự.

Bần đạo đã có dịp viết thơ tỏ nỗi niềm nguy hại nếu hai chánh phủ chẳng tìm phương thoát khỏi ngoại quyền xúi giục, thì nội chiến Nam Bắc sẽ phải không tránh khỏi.

Thoảng như tai hại ấy vẫn tiếp tục gây nạn cốt nhục tương tàn thì năng lực tranh đấu cách mạng giải phóng dân tộc sẽ tiêu hao mà trở thành bánh vẽ. Vì khi phong trào cách mạng đã kiệt lực thì ách lệ thuộc sẽ trồng vào đầu cổ dân còn nguy hại hơn Pháp thuộc nữa chớ.

Hội Nghị Genève buổi nọ đã sanh sản ra hiệp định 20.07.1954, là món độc dược để đầu độc cho quốc dân ta đi đến cảnh chết vô phương cứu chữa, là giam hãm ta vào giữa cuộc tranh đấu của hai ảnh hưởng quốc tế. Ta muốn thoát ly tức là ta tìm một giải pháp bảo thủ nội quyền đặng định vận mệnh tương lai là do nơi tay ta đào tạo, chớ chẳng chịu ngoại quyền nào làm chủ nội bộ của ta. Muốn đặng như thế, Bần đạo xin gởi theo đây một chương trình thống nhất tổ quốc giang sơn cho hai cụ để trọn tâm nghiên cứu và tìm thêm những giải pháp hay, khéo bổ cứu vào mọi mặt khuyết điểm hầu có thể thi hành đặng theo ước vọng thống nhất và hòa bình của dân tộc.

Bần đạo đã lưu vong nơi nước ngoài chỉ có mục đích là bảo thủ trọn vẹn tinh thần trung lập của Bần Ðạo đặng kêu gọi tinh thần ái quốc chân chính và nồng nàn của hai cụ bỏ tị hiềm và thành kiến đặng đủ phương cứu quốc.

Bần đạo trân trọng gởi lời yêu mến kính phục của Bần đạo luôn dịp gởi cả vận mạng số kiếp của Tổ Quốc và giống nòi cho hai Cụ định liệu.

Phnom-Penh ngày 28/03/1956

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc”

21/4/1956 - Chủ Tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Ðình Chiến tại Cao Miên. “International Commission for Supervision and Control in Combodia” gửi văn thư ký tên phúc đáp đồng tình Chính Sách Hòa Bình Chung Sống do Ðức Hộ Pháp đề nghị .

24/4/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp ủng hộ Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam như:

– Thủ Tướng Anh Quốc ông Sir Winston Churchill, S.W.7.

– Quốc Trưởng Cao Miên ông Norodom Sihanouk Upayuvareach du Cambodia.

– Tổng Thống Pháp Quốc ông Guy Mollet .

26/4/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp của ông Quốc Vụ Khanh Pháp Quốc ấn ký “Ministre d’État Pierre Mendès France” đồng quan điểm Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

27/4/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp của Thủ Tướng Tây Ban Nha ông Felipe Polo Martinex Valdés Espagne. ấn ký đồng tình Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

28/04/1956 - Thơ gởi : Cụ NGÔ ÐÌNH DIỆM, TỔNG THỐNG C.P.C.H.V.N. (SAIGON) và Cụ HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH C.P.D.C.C.V.N. (HÀ NỘI)


“Kính hai Cụ.

Từ ngày Bần Ðạo kính gởi đến hai Cụ bức tâm thư số : 21/HP.HN. đề ngày 28.08.1956 thì Bần Ðạo rất vui mừng nhận thấy hai Cụ đã tỏ thiện chí muốn xây dựng hòa bình và thống nhứt lãnh thổ nước Việt Nam yêu quí của ta bằng biện pháp ôn hòa.

Phương ngôn tổ phụ lưu truyền có nói: “Vạn sự khởi đầu nan” và phương ngôn Pháp có câu: “ chỉ bước đầu là khó” thế mà hai Cụ hiện nay đã khởi bước đầu tiên rồi. Thật là may mắn cho dân tộc Việt Nam.

Vậy Bần Ðạo ước mong sao cho hai Cụ lần lượt tiến dần chỗ gặp gỡ và thỏa thuận để tự giải quyết vấn đề nội bộ giữa người Việt với người Việt khỏi phải gây cảnh lưu huyết đau khổ cho giống nòi và khỏi để cho ngoại quyền bỉ xử.

Theo Bần Ðạo nhận xét điều hiện tình khó giải quyết vấn đề tín nhiệm giữa Chánh phủ hai miền.

Ðài Vô tuyến truyền thanh của đôi bên hằng ngày chỉ trích chánh sách độc tài tức là không có tự do Dân chủ ở Miền kia.

Gần đây Cụ Ngô Tổng Thống và Cụ Ðại sứ Trần Văn Chương lại còn tuyên bố đòi hỏi cho có tự do dân chủ ở Bắc Việt mới mở cuộc Tổng tuyển cử được.

Nếu bầu không khí bất hòa ấy không giải quyết thì khó mà tiến đến bước thứ nhì cho đặng.

Bần Ðạo vẫn biết thiện chí và lòng yêu nước thành thật nồng nàn của hai Cụ nên Bần Ðạo thiết tha yêu cầu hai Cụ long trọng tuyên bố rằng: Hai Cụ bằng lòng tôn trọng và thực hành các quyền tự do Dân chủ nhứt là quyền tự do ngôn luận trong vùng đất dưới chánh quyền cai trị của hai Cụ, cho phép báo chí hai Miền đặng lưu thông toàn quốc, đặng vậy thì hữu phước cho dân tộc Việt Nam biết bao nhiêu !

Bần đạo thân ái kính chào hai Cụ và kính cẩn xin hai Cụ nhận nơi đây lòng tri ân của Bần Ðạo.

Phnom Penh, ngày 18 tháng 03 Bính Thân (DL 28.04.1956)

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc”

30/04/1956 - BẢN TUYÊN NGÔN


“Trót mười năm khi trở về nước, sau 5 năm hai tháng bị đồ lưu nơi hải ngoại.

Bần Ðạo đã hết sức lực và tâm não đặng nghiên cứu và thi hành các phương pháp bảo vệ phong trào Cách Mạng và giải ách lệ thuộc của Tổ Quốc và giống nòi, lại tìm phương hay bảo thủ tinh thần dân tộc hầu đủ phương Thống Nhất hoàng đồ, tránh nạn Nam Bắc phân tranh, nồi da xáo thịt.

Rủi thay ! Khi trở về nước Bần Ðạo bị ở trong một cảnh ngộ khó khăn là sự chia rẽ của hai Miền: Nam thì Quốc Gia, Bắc thì Cộng Sản.

Trong cuộc tranh đấu họ đã gây thù, kết oán với nhau rất nhiều mà khối quân lực của Cao Ðài là tay mở màn Cách Mạng đã đảo chánh quyền Pháp Quốc. Bần Ðạo khi ấy không có ý định giữ gìn tồn tại Quân Lực Cao Ðài, nhưng vì trường hợp tranh đấu đã gây hấn quá kịch liệt giữa khối Quốc Gia và Cộng Sản, nên cả tín đồ của Ðạo đã bị khủng bố, tàn sát quá thê thảm và quá nhiều vì hai lằn tên mũi đạn của Pháp và Việt Minh, nên buộc lòng Bần Ðạo phải chấp thuận cho quân lực ấy còn tồn tại vì nó đã đứng trong hàng ngũ của khối Quốc Gia và trong phận sự thiêng liêng tranh đấu đặng thực hiện Ðộc Lập.

Sau cuộc hội đàm cùng Ðức Bảo Ðại và định cho đức Ngài lãnh phận sự làm trung gian hòa giải đặng đem hòa bình và hạnh phúc lại cho nước nhà trong cuộc hội nghị tại Hồng Kông năm 1949, thì khi đức Ngài về nước chính mình Bần Ðạo đã giao trọn quyền sử dụng quân đội Cao Ðài cho Ðức Ngài điều khiển trong hàng ngũ quân lực Quốc Gia. Kịp khi đức Ngài đi Pháp mới tạm giao Quân Lực ấy cho Bần Ðạo, trong lúc vắng mặt, Ðức Ngài đã ra lệnh hai chánh Phủ của Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc thi hành hợp pháp Quốc Gia hóa Quân đội Cao Ðài, nhưng sự thi hành ấy vẫn kéo dài cho tới ngày chánh phủ Ngô Ðình Diệm thọ phong toàn quyền cũng chưa quyết định. Bần Ðạo buộc phải nhắc nhở và cầu cho chánh phủ Ngô Ðình Diệm quốc gia hóa Quân đội Cao Ðài một cách hợp pháp.

Cốt ý Bần Ðạo nói ra đây đặng tỏ cho cả toàn quốc dân hiểu biết rằng Bần Ðạo không buổi nào muốn giải quyết vận mạng nước nhà với quân lực, mà chỉ dùng phương pháp đạo đức đặng đem hòa bình hạnh phúc lại cho giống nòi mà thôi.

Giai đoạn thứ nhất đã qua, đến giai đoạn thứ nhì này, Bần Ðạo buộc mình phải xuất ngoại đặng bảo thủ tự do cá nhân của Bần Ðạo hầu đem ra một giải pháp mới mẻ có thể thống nhất Hoàng đồ và chủng tộc là phương pháp Hòa Bình và chung sống.

Vì cớ cho nên cả quân lực nào ngoài quân lực Quân đội quốc gia chánh qui chẳng còn hữu ích chi trong cuộc tranh đấu mới mẻ của Bần Ðạo đã đề xướng là phong trào tranh đấu Chánh trị Quốc tế mà thôi.

Từ đây bất kỳ khối quân lực nào mượn danh Bần Ðạo đặng tổ chức là giả dối.

Vậy toàn cả tín đồ của Ðạo và toàn quốc dân Việt Nam chú ý cho lắm, kẻo bị kẻ vô tâm mưu mô gạt gẫm. Bần Ðạo cầu nguyện Ðức Chí Tôn ban hồng ân cho toàn Ðạo và toàn Quốc Dân đủ sáng suốt nhận định thời cuộc.

Bần Ðạo để lời ưu ái nồng nàn cầu hòa bình và cầu hạnh phúc cho đồng bào và tổ quốc.

Phnom Penh ngày 20.03 Bính Thân (30.04.1956)

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc”

02/5/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ấn ký. “Chef De Section, Département Des Affaires Politiques Et Du Conseil De Sécurité (Nations Unies)”. Ủng hộ đề nghị Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

03/5/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp Ðại Sứ Pháp Quốc tại Cao Miên ấn ký “Haut Commissariat République De France Au Cambodge”, Ủng hộ Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

14/5/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ấn ký, “Division Des Droits De L’Homme Des Nations Unies” Ủng hộ và đồng tình đề nghị Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

16/5/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp lần thứ hai của ông Quốc Trưởng Cao Miên ấn ký, “Samdech Norodom Sihanouk Upayuvareach”. hoàn toàn ủng hộ và đồng tình Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

19/5/1956 - Ðức Hộ Pháp nhận văn thư phúc đáp của ông Tổng Thống Phi Luật Tân ấn ký “Office of the President of the Phillippines”. Ủng hộ và đồng tình cho Chính Sách Hòa Bình Chung Sống cho Việt Nam.

23/6/1956 - Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ủy nhiệm cho ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức đại diện Tòa Thánh Tây Ninh, yết kiến Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm để tỏ bày lòng tha thiết yêu chuộng Hòa Bình Chung Sống của dân tộc trên hai miền quê hương.

Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm và Hồ chí Minh không hài lòng chính sách Hòa Bình Chung Sống, Ðức Hộ Pháp thi thố đạo đức thì trái lại hai vị nguyên thủ Nam-Bắc, ra sức công phá lẫn nhau, trong bóng tối Nam-Bắc tranh hùng vị kỷ đánh mất quyền lợi dân tộc.

12/10/1956 - Chính thể Cộng Hòa tạm ổn định theo kiểu yêu nước của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm như đã cầm tù 3200 và sát hại trên 2700 Tín đồ Cao Ðài, xem như một thành công đã dẹp hết các đảng phái Quốc gia đối lập yêu nước và áp chế được các Tôn giáo, Ngô Ðình Diệm cho ra đời Phong trào Cách mạnh Quốc gia và đảng Cần Lao do ông Ngô Ðình Nhu lãnh đạo, điều hướng mọi hoạt động chính trị trên toàn quốc.

12/11/1956 - BỨC THƯ TÂM HUYẾT KÍNH NGÀI TỔNG THỔNG (N.Đ.D.)


“Từ ngày Bần Ðạo ra khỏi nước tới nay, Bần Ðạo chưa hề gởi thư cho Tổng Thống về mục đích của Bần Ðạo muốn đạt đến chỗ nào.

Bần Ðạo vì tin nơi lòng đạo đức và trí thức cao thượng của Ngài nên để Ngài tìm hiểu và suy đoán.

Tổng Thống và Bần Ðạo chẳng phải là người xa lạ với nhau về tinh thần Ái quốc và vị chúng, Bần Ðạo bỏ công chức hồi pháp thuộc cũng như Ngài đã bỏ quan trường buổi ấy. Hai tâm đức cũng như nhau bởi đau khổ thấy giống nòi đã bị lệ thuộc, làm tôi đòi thiên hạ và nước chịu nạn thống trị của ngoại bang.

Trường hợp tranh đấu của chúng ta dẫu khác đường lối mà trí ý có lẽ cũng đồng. Vậy tinh thần đôi ta cũng một khuôn khổ, một ý chí.

Chỉ có một điều Ngài có thể phiền trách Bần Ðạo đặng, là mọi hành vi của Bần Ðạo đối cùng Ngài từ khi Ngài nắm chánh quyền đến giờ, đều là âm thầm, kín đáo chớ chẳng như ai kia xưng hô công nghiệp đặng thân cận cùng Ngài.

Bần Ðạo không muốn chính mình Ngài hiểu biết nữa mà chớ. Hôm nay Bần đạo viết thư này vì thấy đủ bằng cớ rằng chính phủ Ngài họa ảnh của Bần Ðạo với một vẻ lầm lạc vụng về, thô kém từ hình trạng lẫn tinh thần. Dẫu rằng đôi ta đã nhiều dịp gặp nhau, hiểu biết nhau từ buổi hội đàm tay ba cùng Ðức Bảo Ðại tại Paris, trước khi Ngài về nước đảm nhận trọng quyền. Thêm nữa chúng ta có nhiều lần mặt nhìn mặt, tay bắt tay hội đàm cùng nhau mật thiết. Bởi cớ mà Bần Ðạo lầm tưởng Ngài biết rõ tâm tính của Bần Ðạo hơn ai hết mới thờ ơ như thế.

Ngài cũng nên hồi tưởng lại, nhớ kỹ càng mọi lẽ, mọi hành vi rồi định thử coi Bần Ðạo là người ơn hay người oán. Vậy Bần Ðạo xin tiếp tục tưởng rằng hay trạng thái hình dung của Bần Ðạo chẳng phải chính tay của Ngài, mà là tay của ngoại lai có lẽ Bần Ðạo xin nói rõ và thú thật cùng ngài rằng Bần Ðạo không thể nào ngồi xem tổ quốc và giống nòi bị ngoại bang lệ thuộc một phen nữa. Chẳng phải bị quyền lực ngoại bang của một nước như Pháp buổi nọ mà lại bị hai khối: Ðế Quốc Thực Dân Tư Bản và Cộng Sản Quốc Tế đua nhau tranh quyền bá chủ hoàn cầu. Bần Ðạo xuất ngoại cốt để đủ quyền tự do của Bần Ðạo đặng đầu cáo hội nghị Genève đã chủ định chia hai đất nước từ vĩ tuyến 17, Bần Ðạo cho đó là một hành động áp bức, bất công như bức thơ số 20/HP-HN ngày 26 tháng 3 năm 1956 mà Bần Ðạo đã gởi cho Liên Hiệp Quốc và các Liệt Cường Quốc Tế.

Nếu Bần Ðạo còn ở trong nước thì chắc rằng Ngài không cho Bần Ðạo làm việc ấy.

Việc làm này Ngài đã đặng biết trước vì khi hội nghị Genève dưới quyền Thủ Tướng của Tứ Cường, Bần Ðạo đã đánh một điện văn, mà bức điện văn ấy, Bần Ðạo đã cầu Ngài cùng ký tên với Bần Ðạo, Ngài cho lịnh nội bộ chính phủ của Ngài trả lời rằng theo thủ tục tức Ngài không thể ký bức điện văn ấy chung cùng Bần Ðạo và biểu Bần Ðạo tùy tiện gởi đi. Bức điện văn ấy cốt để làm ngưng cuộc Tổng Tuyển Cử ngày 20.08.1956 cho đến ngày toàn dân giác ngộ, biết rõ chủ quyền của họ rồi mới định đoạt. Nếu thi hành liền thì không tránh khỏi nội loạn.

Nghe ra dường như Ngài đã phiền trách Bần Ðạo đã làm CHỦ TỊCH ÐOÀN MẶT TRẬN TOÀN LỰC QUỐC GIA, điều ấy là một điều mà Bần Ðạo vẫn mãi còn ân hận. Khi ở Genève, sau khi Việt Minh đã thắng trận Ðiện Biên Phủ và Hội Nghị Genève đã định chia đôi đất nước, thì Bần Ðạo đã biết trước rằng họ đã gieo một tai hại lớn lao cho tương lai đất nước Tổ Quốc, nên hội diện cùng phái đoàn Việt Minh cốt để hiệp đồng tâm đức đặng thống nhất nước nhà với phương pháp hòa bình, hầu tránh nạn chiến tranh tàn khốc do ngoại bang xúi giục. Nhưng Bần Ðạo đã bị thất bại vì sự khinh rẻ khối quốc gia và Việt Minh, cho rằng chính phủ Quốc Gia vô quyền hành, vô năng lực mà họ gọi là chính phủ bù nhìn. Thật ra chính quyền buổi nọ không căn bản, không năng lực vì nạn đảng phái tương tranh, nhơn tâm bất nhứt, nên không thể đương đầu đối diện cùng họ. Cái khuyết điểm trọng hệ hơn hết là chánh phủ Quốc Gia buổi nọ không hiến pháp và Quốc Hội làm hậu thuẫn. Không biết bao phen Bần Ðạo đã than thở cùng linh đệ của Ngài là ông Ngô Ðình Nhu về lẽ ấy, Ngài có thể hỏi chứng nơi ông thì dư rõ.

Bần Ðạo đã cầu khẩn Quốc Trưởng Bảo Ðại ban cho ta một khí cụ cần thiết ấy, song Ngài vẫn chần chờ không quyết định, lại ra lệnh cho chánh phủ Nguyễn văn Tâm lập một Quốc Hội bù nhìn như Ngài đã biết.

Năng lực tranh đấu cùng Việt Minh đã thất thế cùng mọi mặt về chính trị và quân sự. Khi họ thắng trận Ðiện Biên Phủ, đánh bại Pháp quân thì họ đã quá hãnh diện, khinh khi chánh phủ Quốc Gia.

Họ quyết định ký hòa ước với chánh phủ Pháp mà thôi, chớ không kể rằng ta có mặt.

Bởi hổ nhục ấy nên Bần Ðạo mới tầm phương thống nhứt Quân Lực các đảng phái đặng hiệp một cùng Quân lực Việt Quốc Gia thành một lực lượng duy nhất, đủ uy tín, oai quyền hầu ăn nói với họ.

Hại nỗi, trong khi Bần Ðạo cầu nài cho Trung Tướng Nguyễn văn Hinh buổi nọ là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội Quốc Gia cùng Trần Văn Soái, Nguyễn thành Phương, Lê Văn Viễn hội hiệp cùng nhau liệu phương thống nhất. Bởi tin tưởng rằng sở vọng ấy đắc thành mới xin phép chánh phủ Ngài đi giao du nơi Ðài Loan, Nhựt Bổn và Triều Tiên đặng hiểu rõ tình hình quốc tế, khi trở về, thì thấy sự nghiệp ấy đã tan vỡ bởi ngoài tranh chấp uy tín đã chia đôi họ, trở thành thù địch. Ðiều ấy có lẽ chẳng cần nói mà chính ngài cũng đã dư hiểu.

Có lẽ Ngài còn nhớ, Bần Ðạo đến Genève làm quan sát viên với một ủy ban do đức Bảo Ðại chỉ định, khi đã hay biết quả quyết rằng hội nghị đã quyết chia nước thì Bần Ðạo đã tuyên bố đã làm xáo động cả dư luận Quốc Tế rằng : Nếu Việt Minh và Pháp tuân lịnh hội nghị chia nước ra làm hai, không có sự chấp thuận của toàn dân Việt Nam, thì ta sẽ chia đầu cùng cả hai bên hết thảy.

Lời tuyên bố ấy của một người Ðạo như Bần Ðạo làm điều ấy đặng. Ðến nay, Bần Ðạo phải nhìn nhận công nghiệp ấy đã về Ngài vì Ngài đã thắng Pháp với một đường lối chính trị hay khéo. Ước mong rằng Ngài cũng thắng Việt Minh với một đường lối ấy thì kỳ công của Ngài sẽ đặng hoàn toàn trọn vẹn.

Bần Ðạo chỉ lo âu có một điều là sau 80 năm bị pháp thuộc, dân tộc đã quật cường với biết bao xương máu mà ta lại còn phải chịu cảnh lưu huyết của ta một cách oan uổng, cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt thêm nữa. Chủng tộc ta dân số chẳng hơn ai mà trót trên 10 năm tranh đấu, hy sinh sanh mạng, tài sản đã quá nhiều, Quốc Dân đã quá đau khổ với nạn chiến tranh, nên trong bức thơ số 21/HP-HN ngày 26.03.1956 của Bần Ðạo gởi cho Ngài và Hồ Chí Minh, cầu khẩn nơi lòng Ái Quốc nồng nàn đã sẳn có của hai Ngài, đặng giải diệt vong cho đồng bào và Tổ Quốc.

Kết luận là Bần Ðạo tưởng quả quyết rằng mọi hành động của Bần Ðạo đều là công khai và hợp pháp, chẳng một điều chi bí mật, dối gian, vì các hành động ấy đều xuất hiện do nơi lòng Ái Quốc nồng nàn và lương tâm Bần Ðạo ra lịnh thi thố.

Ngài đừng nghe chi những lời sàm nịnh của kẻ hầu cận bên Ngài cho rằng Bần Ðạo muốn lập uy tín riêng mình hầu mong mỏi đoạt thủ chánh quyền, lập thành chánh phủ, thoảng như tình thế biến thiên thế nào đi nữa thì cũng là tuồng cũ soạn lại mà thôi, chớ không chi khác cùng Bần Ðạo hết, sự hay khéo của ta là làm thế nào bảo thủ toàn vẹn cả các thắng lợi mà toàn thể chúng ta thâu hoạch được đặng may múng thành hình, một đường lụa dệt mà mỗi tay thợ thay đổi mối cắt đứt rồi khởi đầu lại nữa thì đường ấy không thể nên hình, càng thay tay, càng rối rấm. Bần Ðạo đã hiểu rõ như thế nên định phận mình chỉ biết giúp đỡ cho mỗi chánh phủ từ trước tới giờ, chớ rất gớm ghê những phen thay đổi.

Thật ra nếu Bần Ðạo có tham vọng chiếm đoạt chánh quyền thì đã làm rồi trước khi Ðức Quốc Trưởng và Ngài về nước. Trong đạo sử của ta chưa từng thấy một vị giáo chủ ra tranh đoạt để giành chủ quyền đời. Ấy là điều đại kỵ của Bần Ðạo. Bởi vậy nên mới chính mình đi Hương Cảng hội đàm đặng rước Ðức Bảo Ðại về nước cầm quyền Quốc Trưởng trong buổi nước nhà nguy biến, chớ Bần Ðạo không chịu ngó vào nội bộ chánh quyền.

Cả đời Bần Ðạo đã nguyện hy sinh đặng làm bạn và làm tôi tớ cho những tâm hồn đau khổ, cho những kẻ dốt nát nghèo hèn. Ngoài ra không có một điều chi tham vọng, không công danh, không quyền lợi, mới sanh một cách bất ngờ, một tâm tình không nịnh hót, không bợ đỡ, không cầu thân, không sàm nịnh, dường như đã thành kiêu căng, tự tin ? Với tánh đức ấy nên muốn cho kẻ hèn hạ đặng nên danh, người vinh hoa đặng công chánh. Bằng cớ hiển nhiên mà cả chủng tộc đều thấy rõ Bần Ðạo dám can đảm nâng đỡ binh vực, dạy dỗ những hạng cùng dân nghèo hèn, dốt nát ra thi thố cùng đời không hơn không kém, đã hy sinh nửa kiếp sống tạo nghiệp chung cho nơi cửa Ðạo, cho họ đủ sang trọng, vinh hiển, chớ chẳng kể chi đến gia nghiệp riêng rẽ của mình.

Bắt chước hạnh Chúa là thương yêu, nuôi dưỡng kẻ nghèo khó, cơ hàn, nhịn ăn chia áo cho họ. Tuy vào Ðạo Cao Ðài mà trước mặt kẻ tín đồ, Bần Ðạo chưa hề chối Ðạo Công Giáo. Một điều có thể làm cho kẻ gian ác, xảo trá, tà tâm oán ghét hơn là theo lời Chúa dạy : chẳng nên đem bánh trẻ con đặng cho kẻ nghèo khổ bần cùng là con yêu dấu của Chúa dạy:

Một điều đáng buồn cười hơn hết là những hạng dốt nát thường thường có tinh thần bội phản. Khi nó đã lập được thân danh, coi mình là trọng, không biết nhân nghĩa là gì bởi thiếu học, nó trở lại phản phúc là kẻ thường tình không chi làm lạ.

Thường người tu vì Từ Bi mà đã bị làm nạn nhơn của kẻ gian hùng ấy nhiều hơn hết. Bần Ðạo tiếc rằng Ngài không tìm hiểu rõ Bần Ðạo, mà đã ra lịnh cho chánh phủ của Ngài làm nhiều điều không hay đối cùng Ðạo và Bần Ðạo đã làm cho tình thâm cảm giữa đôi ta một phần tiêu giảm quá nhiều rất nên đáng tiếc.

Bần đạo nhứt quyết ngày trở về nước là ngày thấy đủ rõ ràng bằng cớ là chánh phủ miền Nam khỏi bị khối Mỹ và chánh Phủ miền Bắc khỏi bị khối Nga; lệ thuộc với bất cứ với phương pháp nào một cách trực tiếp hay gián tiếp cũng vậy.

Sự đòi hỏi này chắc Ngài cũng biết rằng Bần Ðạo chẳng phải xin xỏ cho thân danh cá nhân của Bần Ðạo mà là cho Ngài và cụ Hồ Chí Minh rõ rệt.

Nếu Bần Ðạo muốn cầu danh lợi cho Ðạo và riêng Bần Ðạo thì chắc hẳn không phải đường lối như thế, dám đủ can đảm ôm thù thiên hạ nơi mình đặng cứu vận mạng Tổ quốc giống nòi, cử chỉ như thế không lẽ bị Ngài ghét bỏ. Trường hợp của Ngài cũng như của Bần Ðạo, thời thế đã gây nên cho đôi ta cái hại phân chia nhau. Ðiều ấy do đâu mà đến chớ chẳng phải do nơi đôi ta đào tạo, cổ tục ta có nói : Thời thế tạo anh hùng, mà cũng không nhắc để cái phản ảnh của nó là: Anh hùng tạo thời thế. Hai điều ấy Ngài đủ sức lực, đủ can đảm, đủ quyền hành thi thố, thực hiện cả hai. Bần Ðạo mong ước và cầu khẩn nơi Ðức Chí Tôn và các đấng thiêng liêng phò hộ Ngài, giúp đỡ Ngài thành công trong sứ mạng cứu nước, cứu giống nòi trong lúc Quốc Gia nguy biến. Ta còn có ngày gặp gở nhau nữa.

Bần Ðạo gởi lời thân ái chào Ngài.

Nam Vang ngày 10 tháng 10 Bính Thân (dl 12.11.1956)

Hộ Pháp

Phạm Công Tắc”

18/01/1959 - Bắt đầu tình thế miền Nam biến động và hoàn toàn mất ổn định, chính thể Ngô Ðình Diệm chuẩn bị đối phó với Việt cộng, sau tháng “. 09/1956, đoàn đại biểu Xứ ủy Nam Bộ dự Hội nghị Trung ương lần thứ 15 tại Hà Nội về Nam. Ngày 25/10/1959-11/1959 Xứ ủy Nam Bộ mở ra phiên họp lần thứ 4 tại cục R miền Ðông. Nhằm triển khai Nghị quyết chiếm miền Nam “Lấy sức mạnh vũ trang địa phương, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang chính qui để đánh đổ quyền thống trị của miền Nam phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng và ngày 20/12/1960 đảng Cộng sản cho ra đời Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”.

17/5/1959 - Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc qui Tiên vào lúc 13 giờ tại bệnh viện Calmette và liên đài quàn tại Thánh Thất Kim Biên hưởng thọ được 70 tuổi, nhằm ngày rước Thánh lễ Pentecôte.

Hiện di hài còn quàn tại Thánh thất Kim Biên, Trấn đạo Tần Nhơn (Nam Vang).

Ngài đã làm xong sứ mạng Thiêng Liêng tối trọng của một đấng Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài thay Trời độ thế.

20/03/1963 - Ngô Ðình Diệm cô độc nay lập lại những giải pháp thống nhứt Việt Nam với Cộng sản Hà Nội, trên những giải pháp căn bản của Ðức Hộ Pháp đã từng đưa ra trước đây, Ngô Ðình Diệm bí mật tiếp xúc đại diện Bắc Việt và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, bởi trung gian ông Miezyslav Maneli đại diện của Ba Lan trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến Việt Nam.

Tổng Thống Pháp De Gaulle gặp dịp muốn tìm ảnh hưởng Ðông Dương cũng tuyên bố ngày 29/08/1963, “Sẵn sàng giúp Việt Nam cả hai miền Nam-Bắc, trong việc tìm kiếm hòa bình, độc lập và thống nhứt”

1/11/1963 - Nền Ðệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam cáo chung, bởi các tướng lãnh đảo chính và thành lập nền Ðệ nhị Cộng Hòa .

Gia đình trị nhà Ngô bị các tướng lãnh thủ tiêu tại Chợ Lớn, kết thúc triều đại Cần Lao đảng trị 9 năm và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia đi theo nền Ðệ nhứt Cộng hòa không còn để lại một vết dầu loang, cả gia đình nhà Ngô đứng trên sự phán xét của nhãn tiền công chính, ánh sáng mặt trời chỉ ưu đãi cho những ai vì đồng sinh .

23/12/1963 - Ngày lịch sử binh sĩ Cao Ðài về nước chấm dứt đời binh nghiệp lưu vong tại đất chùa tháp Cao Miên, dưới sự hướng dẫn của Thiếu Tướng Lê Văn Tất.

Chế độ nhà Ngô 9 năm trị vì đã làm khổ biết bao lương dân, Tín ngưỡng miền Nam Việt Nam Nội ngoại bất hòa và nhà Ngô bội phản dân tộc, triệt tiêu đạo Cao Ðài, tạo ra nhiều mâu thuẫn xô đẩy vài chi phái Cao Ðài theo Cộng sản sát phạt tình Huynh-đệ lẫn nhau, chế độ đệ nhứt Cộng Hòa toàn bộ cáo chung để lại cho đất nước một dáng vấp phân rã bất đồng và nền Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam được lập lại.

Biên khảo Huỳnh Tâm

Nguồn: http://minhtrietviet.net/dao-cao-dai-duoi-che-do-ngo-dinh-diem-2/