Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

TIẾNG HÁT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐIÊN VÌ TÌNH





Trót sanh vào kỳ tăm tối
cái ác cai trị muôn loài
giống người chứa đầy tội lỗi
linh hồn lương thiện lạc loài


Mặt trời nắng rớt cọc còi
trái tim băng giá ngủ vùi trong mơ
tình yêu hiện thân giả dối
sự sống hấp hối trong bóng tối dát vàng

Địa ngục khoác áo thiên đàng
hạnh phúc mang gương mặt giàu sang
dòng đời chảy tràn mật ngọt
được cất từ xác thối muôn hoa

Bầy quạ đứng trên cây thánh giá
gõ hồi chuông hiệu triệu tà ma
người đàn bà điên mỉm cười thật lạ
cất tiếng ca xé toạt hải hà

Ta bơi mãi trong dòng hồng thủy
đợi thuyền em mở cửa trái tim
người đàn bà điên vì tỉnh thức tỉnh
cất tiếng ca trong vó ngựa khải huyền

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

KHÔNG ĐẬP BÌNH CŨNG VỠ!





Mở đầu CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG ( cũng là cuộc chiến CHỐNG GIẶC NỘI XÂM) Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu " Đập chuột sợ bể bình". Câu nói này của ông đã phản ảnh đúng thực trạng " GIẶC THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM.".Ông đã xem 'THAM NHŨNG LÀ GIẶC NỘI XÂM" .

Giặc nội xâm làm mất chế độ đã đành, sao lại có thể lá " MẤT NƯỚC" ?


Ông đã từng bước tiến hành và " ĐỐT LÒ".Lò được đốt những cây " CỦI KHÔ" được đưa vào chụm và khi lò đủ nóng để có thể đốt " CỦI TƯƠI" không phải sợ lửa tắt.

NHƯNG CỦI TƯƠI CHƯA ĐƯỢC ĐƯA VÀO...

Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và hơn 58.000 đảng viên vi phạm, trong đó có trên 2.700 đảng viên vi phạm về tham nhũng, cố ý làm trái.
Như vậy, phải có 2700 đảng viên bị khởi tố hình sự? ( ước chi Danh sách 2700 đảng viên này được công bố cho toàn dân được biết thì hay biết mấy. Các vị ĐBQH 'gà mờ" của chúng ta chắc cũng không biết và cũng không muốn biết!)

Khai mạc Hội nghi toàn quốc về Công tác Phòng chống Tham Nhũng ngày 25/6/2018, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu : " CUỘC CHIẾN CHỐNG GIẶC NỘI XÂM CÒN KHÓ KHĂN , GIAN KHỔ, LÂU DÀI, CHỊU SỨC ÉP TỪ NHIỀU PHÍA"

SỨC ÉP TỪ PHÍA NHÂN DÂN LÀ ĐIỀU HIỂN NHIÊN!
THẾ CÒN NHIỀU SỨC ÉP NÀO KHIẾN CUỘC CHỐNG NỘI XÂM CÒN KHÓ KHĂN, GIAN KHỔ VÀ LÂU DÀI?

PHẢI CHĂNG TỒN TẠI SỨC ÉP TỪ GIẶC NỘI XÂM VÀ NGOẠI BANG?

CHUỘT VẪN Ở TRONG BÌNH.

Ông Phan Đình Trạc - Bí thư Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực BCĐ, Trưởng ban Nội chính trung ương - trước hội nghị đã lưu ý "Quán triệt và thực hiện phương châm: phòng ngừa giải quyết sớm, "chữa cây bệnh, bỏ cây hỏng"

CHUỘT VẪN Ở TRONG BÌNH VẪN ĐƯỢC ĂN VÀ SINH SẢN NẾU NHƯ VIỆC CHỬA BỆNH CÂY KHÔNG LÀNH !

Cây hỏng loại bỏ chưa xong chửa bệnh cây là vô ích!
Ông Phan Đình Trạc nên chăm sóc một khu rừng thì sẽ hiểu. Đáng tiếc vì ông chưa bao giờ "trồng rừng"!

Lũ chuột sinh sôi đến ngày nào đó sẽ " TỰ PHÁ VỠ BÌNH" .
KHÔNG ĐẬP BÌNH CŨNG VỠ!

PHỒN SINH TỚI ĐÍCH





Mưa
nuốt chửng con đường
mặt trời mất tích
chân lý tắt tịt
phồn sinh tới đích


Cộ xe im thin thít
đám trẻ phơi xúc xích
đôi tình nhân thậm thịch
văng câu thề lịch bịch

Lũ chuột bơi núc ních
mặt người lột đen kịch
thành phố nằm gỡ lịch
đợi mùa mưa viên tịch

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

MẶT TRỜI ĐỎ



Mặt trời đỏ chói lòa đôi mắt
ta đi giữa ngày như kẻ mù gà
chạm vai sự thật sao nóng quá
đụng mảnh dối gian rách toạt da

Cứ ngỡ là đường cái quan ta bước
có ngờ đâu ngõ cụt chẳng còn xa
mặt trời vẫn đỏ mây nào qua
gió cũng không về lay động hoa

Ta vẫn đi như người xa lạ
máu tim chảy nhuộm ánh dương tà
"ở đây chân lý mờ nhân nghĩa
áo em đỏ quá nhìn không ra"*

Mặt trời vẫn đỏ mồm quỷ dữ
ta đi giữa ngày hóa bóng ma

* ( thơ Hàn Mặc Tử)

LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH VÀ BIKINI





Có quan điểm được nâng lên tầm lý thuyết khi biện hộ rằng, sự minh bạch giống y phục với phụ nữ. Trước công chúng, có thể người phụ nữ phục sức đơn giản, hay… cởi gì gì chăng nữa, song không thể vượt qua giới hạn bikini. Bởi nếu vượt qua, sẽ thành con dở hơi hoặc con điên. Minh bạch cũng thế.

Cái lý thuyết trên xem ra “hạp” với việc kê khai tài sản của 1.000 cán bộ ở nước ta hiện nay.


Tự kê khai rồi nhét vào hồ sơ, OK.

Nhưng kê khai rồi phải kiểm tra, giám sát thì lại rất nhậy cảm, khó làm vì động chạm đến quyền riêng tư.

Có lẽ nó nhậy cảm, khó làm như minh bạch và bikini vậy ?

Vương Xuân Tình

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2018

Muốn dân tin- hãy thực hiện theo Di chúc Cụ Hồ

Tác giả: TS Nguyễn Ngọc Chu


Nếu không thể “cách mạng” triệt để về quyền lực của Quốc hội thì cũng có thể đi một bước quá độ. Đó là biến Ban chấp hành Trung ương Đảng thành Thượng Viện và Quốc Hội là Hạ viện. (NNC).






Khi ông Nguyễn Thiện Nhân chia sẻ với cử tri Thủ Thiêm hôm 20/6/2018 rằng “ Thành phố không gạt bà con. Thành ủy này không gạt bà con”, người viết đọc ra trong đó một vị… chát đắng?


Đó là không phải Dân không muốn tin, mà Dân không dám tin chính quyền nữa. Vì sao?


Vậy làm thế nào để lấy lại lòng tin của Dân?


KHÓC CHO MỘT MẶT BẰNG THƯỢNG THƯ, NGHỊ SĨ


Khi ông Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể dùng hai từ THU GIÁ thì cả xã hội sững sờ. Sử dụng hai từ THU GIÁ vô nghĩa và không có trong tiếng Việt, ông Thể đã tự phơi bày mức độ thảm hại của cái bằng tiến sĩ mà ông sở hữu. Nhưng đó chưa phải là điều mấu chốt. Điều mấu chốt nằm ở chỗ, để bảo vệ cho việc tự do điều chỉnh phí BOT của các nhóm lợi ích, mà một ông Thượng thư mang học vị tiến sĩ đã chịu biến thành mù chữ, mù cả luật pháp. Nói mù luật pháp vì nếu thay THU GIÁ cho THU PHÍ mà tránh được pháp luật thì một người TỬ TÙ tự mình gọi mình TẠM TÙ có thoát chết được không? Đó là sự trơ trẽn chỉ có trong thời nay.


Nhưng không chỉ có ông Thể, tiếp ngay sau đó lại đến lượt ông Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ, vin vào Luật, cũng đề xuất GIÁ thay cho PHÍ. Ông Nhạ cũng không chỉ tự làm xấu học vị học hàm của mình, mà còn làm tổn thương đến chức danh Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo của quốc gia.


Không hết, lại đến lượt ông nghị Nguyễn Đức Kiên bảo vệ hai từ THU GIÁ làm cho dư luận phẫn nộ và tê tái, vì một người trình độ như ông Kiên mà lại leo lên được đến ghế Phó chủ nhiệm UB Kinh tế Quốc hội.


Rồi tiếp đến là ông Võ Trọng Việt “dịch chuyển đám mây điện toán, đám mây ảo về Việt Nam” làm cả xã hội cười nghiêng ngả, dù cười xong muốn khóc. Không phải lo quốc tế chê cười trình độ của Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội Việt Nam, mà là lo cho nền an ninh quốc phòng của nước nhà đang nằm trong những cánh tay không tương xứng.


Có bao nhiêu ông thượng thư và ông nghị như ông Thể, ông Nhạ, ông Kiên, ông Việt? Họ không chỉ là nỗi hài hước của dân mà còn là tai vạ. Một mặt bằng thượng thư và nghị sĩ thấp đến mức tủi hổ như vậy thì Đất nước làm sao có cơ hội để đuổi kịp các nước tiên tiến!


THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC LỰA CHỌN ĐBQH


Người dân từ ngàn xưa vốn chỉ muốn bình yên. Nhưng khi họ, cực chẳng đã, phải cất lên tiếng nói phản kháng lo lắng, thì đó không chỉ là vì họ bị dồn đến đường cùng, mà còn bởi chính là lúc vận nước đang bị đe dọa.


Một mặt bằng thượng thư và nghị sĩ thấp như hiện nay, chẳng những không thể đưa Đất nước bắt kịp bước đi nhân loại, mà hoàn toàn không thể đối phó được với kẻ thủ thâm hiểm đang ngày một bành trướng lớn mạnh.


Đã đến lúc phải thay đổi phương thức bầu cử ĐBQH. Rằng mọi ứng cử viên muốn tham gia ứng cử để trở thành ĐBQH thì bắt buộc phải thu được một số lượng chữ ký tối thiểu của cử tri, chẳng hạn là 50 000, và tiến hành tranh cử trực tiếp theo khu vực. Chứ không thể là cách Đảng cử và Dân điền phiếu như hiện nay. Lúc đó chất lượng ĐBQH sẽ hoàn toàn khác biệt.


THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC LỰA CHỌN NHÂN SỰ CAO CẤP


Trong Di chúc của mình Cụ Hồ viết: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. Thực trạng hàng ngũ lãnh đạo của Đảng mỗi ngày một yếu kém hơn như hiện nay là vì dân chủ trong Đảng chưa được thực hành rộng rãi.


Đã đến lúc phải “cách mạng” cách thức lựa chọn cán bộ, nhân sự lãnh đạo cao cấp, từ những người đứng đầu các tỉnh, những vị trí vô cùng quan trọng đến những người giữ chức bộ trưởng trong chính phủ…trở lên.


Tương tự như trong bầu cử ĐBQH nêu ở trên, mỗi một ứng viên ứng cử vào vị trí UVTƯ Đảng phải thu được một lượng chữ ký tối thiểu, chẳng hạn là của 10 000 đảng viên. Sau đó là tranh cử với các ứng viên khác bằng phổ thông đầu phiếu của toàn bộ đảng viên nơi địa phương mà ứng cử viên muốn tranh chức UVTƯ Đảng. Nếu làm được như vậy, trình độ các UVTƯ Đảng sẽ dần dần được nâng cao chất lượng, vượt xa so với hiện tại.


Từ các UVTƯ Đảng, bằng cách đối đầu loại trực tiếp giữa hai địa phương qua phổ thông đầu phiếu toàn bộ đảng viên của hai địa phương, giống như thể thức bóng đá, mà tìm ra nhân sự cao cấp, ưu tú. Người chiến thắng tất có trí tuệ vượt trội.


Hàng ngũ lãnh đạo Đảng mà mạnh thì Đảng tất mạnh. Hàng ngũ lãnh đạo của Đảng mà yếu thì Đảng tất yếu. Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng thông qua quyền bàu cử trực tiếp của các đảng viên sẽ lựa chọn cho Đảng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi.


GIẢI PHÁP QUÁ ĐỘ


Thực tế hiện nay, mọi việc quan trọng đều do Bộ Chính trị hay Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định trước, rồi mới chuyển sang Quốc hội bỏ phiếu. Cho nên Quốc hội ít có thực quyền. Minh chứng gần đây nhất là về Dự thảo luật Đặc khu. Bà Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân đã thừa nhận: “Bộ Chính trị đã quyết định rồi, Dự thảo không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật”.


Bởi thế, muốn lấy lại lòng tin của Dân trước hết Quốc hội phải thực quyền, đồng thời các ĐBQH phải là đại diện do chính Dân lựa chọn.


Nếu không thể “cách mạng” triệt để về quyền lực của Quốc hội thì cũng có thể đi một bước quá độ. Đó là biến Ban chấp hành Trung ương Đảng thành Thượng Viện và Quốc Hội là Hạ viện.


Làm được những điều nêu trên tất sẽ rất có lợi cho Đất nước.


HÃY LÀM THEO DI CHÚC CỤ HỒ


Lịch sử không có chữ nếu. Nên không nhắc lại lịch sử từ Đại hội Tour. Không nhắc đến những bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho TT Mỹ Truman. Không nhắc đến những lời Stalin khi gặp Hồ Chủ Tịch. Không nhắc đến Cải cách ruộng đất và Trung Quốc. Chỉ biết một thực tế là vào thời điểm cuối cùng trước khi từ giã cõi đời, trong Di chúc Cụ Hồ đã ghi: “Xây đựng một nước Việt Nam, hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, và giàu mạnh”.


Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Trung Quốc xâm lược, vì sao dân tộc Việt Nam thắng lợi? Đó là bởi khi đó Đảng hòa mình vào Dân, cùng toàn Dân dành độc lập cho Đất nước. Đó là lúc Đảng không sợ mất quyền lực mà đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên hết. Từ ngàn xưa các thời Đinh Lý Trần Lê, chưa có Đảng nhưng dân tộc Việt Nam bất khuất đã đánh tan mọi kẻ thù xâm lược.


Những lời vấn an của ông Nguyễn Thiện Nhân “không gạt bà con” cho thấy niềm tin của Dân lúc này. Muốn lấy lại lòng tin của Dân, thì đừng lo mất quyền lực, mà hãy lo làm sao để Tổ Quốc cường thịnh, Dân được ấm no.


Những tiền bối của Đảng đều ý thức sâu sắc rằng, không thể níu giữ quyền lực bằng cấm đoán, lao tù và súng đạn. Cụ Hồ đã nhìn xa nên không ngừng khuyên nhủ đội ngũ cán bộ dưới quyền phải thực hành rộng rãi dân chủ trong Đảng. Có dân chủ trong Đảng thì mới có dân chủ trong xã hội.


Nếu thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, 4.5 triệu đảng viên của Đảng được tự do bàu cử lãnh đạo của mình thì Đảng sẽ tất mạnh.


Vào cùng một thời điểm trong vũ trụ bao la, nơi này có mặt trời sinh ra thì nơi khác mặt trời tan biến. Đến vũ trụ không cùng mà còn không ngừng thay đổi, huống chi một đất nước, một nền pháp trị đang phải hoàn thiện bởi còn quá nhiều khiếm khuyết…

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

MÙI TÔI




Cảm giác bất an
sự vô dụng
của nỗi buồn không tên
lềnh bềnh
trôi
bốc mùi tương lai
bốc mùi quá khứ
và đầy ứ hiện tại
mùi tuyệt vọng
trong căn phòng
không bóng

Đó
là mùi của tôi
đêm cúp điện
mưa tịnh tiến
điện thoại hết tiền
bầu trời chớp lạch gọi tên
nỗi sợ hãi chảy đến
liếm
máu của lũ muỗi văn minh
no nê tình

Không có gì chứng minh
sự chết thời tiền sử
nỗi buồn không tên ở cử
bốc mùi


tôi

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

GIẤC NGỦ TỰ DO



Bao nhiêu năm ôm giấc mộng
bay trên bầu trời tự do
ngã lên thảm cỏ bình nguyên lộng gió
uống giọt nước trời chẳng phải đắn đo
xin cho
con dấu đỏ
đóng khung cửa ngõ
xó nhà đói no

Sợi tóc buồn so
co ro bạc
dòng sông trôi nhàn nhạt
ánh trăng suông
đêm kéo màn diễn tuồng Hamlet (*)
cánh gà lẹt đẹt tiếng sao băng

Thời gian cắn đắng
giấc mơ già khằn
tự do nhúm nhăn vòng đời sinh tử
bước chân cô lữ
tìm đường tha thứ
câu thơ vô tự
lạc giữa thiên thu
góc tình mê mụ


giấc ngủ tự do

THẾ KỶ LẠNH



Bước chân lạnh
đôi tay lạnh
mái đầu phong phanh
những ngôi sao trên cao
không một đốm lửa nào
hấp háy
hơ chảy
máu tim
con đường lặng im
hun hút
đêm

Căn phòng lạnh
gối chăn lạnh
chiếc quạt trần quay nhanh
lũ muỗi xúm nhau tranh
một nhúm âm thanh
vọng động
đánh bóng
giấc mơ xưa cũ
lụ khụ
đêm

Hiện tại
ngái ngủ
sự sống chìm trong lời chỉ dụ
ướp lạnh
đêm
loài sâu bọ nhung nhúc tìm
ăn
tất cả
những gì chúng có thể ăn
cho giấc ngủ đông


thế kỷ

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

MƯA




Mưa đục ngầu
phố
đội khăn
Người bước qua
ta
vỡ
tan
vội vàng
*
Tháng 5
trái chín
thơm cành
Mưa
gieo
hạt nhớ
muộn màng
bể dâu
*
Vẽ chi màu trắng
nặng sầu
con sâu
ăn trái
còn đâu
tình về
*
Mưa
lê thê
phố
vụng về
từng bong bóng
chở
câu thề
đi hoang

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

Thận trọng với luồng FDI từ Trung Quốc đang đổ vào Việt Nam

http://iavietnam.net/detailnews/M48/N1340/than-trong-voi-luong-fdi-tu-trung-quoc-dang-do-vao-viet-nam.htm




Những DN FDI có vốn đầu tư từ Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan, Hồng Kông) đang "ào ạt" đổ vào Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Đây là cơ hội để Việt Nam bổ sung thêm nguồn vốn cho phát triển kinh tế, song theo các chuyên gia, cần hết sức cẩn trọng bởi uy tín của những nhà đầu tư này thường không được "chấm điểm" cao.

Cuối năm 2015, UBND tỉnh Bình Dương đã trao Giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Cheng Loong Bình Dương Paper (Đài Loan) để xây dựng nhà máy sản xuất giấy bao bì tại khu công nghiệp Singapore Ascendas-Protrade. Dự án có quy mô sản xuất hơn 1 triệu tấn/năm và tổng vốn đầu tư của dự án này lên tới 1 tỷ USD.

Còn ở phía Bắc, Tập đoàn Texhong cũng đang khẳng định sự hiện diện tại Việt Nam bằng hàng loạt dự án trăm triệu USD. Ngoài một nhà máy sợi 300 triệu USD đã đi vào hoạt động từ năm 2013 ở Quảng Ninh, năm 2014, Texhong cũng đã chính thức khởi công Dự án hạ tầng khu công nghiệp Texhong Hải Hà (Quảng Ninh), với tổng vốn đầu tư 215 triệu USD, đồng thời đổ thêm 300 triệu USD để thực hiện Dự án Chuỗi dây chuyền công nghiệp dệt may tập trung tại chính địa điểm này.

Ngoài ra, hàng loạt dự án FDI vốn “khủng” khác cũng đang được các DN Trung Quốc triển khai đầu tư. Đó là Dự án Lốp xe Việt Luân, vốn đầu tư 400 triệu USD tại khu công nghiệp Tây Ninh; Dự án chế biến cao su Tân Cao Thâm tại Lào Cai với tổng vốn đầu tư 337,5 triệu USD; Dự án Khoáng sản và Luyện kim Việt - Trung tại Lào Cai, với vốn đầu tư 337,5 triệu USD...

Thực tế, từ năm 2010 trở về trước, dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam khá khiêm tốn. Trong top 10 quốc gia đầu tư vào Việt Nam, hầu như không có tên của Trung Quốc. Nhưng gió đã đổi chiều, kể từ năm 2011 trở lại đây, vốn FDI Trung Quốc vào Việt Nam có sự thay đổi đáng kể. FDI của Trung Quốc tại Việt Nam liên tục vươn lên trong vị trí xếp hạng, tăng về quy mô, thay đổi về hình thức, lĩnh vực, mở rộng về địa bàn. Điển hình là từ năm 2015 trở lại đây, cùng với việc Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Trung Quốc thường nằm trong top 10 các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam để đón đầu cơ hội thâm nhập thị trường béo bở TPP. 2 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc tiếp tục nằm trong top 3 quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam.

Lý giải việc dòng vốn FDI từ Trung Quốc chọn Việt Nam là điểm đến, chuyên gia kinh tế TS. Bùi Trinh cho rằng chiến lược của Chính phủ Trung Quốc hiện nay là khuyến khích, thúc đẩy các DN đầu tư ra nước ngoài để thu lợi, bù đắp cho những khó khăn ở trong nước.

Nhận định này của TS. Bùi Trinh khá tương đồng với các nhận định được Ủy ban về quan hệ Mỹ Trung (USCC- China Economic and Security Review Commission) nêu ra trong báo cáo của tổ chức này về quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Theo USCC, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài bằng cách sử dụng quỹ ngoại hối dự trữ và cố gắng giảm mức độ đầu tư quá đáng trong nước. Đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đã tăng từ 34 tỷ USD vào năm 2003 lên đến 525,7 tỷ USD vào năm 2013. Cũng trong khoảng thời gian này, đầu tư nước ngoài vào các nước ASEAN đã tăng mạnh từ khoảng 300 tỷ USD vào năm 2003 lên đến 1.500 tỷ USD vào năm 2013.

Trước dòng chảy vốn FDI của Trung Quốc ồ ạt vào Việt Nam, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Trung Quốc (thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đã từng có một nghiên cứu chi tiết về nguồn vốn này. Theo đó, điểm có ích khi Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam là FDI của Trung Quốc đã góp phần bổ sung nhu cầu vốn cho đầu tư và phát triển của Việt Nam cũng như bổ sung nguồn vốn cho cán cân thanh toán. Ngoài ra, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao năng lực cho người lao động ở Việt Nam; làm cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế của các nước trong khu vực châu Á và nền kinh tế thế giới.

Tuy vậy, nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Trung Quốc cũng chỉ ra nhiều mặt hạn chế của dòng vốn này. Đó là FDI của Trung Quốc không chú ý đến các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, chỉ chú ý nhiều đến khai thác tài nguyên của Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên trải dài suốt từ Bắc đến Nam của Việt Nam. Tình hình này đã gây nên sự xáo trộn trong quy hoạch ngành, vùng, miền kinh tế của Việt Nam. Mặt khác nếu quản lý các dự án này không tốt, sẽ còn gây nên nguy cơ về ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của Việt Nam.

Bên cạnh đó, FDI của Trung Quốc yếu kém trong chuyển giao công nghệ, phần lớn là công nghệ lạc hậu hay thuộc các ngành gây ô nhiễm môi trường. Mục tiêu của Trung Quốc là dịch chuyển các cơ sở sản xuất thâm dụng nhiều lao động, mức lương thấp, hàng hóa giá rẻ và công nghệ không cao ra nước ngoài. Đây chính là hạn chế lớn nhất của các DN FDI Trung Quốc tại Việt Nam. Có nhiều mối quan ngại rằng việc NK máy móc thiết bị từ thị trường Trung Quốc có thật sự hiệu quả hay Việt Nam là nước tiêu thụ lại công nghệ lỗi thời, lạc hậu cho Trung Quốc…

Mai Thanh

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Ô CỬA ĐỢI





Thành phố so đo
mưa co rúc
mắt em hun hút góc chiều trông
ô cử đợi khép hờ khát vọng
tường rêu phong bóng rỗ mênh mông


Gió chạy rông kiếm tìm con sóng
vỗ bến lòng an ủi hoàng hôn
đêm bế bồng tóc ru gối mộng
vồng ngực căng phồng dấm dúi yêu thương

Trái tim tan chảy vô thường
sầu tuôn xuống phố náo nương chân người
ở đi chỉ mỗi môi cười
trên ô cửa đợi một đời đầy vơi

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

MÙI HƯƠNG LẠ LẪM




Người đi qua để lại mùi hương lạ lẫm
cho ta hoài châm bẩm đợi chờ
viết những bài thơ chất chồng thương nhớ
thả lên trời cho nguyệt lão mộng mơ


Sợi dây tơ ai cột hững hờ
khiến duyên nợ giả vờ lở dở
nhân gian một kẻ dại khờ
thoáng hương xa lạ ngẩn ngơ kiếp người


Nào phải đâu là mùi hương của tóc rối
để đêm về đưa gió thổi bay
nào phải đâu là mùi hương của da thịt trên tay
để tẩm ướp giọt mồ hôi ân ái
nào phải đâu là mùi hương từ đôi môi mấp máy
thở vào ngày rạo rực đắm say
chỉ là mùi hương từ cái nhìn khắc khoải
đi xuyên qua số phận vắn dài


Người qua rồi ta còn chưa tỉnh lại
để miệt mài tìm mãi một mùi hương...

AI LÀ KẺ BÁN NƯỚC




Đảng CSVN dưới sự lãnh đạo của TBT Nguyễn Phú Trọng đã dần giành lại niềm tin của nhân dân lao động và trí thức trong và ngoài nước.

Việc xử lý Trịnh Xuân Thanh, Vũ Nhôm, Trọc Hệ, Phan Văn Vĩnh, Đinh La Thăng...những mắc xích quan trọng của "Băng Nhóm lợi ích" đã làm rúng động cả hệ thống Tham Nhũng.


Bên cạnh đó là những Cải cách đúng đắn từ Bộ Công An, Bộ Quốc Phòng, Giáo dục, Bảo Hiểm Xã Hội., Bộ thông tin truyền thông.. nhất là đề án cải cách tiền lương đã cho thấy Đảng đang đang đồng hành cùng Nhân nhân.

Việc thay đổi Bí thư Kiên Giang Nguyễn Thanh Nghị( con trai cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng) là Tối hậu thư đối với "Băng nhóm lợi ích" và những kẻ Tham nhũng đang còn tại vị trong Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ. Những sai phạm ở Phú Quốc, Thủ Thiêm ...lần lược được phơi bày. Đặc biệt trên mạng Xã Hội hàng loạt những sai phạm của các quan chức lớn nhỏ( luôn có dấu hiệu tham nhũng) được tiết lộ...nhận được sự ủng hộ rất lớn của đông đảo nhân dân trong và ngoài nước.

Với đà này, sẽ không ít những vị Đại biểu quốc hội đương nhiệm sẽ bị vạch trần bởi mạng Xã hội. Điều đó cũng giải thích vì sao 80% ĐBQH bỏ phiếu thông qua Luật An Ninh Mạng. Chúng ta đều biết hầu hết các ĐH quốc hội đều là quan chức Nhà Nước đương nhiệm! Tìm được một quan chức Nhà nước trong sạch thì được mấy người.
"Tham nhũng" là " Quốc nạn" . Từ "tội phạm Tham nhũng" tiến đến sự phản bội dân tộc, sẳn sàng bán đứng đất nước cho ngoại bang.

Luật Đặc khu, Luật an ninh mạng được đưa ra đúng vào thời điểm khí thế toàn dân tham gia chống " Tham nhũng" lên đến cao trào.
Mấy ngày qua, phản ứng của đồng bào trong và ngoài nước cho thấy niềm tin vào công cuộc cải tổ của TBT Nguyễn Phú Trọng, Vào một Chính phủ kiến tạo không khỏi bị giảm sút.
Và Ai là người được lợi?




Vàng thiệt không sợ lửa

Chúng ta đều quen thuộc với câu " Vàng thiệt thì không sợ lửa",

Tiền thân của Luật An ninh Mang phải chăng là Nghị định 72/2013 NĐ-CP do chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 15/072013 vốn được xem là nhằm hạn chế "Tự do ngôn luận". Cũng chính Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là người " Kiên quyết cấm Báo chí Tư nhân".

Chỉ mới đây, ,ngày 1/3/2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị định số 27/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

So với quy định tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn thi hành, Nghị định 27/2018/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng đã sửa đổi, bãi bỏ nhiều điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính không còn phù hợp nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, hỗ trợ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình hoạt động cũng như chuẩn bị hồ sơ cấp phép trong các lĩnh vực thông tin điện tử, viễn thông… Nghị định 27/2018/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2018.

Nghị Định còn chưa kịp triển khai rộng rãi thì Luật An ninh mạng được trình.Mục tiêu của Luật An ninh mạng được ông Nguyễn Thanh Hồng – Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã nói trên tờ VnExpress: “An ninh mạng nếu giải thích dễ hiểu nhất là không truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước và làm sao để mỗi công dân có ý thức trong việc phòng chống tội phạm, bảo vệ bản thân và gia đình”. Với phát biểu này khiến người ta hiểu rằng Luật An Ninh Mạng ngăn chặn " việc truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước"- và để làm được điều đó thì phải "hạn chế việc sử dụng internet, mạng xã hội " của người dân.

Cũng với phát biểu đó, Luật An ninh mạng là giúp người dân có ý thức trong việ phòng chống tội phạm, bảo vệ bản thân và gia đình.

Bảo vệ bản thân và gia đình ai? Phải chăng đó là những "QUAN THAM"!

Lẽ nào, ở cương vị của ông lại không hiểu tinh thần của Nghị định 28/2018 mà Thủ tướng chính phủ vừa ban hành. Và chắc ông cũng không nghe, không biết gì vế những phát biểu của Bô trưởng Bộ Công An Tô Lâm ?

Trong khi đó, Liên Hiệp Quốc đã thống nhất xem quyền sử dụng internet là một trong những quyền của con người.

Thế giới se nghĩ gì trước phát biểu của Ông Nguyễn Thanh Hồng- Ủy viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Việt Nam,?

Có điều, dưới con mắt của nhiều vị Đại biểu quốc hội thì Luật An ninh mạng ( trong lúc biểu tình chống Luật Đặc Khu đang rầm rộ) là cần thiết , có thể bảo vệ được chế độ, phòng chống được tội phạm và bảo vệ được bản thân và gia đình của công dân.


Điều 8 Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ 1/1/2019) quy định 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm thực hiện trên không gian mạng gồm:
1

Sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử vi phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; các hoạt động chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người và xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.
2

Thực hiện chiến tranh mạng, tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3

Sản xuất, sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.
4

Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
5

Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.
6

Hành vi khác sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc vi phạm quy định của Luật này.

Chuyên gia an ninh mạng Dương Ngọc Thái đã lên tiếng cảnh báo những sai lầm nghiêm trọng của Luật an ninh mạng: Nguy cơ vừa mất an ninh quốc gia vừa kìm hãm sự phát triển đất nước.

Xen bài ( https://www.facebook.com/phamdinhtructhu/posts/2128362267445683)


Thế nhưng Luật an ninh mạng được thông qua với đa số phiếu.

Có ý kiến cho rằng Chính phủ nên công khai danh sách những đại biểu bấm nút đống ý. Điều này hoàn toàn đúng đắn. Không thì những vị này cũng tự công khai danh tính mình để dân ngưỡng mộ và biết đâu trong nhiệm kỳ tới sẽ tiếp tục dành cho lá phiếu bầu. Để có một Chính phủ Minh bạch thì trước hết quốc hội nên thực hiện sự minh bạch.


( còn tiếp)

EM CÓ CÒN NGỒI GIỮ DẤU CHÂN XƯA



Đã lâu rồi anh không về với biển
trầm mình trong con sóng tự do
tẩy nhuốc nhơ ao tù thành thị
rửa thị phi giả trá bán mua


Biển có còn thương bước chân vội nhòa vết tích
có còn thương ngọn gió mềm mái tóc rối tinh
có còn thương tiếng cười giòn tan trong cát
có còn thương đôi vai trần gánh muối quê hương


Đã lâu rồi anh không về với biển
em có còn ngồi giữ dấu chân xưa

EM CÓ CÒN NGỒI GIỮ DẤU CHÂN XƯA



Đã lâu rồi anh không về với biển
trầm mình trong con sóng tự do
tẩy nhuốc nhơ ao tù thành thị
rửa thị phi giả trá bán mua


Biển có thương bước chân vội nhòa vết tích
có còn thương ngọn gió mềm mái tóc rối tinh
có còn thương tiếng cười giòn nghe tan trong cát
có thương đôi vai trần gánh muối quê hương


Đã lâu rồi anh không về với biển
em có còn ngồi giữ dấu chân xưa

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

THÀNH PHỐ VÀ NHỮNG CÂU THƠ



Thành phố ngu ngủ
triệu triệu người mơ mơ màng màng
mặt trời sắp tàn
mây che ngang
trên nóc vinh quang
những lá cờ đỏ bầm
cố phất phơ hào quang
giả tạo
chiếu lên những gương mặt trân tráo
lũ trẻ ngơ ngáo
thực hư bước vào
chân lý nháo nhào


Thành phố lơ lơ láo láo
âm sắc vô đạo
từ những cây cột đèn hau háo
tràn máu
chảy vào nỗi đau
tự do khát khao

Tóc mẹ bạc màu
khói nhang cầu vọng
xin với hư không
những đứa con lạc lõng
tỉnh mộng
giàu sang

Thành phố im im lặng lặng
ánh trăng lãng vãng
huyễn hoặc những linh hồn lang thang
vào giấc mơ bình an

Hoàng hôn đỏ quạch
mặt trời lạch bạch
sự sống mong manh
đợi chờ tắt lịm

Những câu thơ nghẹn tiếng
nhiễu nhiễu nhương nhương
nơi những bức tường
giam hãm yêu thương

Trái tim tôi rớt xuống đường
không hóa thành viên kim cương
đánh thức những pho tượng
chán chường tai ương

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

BƯỚC CHÂN RA PHỐ


Cất nỗi nhớ em
đêm
nghe loài sâu ngủ muộn
nhìn trăng hạ tuần quyến luyến vàng phai
bóng ngã lên tay gió thôi thở dài
lòng gom lại tháng ngày đợi nhớ


Câu thơ độc vận còn dang dở
lững lờ trôi hờ hững trời mơ
người đến người đi có chi là bỡ ngỡ
tình vô thường
đời lắm ngu ngơ


Cất dại khờ
lắng nghe mặt trời dậy sớm
hạt nắng ươm hoa cúc trắng thơm
bước chân ra phố
nụ cười bỗng nở
vị tha về thong thả ngày trôi...

BÂY GIỜ KÝ GIẢ ĂN LƯƠNG NÊN ĐÂU CẦN PHẢI ĂN MÀY TỰ DO



BÂY GIỜ KÝ GIẢ ĂN LƯƠNG
NÊN ĐÂU CẦN PHẢI ĂN MÀY TỰ DO
CỚ CHI DÂN CHÚNG PHẢI LO
LUẬT AN NINH MẠNG NHẬP KHO ĂN MÀY

Năm 1972 chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã cho áp dụng Sắc luật 007 với quy định số tiền phải ký quỹ rất lớn làm nhiều báo không có tiền ký đành đóng cửa. Theo điều luật này, tờ báo nào bị tịch thu lần thứ hai do có bài vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Điều này được xem như dùng "bàn tay sắt" đối với giới báo chí. Nhiều tờ báo bị đóng cửa, chủ báo bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, một số người còn bị tù. Có khoảng 70% người làm báo bị thất nghiệp. Trước tình hình đó, các nghiệp đoàn ký giả ở Sài Gòn đã tập hợp lại để tìm ra một biện pháp nhằm cứu nguy cho báo chí.

Ngày 8 tháng 9 năm 1974, một cuộc họp liên tịch đã được hội chủ báo tổ chức, với ba đoàn thể ký giả tham dự là: Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt, Hội ái hữu ký giả Việt Nam và Nghiệp đoàn ký giả Việt Nam. Cuộc họp đã bầu ra Ủy ban đấu tranh đòi tự do báo chí do ông Nguyễn Văn Binh, dân biểu đối lập, đại diện báo Đại dân tộc làm chủ tịch. Nhiệm vụ trước hết của Ủy ban này là chống lại việc thi hành luật 007.

Hình thức đấu tranh "ký giả xuống đường đi ăn mày" được thống nhất. Các đại diện của ban tổ chức gồm có: Nguyễn Kiên Giang (chủ tịch Nghiệp đoàn Nam Việt), Tô Văn, Phi Vân của đoàn ký giả Nam Việt; nhà báo Văn Mại (cựu tổng thư ký tòa soạn báo Buổi Sáng), Lý Bình Hiệp, Trần Kim Uẩn của Hội ái hữu ký giả Việt Nam; Thái Thương Hoàng, Thái Dương, Tô Ngọc của Nghiệp đoàn ký giả. Trong đó, các thành viên Văn Mại, Đoàn Hùng, Ái Lan, Ninh Anh lo chuyện tài chính. Ngoài ra, thành phần dẫn đầu còn có nhà báo Nam Đình (chủ báo Thần Chung và sau là Đuốc Nhà Nam), Trần Tấn Quốc (chủ nhiệm tờ Tiếng Dội Miền Nam và là người khởi xướng giải thưởng cải lương Thanh Tâm), nhà báo Tô Nguyệt Đình tức Nguyễn Bảo Hóa, nhà thơ – nhà báo - soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà...

Danh xưng ban đầu là "Ngày báo chí xuống đường đi ăn mày", nhằm tập hợp, tranh thủ giới chủ báo và tất cả những người làm việc trong bộ máy làm báo, từ ký giả, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trên báo, họa sĩ, nhiếp ảnh viên, những người làm công tác trị sự, phát hành báo, thầy cò... gọi chung là "công nhân liên thuộc".

Ban tổ chức quyết định chọn ngày 10 tháng 10 năm 1974 làm ngày xuống đường biểu tình. Nón lá, bị, gậy (các vật dụng của ăn mày) được chuẩn bị sẵn. Các khẩu hiệu làm sẵn đeo trên ngực, kẻ trên nón lá dòng chữ "10-10-1974, ngày ký giả đi ăn mày". Các lực lượng cũng được bố trí theo vòng trong, vòng ngoài, sẵn sàng đối phó với việc bị khủng bố từ phía chính quyền. Chính quyền Sài Gòn cũng đã được ban tổ chức chính thức thông báo.

Suốt trong ngày 9/10/1974, rất nhiều thành phần trong giới báo chí, quần chúng cảm tình với báo chí, nghị sĩ, dân biểu... đã đến Câu lạc bộ báo chí (số 15 Lê Lợi) để bày tỏ cảm tình, tiếp tế bánh mì, thuốc lá, cà phê, cam, chanh...

Sáng 10-10-1974, một nguồn tin cho biết, chính quyền Sài Gòn sẽ "không đàn áp bằng vũ lực, không giải tán nhưng cũng không cho ký giả xuống đường đi ăn mày". Thực sự, chính quyền đã bố trí một lực lượng binh lính, mật thám, xe Jeep... để đàn áp.

Đúng 8 giờ sáng, Nguyễn Kiên Giang thay mặt Ban tổ chức đọc bản tuyên bố "Báo chí phải đi ăn mày vì Luật 007 của Tổng thống Thiệu".

Sau khi lệnh xuất phát được ban ra, đoàn người bắt đầu tìm cách phá hàng rào bao vây của cảnh sát, vì thế đã xảy ra xô xát. Trước quảng trường bao quanh Câu lạc bộ báo chí, cảnh sát tổ chức một hàng rào mạnh chặn ngang đường Lê Lợi, nhằm ngăn cản đoàn biểu tình đi theo lộ trình đã được vạch sẵn từ trước: xuống chợ Bến Thành, vòng công trường Quách Thị Trang rồi trở về quảng trường trước trụ sở Hạ viện (nay là Nhà hát Thành phố). Nhưng cuối cùng đoàn người biểu tình đã phá vỡ hàng rào cảnh sát, kéo nhau đi. Đi đầu đoàn biểu tình là Ban tổ chức với biểu ngữ: "10-10-1974, ngày báo chí đi ăn mày". Cùng với đoàn ký giả đi ăn mày còn có các khẩu hiệu khác: "Yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức". "Tự do ngôn luận, tự do báo chí", "Đả đảo Luật 007", "Luật 007 làm báo chí phải đi ăn mày", v.v... Hai bên đoàn biểu tình là Biệt đoàn ký giả nhân dân tự vệ, có nhiệm vụ chống đỡ cho đoàn ký giả nếu xảy ra đàn áp.

Trong ngày 10/10/1974, đoàn ký giả đã hoàn thành lộ trình định sẵn, kết thúc thành công cuộc xuống đường biểu tình. Sau khi giải tán, một số nhà báo và dân biểu lui về trụ sở của Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt - đầu đường Lê Lợi, đối diện với trụ sở Hạ nghị viện để canh giữ quà biếu nhận đường từ quần chúng. Tại đây đã diễn ra một cuộc đàn áp của cảnh sát, trực tiếp chỉ huy là Giám đốc cảnh sát Trang Sĩ Tấn. Nhiều người bị đánh đập bằng dùi cui, trong đó nặng nhất là dân biểu bác sĩ Đinh Xuân Dũng.

Đoàn biểu tình đặt ông Dũng lên băng ca, khiêng đến đến Tòa án Sài Gòn trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để "nằm vạ đòi công lý", nhưng giữa đường bị cảnh sát chặn lại, đàn áp bằng vũ lực, cuối cùng phải quay trở lại Hạ viện.

Cả hai đài Tiếng nói Hoa Kỳ và BBC đều nhìn nhận đây là "cuộc biểu tình lớn nhất kể từ 3 năm qua". Uy tín của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu càng bị suy giảm nặng nề.

NGUỒN : wiki

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

NHẶT LẠI TÀN PHAI





Tình ai vun đầy
cô đơn thức dậy
sầu trèo lên cây
lá xanh hao gầy


Đợi cơn gió đẩy
thu về nơi đây
bàn tay run rẩy
nhặt lại tàn phai

Thả giấc mơ bay
lên vầng trăng say
khuyết tròn tự tại
duyên nợ sơ khai

Bất đồng chính kiến, sự thật, và sự tan rã của Liên Xô






Nguồn: Gal Beckerman, “How Soviet Dissidents Ended 70 Years of Fake News”, The New York Times, 10/04/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Mùa hè năm 1990, vào thời điểm sống còn khi đất nước bắt đầu đi từ cải tổ sang tan rã, Mikhail S. Gorbachev đã tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Time rằng “Tôi ghét những lời nói dối.” Đo là một tuyên bố mang tính cách mạng, chỉ bởi nó xuất phát từ miệng một nhà lãnh đạo Liên Xô.

Ngoài mặt, ông chỉ đơn giản đang tung hô chính sách công khai hóa (glasnost) của mình, chính sách cởi mở mới được giới thiệu cùng với cải tổ (perestroika), hay việc cơ cấu lại nền kinh tế chỉ huy của Liên Xô nhằm cứu đất nước khỏi tình trạng “rơi tự do” về địa chính trị. Gorbachev đã đánh cược rằng quyền thể hiện ý kiến một cách thành thật và tự do – hay một nền báo chí có thể phê bình và điều tra, sách lịch sử không cần đổi tên nhân vật, cùng với một chính phủ trung thực và có trách nhiệm giải trình – sẽ có thể cứu vãn thành trì đang lung lay của chế độ Cộng sản.

Trong cuốn Dismantling Utopia: How Information Ended the Soviet Union, Scott Shane – phóng viên tại Moskva của tờ Baltimore Sun (và hiện giờ đang làm việc cho tờ Times) – viết rằng: đối với nhà lãnh đạo Liên Xô, glasnost là “một cái đèn khò có thể thổi sạch lớp sơn cũ đang bong tróc khỏi xã hội Liên Xô. Nhưng hệ thống cộng sản đã chứng minh rằng nó là một mồi lửa.”

Người phương Tây luôn ca ngợi Gorbachev vì lòng dũng cảm của ông khi bắt đầu canh bạc này – ngay cả khi ông đánh mất cả một đế quốc trong tiến trình đó – nhưng ông đã làm điều đó vì chịu áp lực. Ý tưởng rằng việc đề cao sự thật có thể giải phóng Liên Xô khỏi tham nhũng và ốm yếu không phải là mới. Gorbachev đã lặp lại và sử dụng các lập luận của một phong trào bất đồng chính kiến mà suốt nhiều thập niên đã nhấn mạnh rằng sự thật là hình thức phản kháng thiết yếu của họ.

Nếu Liên Xô là ví dụ lớn nhất của thế kỷ 20 về một chế độ sử dụng tuyên truyền và thông tin để kiểm soát các công dân của mình – hay 70 năm thao túng tin giả – thì dịp kỷ niệm một trăm năm Cách mạng Bolshevik là một thời điểm quan trọng để đánh giá lại cách mà nó tạo ra một làn sóng phản kháng mạnh mẽ trong xã hội dân sự “ngầm” tại Moskva và Leningrad.

Phản kháng nội bộ thực sự chống lại chế độ Liên Xô bắt đầu nổi lên trong những năm 1960, vào thời điểm nhiệt độ chính trị trong nước đang chuyển từ thời kỳ hậu Stalin hừng hực sang lạnh lẽo trở lại. Đàn áp bắt đầu với phiên tòa xét xử các nhà văn trào phúng Yuli Daniel và Andrei Sinyavsky vào đầu năm 1966. Khi các đợt phản kháng và các phiên tòa tiếp diễn sau đó, phe bất đồng chính kiến đã phải đối mặt với một tình trạng lưỡng nan thú vị: làm thế nào để chống đối hiệu quả nhất trong bối cảnh thông tin họ có đang ngày càng nhiều. Gần như hàng ngày, họ đều được nghe chi tiết về những cuộc thẩm vấn, những câu chuyện được truyền lại về cuộc sống trong các trại lao động, cũng như những cuộc lùng sục và bắt bớ.

Nhóm bất đồng chính kiến có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền riêng của mình, nhấn mạnh cuộc bức hại và biến vốn từ ngữ phong phú của Liên Xô về những kẻ “côn đồ” và “phần tử phản xã hội” thành những áng văn dài cay đắng chống lại nhà nước. Nhưng họ đã không làm vậy. Thay vào đó, họ đã chọn cách truyền đạt một cách phi cảm xúc và trong trẻo nhất có thể. Họ đã đạt được những gì chúng ta có thể gọi là sự khách quan.

Nhiều thế hệ công dân Liên Xô đã tự đào tạo mình để nghĩ về sự thực như một khái niệm mang tính tương đối. Các bài báo đã được đọc như những câu chuyện nhằm tôn vinh nhà nước chứ không phải phản ánh thực tế. Và người ta cũng bị tách biệt thành những con người riêng tư, thường khác biệt với khuôn mặt và lời nói chốn công cộng của họ.

Do xã hội Liên Xô được xây dựng dựa trên sự lừa dối kéo dài hàng thập niên này, điều đáng chú ý và khiến ta yên tâm là việc nói thật và nói rõ ràng vẫn có quyền lực lớn lao trong số cho các nhà bất đồng chính kiến vào những năm 1960. Và thực sự là vậy. Hãy nghe Lyudmila Alexeyeva, một trong những nhà sáng lập của một tạp chí ngầm quan trọng nhằm tôn vinh sự thật, tờ A Chronicle of Current Events, mô tả về sự cuốn hút gần giống với tôn giáo:

“Đối với từng người trong chúng tôi, làm việc cho tờ Chronicle có nghĩa là cam kết trung thành với sự thật, nó có nghĩa phải gội sạch bản thân khỏi mọi dơ bẩn của việc ‘suy nghĩ nước đôi’ vốn đã tràn ngập mọi giai đoạn trong đời sống Liên Xô,” bà viết. “Tác động của Chronicle là không thể đảo ngược. Mỗi người trong chúng tôi đã trải qua điều này một mình, nhưng ai cũng biết những người khác cũng đã trải qua cuộc tái sinh đạo đức này.”

Với cam kết sẽ buộc Liên Xô phải chịu trách nhiệm giải trình trước luật pháp quốc gia và các hiệp ước quốc tế, A Chronicle of Current Events đã đại diện cho sự tái sinh của xã hội dân sự. Đó là một cộng đồng nhỏ, và là một cộng đồng chỉ tồn tại trên những trang giấy mỏng như vỏ hành tây của samizdat,[1] những ấn bản bất hợp pháp do các nhóm bất đồng chính kiến tự xuất bản, nhưng đây là nơi mọi người có thể hành động như một công dân, chứng kiến và tố cáo các hành vi vi phạm nhân quyền và dân quyền.

Tờ Chronicle đã làm việc một cách ngay thẳng. Các số báo được in tại Moskva và sau đó được truyền tay. Nếu ai đó có một số thông tin muốn truyền đi, họ có thể viết nó trên một tờ giấy và chuyển nó cho người mà trước đây cho họ bản sao của tạp chí, người này sau đó sẽ chuyển nó về lần lượt theo từng mắt xích trong chuỗi. Điểm đầu nguồn có các biên tập viên như Natalya Gorbanevskaya, “nhà biên soạn” đầu tiên của tạp chí, theo cách mà họ thích tự gọi mình. Sau này bị bắt giữ bởi cơ quan an ninh quốc gia, K.G.B., vào năm 1969, Gorbanevskaya đã bị nhốt trong một viện tâm thần cho đến năm 1972.

Trong khoảng 65 số báo, xuất bản từ năm 1968 đến năm 1983, Chronicle đã trở thành một danh mục ghi chép lại những vụ lạm dụng, trấn áp bất đồng chính kiến bằng một giọng văn trung lập nhất có thể. Đó là một nỗ lực hết sức cần mẫn để công bố những thông tin mà sẽ chẳng bao giờ xuất hiện trên các phương tiện truyền thông chính thức của Liên Xô. Trong tạp chí này, người ta có thể đọc được chi tiết các phiên tòa chính trị được xử kín và các câu chuyện về những gì mà Chronicle gọi là “cuộc bức hại không qua xét xử,” hiểu sâu hơn về quá trình bắt bớ của K.G.B., đọc những tài liệu mật vốn dĩ chỉ dành cho những người cầm quyền, tìm hiểu về các cuộc bức hại tôn giáo và văn hoá liên tục xảy ra, và cập nhật tin tức về các tù nhân chính trị ở phương Đông.

Đây là một nỗ lực tự tạo ra một nguồn tin tức có giá trị và có thể kiểm chứng được. Chronicleyêu cầu những người đóng góp tin tức phải “thật cẩn thận và chính xác” với bất kỳ thông tin nào họ đưa ra/truyền đi và thậm chí còn thường xuyên xuất bản thông tin đính chính những ấn phẩm trước (đây là việc làm tiên phong mà một số cơ quan truyền thông phương Tây phải nhiều năm sau mới áp dụng). Theo vị học giả chuyên nghiên cứu về tình trạng bất đồng chính kiến ở Liên Xô Peter Reddaway, viết vào năm 1972, “mục đích của Chronicle là sự cởi mở, không bí mật, tự do thông tin và biểu đạt. Tất cả những khái niệm này được gộp vào một từ tiếng Nga, glasnost.”

Hành động này trực tiếp chống lại mệnh lệnh mà nhà lãnh đạo Bolshevik, Vladimir Lenin, ban hành cho báo chí trong thời kỳ tiền Cách mạng Nga hồi năm 1901. Báo chí khi ấy “không chỉ là một nhà tuyên truyền và kích động tập thể, mà còn là một nhà tổ chức tập thể” – nói cách khác là một công cụ để củng cố sức mạnh của nhà nước. Đối với nhà biên soạn Alexeyeva, Chronicleđại diện cho một cái gì đó rất khác biệt và không có tiền lệ ở Liên Xô: “Một nguồn thông tin trung thực về các tầng nấc ẩn giấu trong xã hội chúng ta.”

K.G.B. đã không nương tay với hành động này, và Gorbanevskaya chỉ là người đầu tiên trong số rất nhiều biên tập viên bị bắt giữ và bỏ tù. Tuy nhiên, vào những năm 1970, việc thu thập bằng chứng thực tế này đã trở thành phương thức hành động chủ yếu của các nhà bất đồng chính kiến, đặc biệt là trong số những nhân vật nổi bật nhất của phong trào như Andrei Sakharov, nhà vật lý Liên Xô, người đã được trao giải Nobel Hòa bình năm 1975. Trong một số trường hợp, đó là những người mà công việc đòi hỏi họ nghiêng về sự thật – nhiều người trong số họ là các nhà khoa học, một nghề mà chính họ đã lựa chọn trước khi bắt đầu trở thành nhà bất đồng chính kiến nhằm thoát khỏi bất kỳ lĩnh vực nào có thể bị bóp méo bởi ý thức hệ cộng sản.

Năm 1975, Liên Xô, với suy nghĩ rằng mình đang thông minh hơn phương Tây, đã ký Định ước Helsinki. Bản hiệp ước mang lại sự công nhận quốc tế đối với những lãnh thổ mà nước này giành được sau Thế chiến II, nhưng cũng đòi hỏi họ phải tuân thủ các quy chuẩn nhân quyền quốc tế. Các nhà bất đồng chính kiến ở Moskva coi đây là một cơ hội: Họ có thể sử dụng cam kết này để chống lại bộ máy cộng sản, bằng cách tuyên bố rằng họ có quyền được công bố mọi vi phạm.

Nhóm Theo dõi Moskva Helsinki (Moscow Helsinki Watch Group), theo tên gọi sau này, đã đi theo phong cách của Chronicle, tạo ra một loạt các báo cáo, tất cả đều được nghiên cứu kỹ lưỡng và đôi khi dài đến hàng trăm trang. Trong số những báo cáo đầu tiên là cuộc điều tra về việc bức hại người Tatar ở Crimea và tình trạng bữa ăn nghèo nàn của các tù nhân. Các báo cáo đã được gửi đến các đại sứ quán phương Tây, cũng như lưu hành dưới dạng samizdat. Ngay sau đó, các tổ chức giám sát tương tự cũng đã xuất hiện ở các quốc gia thuộc khối Đông Âu và thậm chí ở Mỹ. Nhóm Theo dõi Helsinki (Helsinki Watch), một tổ chức có trụ sở tại New York, đã trở thành tổ chức mà chúng ta biết tới ngày nay dưới tên gọi Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch).

Liệu hành trình “ngầm” nhằm tìm kiếm sự thật dựa trên các báo cáo khách quan, thận trọng này có góp phần thúc đẩy sự tan rã của Liên Xô?

Thật khó để xác định, vì còn có rất nhiều yếu tố khác, đặc biệt về kinh tế, cũng góp phần vào sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô vào cuối những năm 1980. Nhưng nó đã ảnh hưởng đến cách Liên Xô tan rã. Không giống như Trung Quốc, vốn cũng phải đối mặt với một thách thức lớn đối với quyền lực của đảng cộng sản vào năm 1989, Liên Xô không thể hy vọng tự cải cách chỉ bằng perestroika (về kinh tế). Việc Gorbachev thông qua khái niệm glasnost đã thừa nhận rằng cũng cần phải thay đổi xã hội dân sự nữa.

Các nhà bất đồng chính kiến đã tạo ra kỳ vọng rằng có thể sẽ có một loại ngôn ngữ khác, một ngôn ngữ thể hiện được thực tế mà không bị sàng lọc qua các mệnh lệnh của Liên Xô. Họ khao khát sự trung thực và minh bạch ở một quốc gia mà ngay cả tỷ lệ tự tử cũng được coi là bí mật nhà nước. Samizdat cung cấp một phương tiện để họ đạt được mục đích này.

Và những sự thật, không ngừng xếp chồng lên nhau, đã trở thành cách mà các nhà bất đồng chính kiến xây dựng một nước Nga khác, nơi mà họ hy vọng một ngày nào đó có thể đứng lên và vượt qua tất cả những điều dối trá.

Gal Beckerman là tác giả của cuốn “When They Come For Us, We’ll Be Gone” cuốn sách viết về lịch sử của phong trào Do Thái tại Liên Xô, đồng thời cũng sắp ra mắt một cuốn sách mới về truyền thông xã hội trước khi có internet.

———

[1] Đây là từ chỉ các ấn phẩm, báo chí bí mật, hoặc bị cấm, ngoài luồng, do các (nhóm) cá nhân tự xuất bản mà không được chính quyền cho phép lưu hành chính thức. Được mượn từ tiếng Nga, từ này gồm hai phần: sam (nghĩa là tự) và izdat (viết tắt của từ izdatel’stvo, nghĩa là nhà xuất bản) (NBT).