Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Xuân của mẹ




Chiều nay mẹ ngồi chờ Xuân đến
cây mai trước nhà còn đâu để trổ hoa
người lại người qua toan người xa lạ
mắt mẹ nhập nhòa nghe ngóng tiếng chân.

Ngoài kia ai bán bánh chưng
trong này mẹ gọi con bưng đem về
chừng như mẹ lại ngủ mê
lầm bầm mẹ bảo bây về đó sao?
mau mau gọi mấy cháu tao
vào đây mừng tuổi nhận bao lì xì

Tiếng chuông chùa đổ thầm thì
bánh xe ngày tháng vừa đi một vòng
mẹ tôi còn mãi ngồi trông...Xuân về

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

NHỮNG CẢN ĐƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI: PHÊ BÌNH CỦA PHẬT GIÁO VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI VÀ TOÀN CẦU HÓA






GSTS. K.T.S. Sarao *

Nguyên Định dịch




Từ “phát triển bền vững” đã trở nên phổ biến rộng rãi sau khi được 
sử dụng trong báo cáo năm 1987 của Ủy ban Thế giới Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển, Tương lai chung của chúng ta, thường được gọi là Báo cáo Brundtland. Trong báo cáo này, sự cần thiết cho việc kết hợp giữa phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ công bằng xã hội và hòa nhập được giới thiệu lần đầu tiên. Định nghĩa Phát triển bền vững trong báo cáo Brundtland được sử dụng nhiều nhất là: 
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại 
mà không ảnh hưởng đến khả năng của thế hệ tương lai để đáp ứng 
nhu cầu của họ” (Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển: Chương 2). Tiếp theo hội nghị Rio +20 (với Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển ) và tài liệu đúc kết được gọi là Tương lai chúng tôi muốn, Chương trình nghị sự 21, và Kế hoạch Johannesburg về Thực thi ( JPOI ), Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) đã đóng vai trò quan trọng trong việc huy động, tạo điều kiện hợp tác khuôn khổ LHQ để đảm bảo rằng các chuyên viên, chương trình, nguồn lực hỗ trợ chiến lược toàn cầu, khu vực và quốc gia đều nhằm đến các khối xây dựng phát triển bền vững. 
Nếu xem xét các mối quan tâm nêu lên bởi Hội đồng ECOSOC, có thể nói rằng xã hội loài người ngày nay đang đi dần về ngày tận thế, chủ yếu bởi vì nó đã đi theo những gì Phật giáo gọi là con đường sai lầm (agatigamana) để phát triển. Một e ngại như vậy cũng được nói lên trong cuốn sách nổi tiếng Các giới hạn tăng trưởng xuất bản năm 1972. Cuốn sách này kiểm tra năm biến số (dân số thế giới, công nghiệp, ô nhiễm, sản xuất lương thực, và cạn kiệt tài nguyên) trên mô hình máy tính về tăng trưởng kinh tế và dân số theo cấp số nhân với nguồn cung cấp tài nguyên hữu hạn. Những phát hiện được tìm ra là ngay cả khi nguồn tài nguyên mới được khai thác trong thời gian tới, dự trữ hiện tại thay đổi, các nguồn lực vẫn hữu hạn và cuối cùng sẽ bị cạn kiệt. Cuốn sách dự báo rằng những thay đổi trong sản xuất công nghiệp, sản xuất lương thực, và ô nhiễm đều đi dần đến sự sụp đổ kinh tế và xã hội sẽ diễn ra trong thế kỷ hai mươi mốt (xem Meadows và Meadows năm 2004; Hecht 2008). 

Cuộc khủng hoảng này chính xác như thế nào khi lòai người phải đối mặt? Ai và những gì phải chịu trách nhiệm? Làm thế nào điều này có thể tránh được? Quan điểm Phật giáo về cuộc khủng hoảng đó là gì? Một nỗ lực được thực hiện trong bài viết này để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên.

Ở chủ nghĩa tư bản hiện đại, trong đó giá trị đạo đức không được xem là quan trọng vì bị kiểm soát và điều hành bởi chủ nghĩa tiêu thụ và các thương gia. Trong hệ thống như vậy mục tiêu công khai của các tổ chức tài chính là kiếm tiền cho chính họ, điều mà các nhà kinh tế học gọi là tối đa hóa lợi nhuận nhưng luôn biến hóa thành chiếm đọat quyền sở hữu của cải. Tuy nhiên, như đã chỉ ra bởi Amartya Sen, “một sự rời xa tối đa hóa lợi nhuận không nhất thiết là điều lành, cũng như các tình cảm đạo đức không luôn luôn là cao quý. Một số điều man rợ tồi tệ nhất trên thế giới đương đại đã được thực hiện bởi những kẻ phân biệt chủng tộc hiến mình hầu làm hại một số người khác, thậm chí với chi phí lớn hoặc rủi ro cho bản thân họ. Trên thực tế, quá trình này vẫn tiếp tục hiện nay với sự kiên trì không ngừng... Sự từ bỏ cuộc sống chỉ vì mình có thể đi đôi với bạo lực nhằm đạt đến lợi ích cho một nhóm hay cộng đồng (nhưng lọai trừ những người khác), và ngay cả với sự cố ý gây thiệt hại trên một nhóm hoặc cộng đồng khác” (1997 : 6). Sản xuất và phân phối hàng hóa được độc quyền bởi các tổ chức lớn và thông qua việc sử dụng phương tiện thông minh tạo ra ham muốn vô độ cho quần chúng nhằm sở hữu nhiều hơn và nhiều hơn nữa.
 Quảng cáo và áp lực tâm lý dưới những hình thức khác nhau được sử dụng để tăng cường sự thèm muốn tiêu thụ tối đa và lối sống tiêu thụ quá lố đang được quảng bá rầm rộ. Khách hàng bị dụ dỗ mua hàng càng nhiều càng tốt, bất kể họ có cần hay không hay liệu có đủ tiền để trả. Do đó, mọi thứ được mua không phải vì người ta cần dùng mà vì lòng ham muốn chúng. Trong thực tế, xã hội tiêu dùng được đặc trưng bởi niềm tin tưởng rằng việc sở hữu nhiều thứ là phương tiện chính để đạt hạnh phúc; do đó, tiêu thụ được chấp nhận “như một cách tự phát triển, tự thực hiện, và tự hoàn thiện” ( Benton 1997: 3). 

Trong thực tế, chủ nghĩa tiêu thụ đã ăn sâu vào cuộc sống hiện đại mà các học giả như David Loy (1997 : 283 ) xem nó là một tôn giáo thế giới mới có quyền lực nằm trong kỹ thuật chuyển đổi cực kỳ hiệu quả. Tôn giáo này, theo Loy, hoạt động trên nguyên tắc không những tăng trưởng và tăng cường thương mại thế giới sẽ có lợi cho tất cả, mà tăng trưởng cũng sẽ không bị hạn chế bởi các giới hạn vốn có của một hành tinh hữu hạn. Sai lầm cơ bản là nó làm cạn kiệt hơn là xây dựng “vốn đạo đức” ( Loy 1997: 283 ). Như đã chỉ ra bởi Erich Fromm, hệ thống kinh tế hướng về lợi nhuận không còn được xác định bởi câu hỏi: Điều gì tốt cho con người? mà được xác định với câu hỏi: Điều gì tốt cho sự phát triển của hệ thống? Hơn nữa, tiêu thụ có tính cách mập mờ: Nó làm giảm lo lắng, bởi vì những gì người ta đã có không thể bị lấy đi, nhưng nó cũng đòi hỏi người đó ngày càng tiêu thụ hơn nữa, bởi vì tiêu thụ trước đó đã hòan tất sự thỏa mãn. Trên thực tế, hệ thống hướng về lợi nhuận toàn cầu hóa này hoạt động trên nguyên tắc rằng tính vị kỷ, ích kỷ, tham lam là điều kiện tiên quyết cơ bản cho sự hoạt động của hệ thống; và sẽ dẫn đến sự hòa hợp, hòa bình. Tuy nhiên, tính vị kỷ, ích kỷ và tham lam không phải là bẩm sinh trong bản chất con người cũng như không được thúc đẩy bởi nó. Chúng đa phần là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội. Hơn nữa, tham lam và hòa bình loại trừ lẫn nhau (Fromm 2008: 5-8, 23). Từ quan điểm Phật giáo, sản xuất nhiều của cải vật chất, tiêu thụ nhiều và lòng thèm muốn (taṇhā) không nhất thiết dẫn đến gia tăng hạnh phúc. Đạo Phật dạy rằng để đi đến giai đoạn cao nhất của phát triển con người, người ta không khao khát sở hữu. Hơn nữa tác động của chủ nghĩa tiêu thụ lên tâm lý và tinh thần của người tiêu dùng đi ngược lại với sự bền vững môi trường, đặc biệt là sự mất mát quan trọng của nhận thức về thế giới tồn tại bên ngoài lĩnh vực hàng tiêu dùng.

Như đã chỉ bởi Fritjof Capra, “nỗi ám ảnh của chúng ta về tăng trưởng kinh tế và hệ thống giá trị cơ bản đã tạo ra môi trường vật lý và tinh thần; trong đó cuộc sống trở nên cực kỳ không lành mạnh. Có lẽ khía cạnh bi thảm nhất của cảnh tiến thoái lưỡng nan xã hội này là hệ thống kinh tế đang gây ra mối nguy hiểm cho sức khỏe không chỉ bởi quá trình sản xuất mà còn do tiêu thụ nhiều hàng hóa được làm ra; rất nhiều quảng cáo để duy trì tăng trưởng kinh tế” (1983: 248). Tương tự như vậy, Erich Schumacher, tác giả sách Nhỏ là đẹp, đã cảnh báo thái độ sống tìm cách theo đuổi đến cùng của cải, có nghĩa là chủ nghĩa vật chất không phù hợp với thế giới này, bởi vì nó không bao hàm nguyên tắc hạn chế, trong khi môi trường sinh sống bị giới hạn nghiêm ngặt. Thái độ như vậy, ông chỉ ra, mang trong nó những hạt giống của sự hủy diệt. Thái độ duy vật chất là con quái vật của đạo đức, tinh thần và siêu hình vì “tiến hành các hoạt động kinh tế của con người như người ta thực sự không lo lắng gì cả. Một hệ thống hoàn toàn mới của tư tưởng dựa trên sự chú ý đến con người thay vì hàng hóa là cần thiết. Nó có thể được tóm gọn trong cụm từ “sản xuất của quần chúng, chứ không phải là sản xuất hàng loạt” (Schumacher 1973 : 17-18, 56, 119 ). Kết quả cuối cùng của việc này là chúng ta cần phải xem xét nghiêm túc không chỉ thái độ và lối sống của chúng ta mà ngay cả chính sách chi phối việc sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, khoa học và công nghệ, quy mô cũng như định hướng của công nghiệp hóa.

Ngoài sự thực là các nước phát triển chủ yếu thông qua công ty đa quốc gia, các tổ chức tài chính và pháp lý toàn cầu tiếp tục khai thác các nước đang phát triển. Một trong những lỗ hổng lớn của hệ thống tiêu dùng toàn cầu hóa hiện nay là nó thúc đẩy cạnh tranh hơn hợp tác. Thái độ cạnh tranh, thù địch hoặc cảm giác liên tục phải chống lại cái gì đó không chỉ tạo ra xung đột và sự oán giận mà còn gây tác dụng phụ không lành mạnh. 
Như Bertrand Russell một lần chỉ ra, “Điều duy nhất sẽ cứu nhân loại là hợp tác, và bước đầu tiên hướng tới hợp tác nằm trong trái tim của các cá nhân” (1954 : 204). Các cá nhân có kỹ năng hợp tác có nhiều sáng tạo hơn và tâm lý điều hòa tốt hơn. Ở cấp quốc tế, đối kháng lẫn nhau giữacác quốc gia có kết quả không chỉ trong việc hàng tỷ đô la bị lãng phí mỗi năm, trong việc sản xuất vũ khí mà còn một mảnh lớn nguồn nhân lực khoa học công nghệ bị hướng vào công nghiệp chiến tranh. Đáng buồn thay, không chỉ các nhà kinh tế e ngại với thời gian khi chúng ta dừng lại vũ khí sản xuất, nhưng ngay “ý kiến cho rằng Nhà nước cần tạo ra nhà ở, những điều hữu ích và cần thiết khác cho dân chúng thay vì vũ khí, cũng dễ dàng bị buộc tội gây nguy hiểm cho tự do và sáng kiến cá nhân” 
(Fromm 1955: 5).

Như đã nêu trên, chủ nghĩa tư bản hiện đại kèm theo toàn cầu hóa gây nên sự tham lam và ích kỷ, thành công cá nhân được đánh giá cao hơn trách nhiệm xã hội. Các nhà lãnh đạo chính trị và giám đốc điều hành doanh nghiệp thường có những quyết định vì tư lợi. Hơn nữa, “công chúng cũng rất ích kỷ khi chỉ chú tâm đến vấn đề riêng tư mà ít chú ý đến những gì vượt qua lĩnh vực cá nhân... Do đó người mạnh mẽ, thông minh hơn, hoặc gặp may nhiều hơn ... cố gắng tận dụng lợi thế đối với những người yếu kém, hoặc bằng vũ lực và bạo lực hoặc bằng các đề nghị... Xung đột trong xã hội không thể biến mất khi tham lam ngự trị tâm hồn con người” (Fromm 2008: 10-11, 114). Một xã hội được thúc đẩy bởi tham lam mất khả năng nhìn thấy những điều trong lành và chúng ta không biết khi nào là đủ. “Niềm hy vọng chỉ theo đuổi sự giàu có mà không lưu tâm đến các câu hỏi tinh thần, đạo đức; chúng ta có thể thiết lập hòa bình trên trái đất,… là niềm hy vọng không thực tế, không khoa học, và không hợp lý... Những nền tảng của hòa bình không thể dựa trên nhu cầu lớn về tài nguyên thế giới hạn chế, và khiến cho giới giàu có va chạm không những với người nghèo (những người yếu đuối và kém tự vệ) mà còn với những người giàu khác” ( Schumacher 1973: 18-19 ). Về vấn đề này, có thể nói Phật giáo xem lòng tham (tâm tham- lobha: Morris và Hardy 1995-1900: iv.96 ) và tính ích kỷ như những khổ đau hàng đầu (vị kỉ- avaññattikāma:Morris và Hardy 1995-1900: ii.240 iv.1 ; asmimāna Oldenberg 1879 -1883 : i.3; Rhys Davids và Carpenter 1890-1911: iii.273; Trenckner và Chalmers 1888-1896: i.139, 425; Morris và Hardy 1995-1900: iii.85 ). 

Phật giáo không ngại sự giàu có và thịnh vượng miễn là chúng được mua và sử dụng phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Vấn đề thực sự nằm trong xu hướng con người đi tìm điều Đức Phật gọi là tham ái (taṇhā). Trong hệ thống kinh tế hiện nay, theo Schumacher, bất cứ điều gì không đem đến lợi nhuận (economic) đều bị xóa sạch (1973 : 27). Theo quan điểm của Phật giáo, lợi nhuận một mình không thể là biện pháp đầy đủ cho một cái gì đó gọi là kinh tế. Ngoài việc tính đến lợi nhuận của một hoạt động, nhất định, ảnh hưởng của nó đối với con người và môi trường, bao gồm các cơ sở tài nguyên, cũng không kém phần quan trọng.

Một lỗ hổng khác của hệ thống người tiêu dùng toàn cầu hóa hiện nay là sự nới rộng phân chia giữa người giàu và người nghèo. Theo Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc năm 1992, tỷ lệ người giàu chiếm 83% trên thế giới, còn tỷ lệ người nghèo chỉ chiếm 1.4% (xem Elgin 1993: 42). Sẽ không thực tế để mong đợi hòa hợp tinh thần, tâm lý và xã hội trong một thế giới vẫn còn chia rẽ vật chất như vậy. 

Là thành viên của một gia đình nhân loại chung, mỗi cá nhân phải có quyền dự phần một cách hợp lý vào các nguồn lực của thế giới, hầu thực hiện những nhu cầu cơ bản của mình; để chứng minh tiềm năng là một thành viên sản xuất và được tôn trọng trong gia đình toàn cầu. Điều này có nghĩa rằng, nhu cầu cấp thiết cho việc tiếp cận bình đẳng nguồn tài nguyên không chỉ giữa các quốc gia, mà còn giữa những con người không phân biệt giới tính và quốc tịch. Vì sự tuyệt vọng của người nghèo đã được xem là thuộc trách nhiệm ở mức độ nào đó từ việc lạm dụng các nguồn lực hạn chế. Cho nên bình đẳng kinh tế và công bằng xã hội rất quan trọng. Tuy nhiên, xã hội giàu có là vấn đề thực sự của thế giới ngày nay. Ví dụ, sự ra đời của một em bé Mỹ được ước tính như một mối đe dọa lớn hơn năm mươi lần cho môi trường, so với sự ra đời của một em bé Ấn Độ (Jones 1993: 14). Nghiên cứu cũng như các tài liệu đã chỉ ra rằng nạn đói thế giới gây ra bởi tình trạng khan hiếm lương thực là một huyền thoại, vì lượng thực phẩm sản xuất trong thế giới hiện nay đủ cung cấp cho khoảng tám tỷ người với chế độ ăn uống đầy đủ. 

Nguyên nhân chính là kinh doanh nông nghiệp trên thế giới bị phá hỏng bởi sự bất bình đẳng (xem Capra 1983: 257-258). “Nếu không có cuộc cách mạng công bằng, thế giới sẽ gặp những cuộc xung đột kinh niên do cạn kiệt nguồn tài nguyên; điều này sẽ khiến những hợp tác khó có thể đạt mức độ cần thiết” ( Elgin năm 1993 : 42). Về việc này, Phật giáo khuyến khích phân bố rộng nhu cầu cơ bản để không ai thiếu thốn, vì thiếu thốn là nguyên nhân gốc rễ của xung đột xã hội. Do đó, khi nói về nguyên nhân của xung đột xã hội, Đức Phật chỉ ra rằng,“hàng hóa không làm cho sự nghèo khó cơ cực lớn hoành hành; do đói nghèo ngày càng tăng, trộm cắp hoành hành cũng tăng lên, do trộm cắp lây lan nên bạo lực tăng trưởng nhanh chóng, do bạo lực phát triển nên sự tàn phá của cuộc sống trở nên phổ biến” (Rhys Davids và Carpenter 1890-1911 : iii.67 ). Từ góc độ Phật giáo, một xã hội lý tưởng sẽ theo phương châm của hạnh phúc và phúc lợi cho số lượng tối đa người dân (bahujanahitāya bahujanasukhāya: Oldenberg 1879-1883 : i.21 ). Xã hội như vậy, người ta không tìm kiếm sự hài lòng của chính mình mà lại trở thành một nguồn đau khổ (aghabhūta) cho những người khác (Feer 1884-1898: iii.189). Tích trữ tài sản dưới mọi hình thức không được xem trọng trong Phật giáo (Morris và Hardy 1995-1900 : iii.222). Nếu người giàu sang hưởng thụ tất cả tài sản của mình bằng cách chỉ cho chính mình, nó sẽ là nguồn gốc thất bại cho anh ta (Fausböll 1985: 102). Trong thực tế, một người nào đó làm việc vì lợi ích của sự giàu có (dhanahetu, Fausböll 1985: 122), sự ham làm giàu (dhanatthiko, Fausböll 1985: 987 ; bhogataṇhā, Sarao 2009: 355), hoặc tự hào về giàu sang, khoe khoang tài sản (dhanatthaddho, Fausböll 1985: 104) được coi là người thất bại, ngu dốt, làm hại chính mình và người khác. 
Như vậy, trong cách tiếp cận của Phật giáo về phát triển kinh tế xã hội, tiêu chuẩn chính trị hoạch định chính sách phải là hạnh phúc cho tất cả thành viên của xã hội như một đoàn thể, tức là sản xuất nên hướng tới phục vụ nhu cầu thực sự của người dân chứ không phải ngược lại. 

Hệ thống hiện nay tin rằng thực hiện các nhu cầu vật chất của nhân loại sẽ dẫn đến hòa bình và hạnh phúc. Nhưng đây là quan điểm sai lầm. Fromm nói, một động vật hài lòng khi các nhu cầu sinh lý, cơn đói, cơn khát, nhu cầu tình dục được thỏa mãn vì được bắt nguồn từ các yếu tố sinh hóa học trong cơ thể, nhưng chúng có thể trở nên điên tiết nếu không được thỏa mãn. Vì con người cũng là động vật, những nhu cầu này cần được thỏa mãn; nhưng con người là con người, sự hài lòng những nhu cầu bản năng này không đủ làm cho người ta hạnh phúc, khi hạnh phúc phụ thuộc vào sự hài lòng của những nhu cầu và niềm đam mê đặc biệt của con người. Những nhu cầu thiết yếu mà nền văn minh hiện đại không đáp ứng là “nhu cầu liên hệ, siêu việt, sâu sắc, nhu cầu có một bản sắc, sự cần thiết cho một khung định hướng và sự đam mê” (Fromm 1955: 25, 28, 65, 67, 134). Theo quan điểm Phật giáo, vấn đề kinh tế và đạo đức 

không thể tách rời nhau bởi vì sự thỏa mãn chỉ các nhu cầu kinh tế 
nếu không phát triển tâm linh thì không bao giờ dẫn đến bình an trong quần chúng
( còn tiếp)

Tưởng Niệm Nhà Văn Hóa Trần Chung Ngọc (1931 – 2014)



Nguyên Diệu




Giáo sư Trần Chung Ngọc gặp Đại Đức Thích Nhật Từ và một số thân hữu nhân dịp giáo sư thăm Quận Cam tại Nam California năm 2004"
- Hình: Tư liệu của một Thân hữu

Vậy là giáo sư Trần Chung Ngọc từ giã cõi ta bà đã được một năm. Tôi chỉ đọc biết tư tưởng của ông qua 275 bài viết đã được đăng trên trang nhà của Giao Điểm. Và chân dung của ông trong tấm hình ông đứng trước căn nhà xanh màu cây cỏ có treo cờ Phật giáo in trong bài “Duyên Nợ Của Tôi Với Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo”.



Qua hầu hết những bài viết nầy, tôi phải xưng tụng ông là một nhà nghiên cứu tôn giáo rất sâu sắc và rất cần thiết cho người Việt Nam. Đặc biệt là Phật Giáo (PG) và Thiên Chúa Giáo (TCG) vì đa số bài ông viết là về hai tôn giáo nầy. Còn lại, ngoài những bài về khoa học tự nhiên, là một số bài chính trị về “Vài Nét Về cụ Diệm”, “Vài Nét Về cụ Hồ”, “chiến tranh Việt Nam”, “30 tháng 4 và tôi”, … một số rất ít là về các nhân vật TCG đặc biệt trong đó có 3 nhà trí thức Lữ Giang “đầu có sạn”, Chu Tất Tiến “hơi đần” và Nguyễn Văn Lục “không biết ngượng”.

Riêng với đạo TCG, chỉ cần đọc loạt bài “Công Giáo Hắc Sử”, một nghiên cứu công phu của ông, độc giả cũng có được cái nhìn chính xác về một tôn giáo đầy tội ác. Những tội ác mà giáo sư Ngọc trích từ trong Kinh Thánh và dựa trên thực tế lịch sử như dàn bài sau đây đã chứng minh:


- Phần Dẫn Nhập: Tại Sao Lịch Sử Đạo Công Giáo Là “Hắc Sử”

- Phần I: Núi Tội Ác Thứ Nhất: Ngăn Chận Sự Tiến Bộ Trí Thức Của Nhân Loại.

- Phần II: Núi Tội Ác Thứ Hai: Những Cuộc Thập Ác Chinh Mang Tên “Thánh Chiến”

- Phần III: Núi Tội Ác Thứ Ba: Những Toà Hình Án Xử Dị Giáo (The Inquisition)

- Phần IV: Núi Tội Ác Thứ Bốn: 300 Năm Săn Lùng Phù Thủy (Đa Số Là Phụ Nữ)

- Phần V: Núi Tội Ác Thứ Năm: Gây Hận Thù Và Bách Hại Người Do Thái



Trong những bài về đạo TCG, giáo sư Ngọc đặc biệt chú trọng đến các vị Giáo Hoàng (GH) từ ông Pétrus đầu tiên đến ông Franciscus hiện nay. Chín bài tập trung lên các ông GH và nước Vatican đã được giáo sư Ngọc trình bày cặn kẽ, đầy đủ với dẫn chứng “bất khả tư nghì”:

“BANG GIAO VỚI VATICAN?? – BANG GIAO NHƯ THẾ NÀO??” Những vấn đề cần phải giải quyết trước khi Việt Nam bang giao: Những xâm phạm văn hoá, những chiếm đoạt đất đai, tài sản từ thời thực dân qua thời Đệ I Việt Nam Cộng hoà. Đây là cái nhìn xuyên suốt của ông về các tôn giáo độc thần:

“những tôn giáo độc thần như Ki-Tô-Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo, những tôn giáo cho rằng con người chỉ có quyền được thờ thần của họ, dù rằng thần của họ chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của người dân miền Trung Đông trong thời kỳ bán khai mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến”.

Và những hệ luỵ của loại tôn giáo đó trên đất nước Việt Nam cần được giải quyết trước khi nói đến bang giao: “vụ “phong thánh” cho 117 Việt gian và thực dân ở Việt Nam của Giáo hoàng John Paul II”

“BANG GIAO BẮC KINH – VATICAN??”Chính sách đối ngoại cứng rắn đối với Vatican của Trung Cộng đã đặt căn bản trên những sự thực mà giáo sư Ngọc trang trải một cách toàn diện từ GH đầu tiên đến John Paul II:

“1. Giáo hội Công Giáo tuyệt đối không phải là do Chúa Giê-su thành lập. Do đó, Phê-rô tuyệt đối không phải là Giáo hoàng đầu tiên. Do đó, các giáo hoàng của Giáo hội Công giáo tuyệt đối không phải là những người kế vị Phê-rô và không phải là đại diện của Chúa trên trần (Vicars of Christ).

2. Giáo hoàng John Paul II đã bác bỏ thuyết “Sáng Tạo” nghĩa là không làm gì có “tội tổ tông”. Do đó, vai trò “cứu chuộc” và “cứu rỗi” của Giê-su trở thành vô nghĩa. Giáo hoàng John Paul II cũng còn phủ nhận sự hiện hữu của một “thiên đường” hay “hỏa ngục”.

“QUANH VỤ GIÁO HOÀNG BENEDICT 16 XIN LỖI Ở ÚC VỀ NẠN LINH MỤC LOẠN DÂM TRONG GIÁO HỘI” Những nhắc nhở nhức nhối cho các giáo dân và người ngoại đạo về vết nhơ truyền kiếp của đạo TCG:

“ông ta thừa biết rằng, không phải bây giờ trong giáo hội Ca-Tô Rô-ma mới có các vụ loạn dâm, mà trong suốt giòng lịch sử của giáo hội, cũng có không thiếu gì những giáo hoàng, hồng y v..v.., không những loạn dâm mà còn loạn luân và phạm đủ mọi tội ác khác nữa” và “Chỉ trong nước Mỹ, các giáo khu đã phải bồi thường hơn 2 tỷ Đô-la để dàn xếp các vụ kiện của các nạn nhân, làm cho một số giáo khu phải bán các bất động sản và khai phá sản.”

■ “KHI GIÁO HOÀNG NÓI VỀ KHOA HỌC” Đây là một chủ đề ưa thích của giáo sư Vật Lý Trần Chung Ngọc. Vì vậy, ông đã xử dụng một loại lý luận căn bản mà ai cũng phải chấp nhận khi trích dẫn câu sau đây của nhà văn Ấn Độ S.T. Joshi:

“Bao giờ ta cũng có thể quả quyết rằng chính Gót đã tạo ra Big Bang, nhưng sự hiện hữu của Gót phải được thiết lập một cách độc lập trước khi chúng ta có thể cho rằng Gót đã làm nổ Big Bang.”

“GIÁO HOÀNG CÔNG GIÁO BENEDICT XVI vs. GIÁO CHỦ HỒI GIÁO MUHAMMAD”

Biến cố Giáo Hoàng Công Giáo Benedict XVI mượn lời của một ông Vua Ki Tô Giáo [Christian King] thuộc thế kỷ 14 ở vùng Byzantine, Manuel Paleologos II, để đả kích Giáo Chủ Hồi Giáo Muhammad là

“Hãy cho tôi biết Muhammad có mang lại cái gì mới hay không, và nhìn vào thì chỉ thấy những cái ác độc và phi nhân, chẳng hạn như ông ta ra lệnh hãy truyền bá đức tin mà ông ta rao giảng bằng gươm giáo.”

Đọc câu nầy thì không thể không nghĩ đến cuộc Thánh chiến “Thập Ác Chinh” (Crusade) kéo dài gần 200 năm để cho người Công Giáo liên tục thảm sát người theo Do Thái Giáo và Hồi Giáo.

■ “NÓI VỀ VIỆC GIÁO HOÀNG THÚ NHẬN 7 TỘI CỦA GIÁO HỘI ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI ” Tháng 3 năm 2000 tại Vatican, GH Paul II, đã thú nhận 7 tội đối với nhân loại. Người Công giáo Việt Nam nghĩ sao về câu hỏi nầy của Giáo sư Ngọc:

“Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh linh hướng dẫn" v.v... lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy?”

■ “TÔI ĐỌC “SỨ ĐIỆP HÒA BÌNH” (1-1-2011) CỦA GIÁO HOÀNG BENEDICT XVI

Tổng Thống Thomas Jefferson, nhân tài chính trị của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đã nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như sau:

“Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là một con quỷ có ba đầu: độc ác, ưa trả thù, và đồng bóng… Chúng ta chỉ cần nhìn vào những người nói rằng họ phục vụ ông ta. Họ đều thuộc hai loại người: điên khùng và đạo đức giả [The Christian god is a three headed monster: cruel, vengeful and capricious.. One only needs to look at the caliber of people who say they serve him. They are always of two classes: fools and hypocrites] ,”

“VÀI NHẬN XÉT NHÂN ĐỌC THƯ CỦA GH BENEDICT XVI GỬI NGƯỜI CA-TÔ RÔ-MA Ở TRUNG QUỐC” Đây là một trong những trích dẫn mà tôi không đồng ý với Giáo sư Ngọc khi ông chê GH “hơi đần” là đã kéo vị GH xuống ngang hàng với ông Chu Tất Tiến thì cũng tội cho GH. Quan trọng hơn nữa, ngay trong Tam Bảo của PG cũng rất coi trọng hàng TĂNG lữ thì ông GH tuyên bố Vatican là cần thiết để thờ phụng Chúa thì cũng có thể hiểu được.

“Ông than phiền hằng triệu giáo dân Trung Hoa bị cưỡng bức thờ phụng với giáo hội do nhà nước kiểm soát và giáo hội này không công nhận quyền lực của giáo hoàng. Ông than phiền hơi đần, vì cho rằng phải cần có Vatican, phải thờ phụng với Vatican, con người mới thờ phụng Chúa được …”

■ “XUNG QUANH VỤ BENEDICT XVI ĐẾN MỸ” Cho đến năm 2013, các nhà thờ CG tại Mỹ đã phải trả hơn 2.5 tỷ Mỹ kim cho các vụ loạn dâm của các Giám mục và Linh mục. Trước đó 32 năm (1981), khi còn là Tổng giám mục Ratzinger cầm đầu Bộ Giáo lý Đức tin, ông đã có một chính sách bảo vệ chặt chẽ uy tín của Vatican dù những vụ loạn dâm cuả các linh mục đã được báo chí tiết lộ.

“Với những hành động che dấu tội phạm, ngăn cản công lý như trên mà bây giờ Benedict XVI lại có thể nói lên những lời như: “làm cho chính tôi cực kỳ đau khổ, xấu hổ nhục nhã, không thể hiểu được...”. Như vậy có phải là đạo đức giả đến mức thượng thừa rồi hay không?”

Đọc những nhận định nghiêm chỉnh và thẳng thắn của Giáo sư Trần Chung Ngọc về các nhân vật cầm đầu Toà thánh Vatican, tôi không khỏi nghĩ thầm: May cho GH Franciscus là ông nhậm chức mới hơn một năm thì Giáo sư qua đời. Từ đó tôi nghĩ đến câu hỏi mà người CG hay đặt ra mỗi khi đứng trước một tình trạng nan giải như câu hỏi của cô bé Palomar 12 tuổi đặt ra với GH Franciscus ở Phi Luật Tân “Nhiều con nít bị dính vào nạn ma túy và đĩ điếm. Vì sao Gót lại để cho những chuyện ấy xảy đến cho chúng con? Trẻ thơ đâu có tội tình gì?” Làm cho vị GH thông minh, tài trí, thừa kế của Chúa cũng phải chịu là không thể trả lời. Trong trường hợp nầy người CG thường hỏi: “Như vậy thì Chúa sẽ nói gì?” (“What would Jesus do?”).

Để bắt chước người CG, tôi cũng muốn đặt câu hỏi sau khi Giáo sư đã ra đi: “Vậy thì Gíáo sư Ngọc nghĩ gì về ông GH Franciscus nầy?” trước những hành động, những tuyên bố của vị GH được nhiều ngưỡng mộ nầy.

Thưa Giáo sư, đây là những thí dụ về GH Franciscus:
Sống trong nhà khách thay vì trong dinh thự riêng của GH.
Kêu gọi thu nhỏ lại cách biệt giữa hai giai cấp rất giàu và rất nghèo.
Quyết liệt ủng hộ Thông tri Humanae Vitae 1968 của Giáo hội chống đối các phương pháp ngừa thai nhân tạo.
Trong chuyến thăm viếng Phi Luật Tân, một bé gái 12 tuổi hòi GH vì sao Gót lại để cho con sống cơ cực đến phải làm nghề bán thân để kiếm sống? GH công nhận câu hỏi nầy khó trả lời và chỉ biết kêu gọi lòng từ bi của con người (compassion of the world).
Với vấn đề cho phép phụ nữ được làm linh mục, GH lập lại ý của các GH tiền nhiệm: “Giáo hội đã nói không – và cánh cửa đó đã đóng lại rồi” (“The Church has spoken and says no – that door is closed.”
Trước Viện Hàn Lâm Khoa Học của toà Thánh, ông nói: “Gót không phải là một nhà ảo thuật. nhưng là Tạo hoá đã tạo đời sống cho muôn loài. Tiến hoá trong thiên nhiên không đi ngược lại với khái niệm sáng tạo, bởi vì muốn có tiến hoá thì phải có sự tạo lập của những gì có thể tiến hoá.” (“God is not... a magician, but the Creator who brought everything to life,” Francis said “Evolution in nature is not inconsistent with the notion of creation, because evolution requires the creation of beings that evolve.”)
Khi được hỏi về các linh mục đồng tính luyến ái, ông trả lời “Tôi là ai mà phán đoán người khác?” (“Who am I to judge?”)
Sau vụ quân khủng bố bắn chết các ký giả cuả báo Charlie Hebdo ở Paris, GH nói tự do ngôn luận cũng phải có giới hạn, nhất là khi động chạm đến niềm tin tôn giáo. “Cũng như nếu bạn tôi mà nói xấu Mẹ tôi thì anh ta không nên ngạc nhiên nếu bị một quả đấm.”
Quyết định sẽ phong thánh cho Cha Junipero Serra (sau những toan tính không thành từ GH John Paul II) vì ông Cha nầy đã làm được một phép lạ cứu một nữ tu Iành bệnh và đã xây dựng được một loạt nhà Dòng dọc theo bờ biển California vào cuối thế kỷ 18. Nhưng cũng như những nhà truyền đạo khác của Vatican, ông Cha nầy đã dính vào những chuyện đối xử tàn bạo với dân bản xứ (Da Đỏ) nhất là xâm phạm vào văn hoá của các bộ lạc đang sống ở California.

Dĩ nhiên là Giáo sư Ngọc đã đi rồi thì không mong có hồi âm, nhưng tôi nghĩ vẫn tìm ra được ý kiến của ông. Vâng, chúng ta vẫn tìm ra được mà không cần một phép lạ mơ hồ nào. Những ý kiến đó hiễn hiện một cách nhất quán trong những bài ông đã viết. Nếu chúng ta chịu khó đọc những bài nầy với tất cả tấm lòng yêu nước mênh mông và thương đạo vô bờ như Giáo sư Trần Chung Ngọc.

NGUYÊN DIỆU

Kỷ niệm ngày giỗ đầu của GS Trần Chung Ngọc

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

MỘT ĐÊM TRONG LÒNG THÁC ĐỔ



Du Trốc Tử

"Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, 
 Tỉnh ra có khi còn nghe".
 (Trịnh Công Sơn).



Năm ấy, tôi vừa tròn 20 tuổi.

Mưa vẫn không cản được những bước chân rồ dại xăm xăm nẻo cuối rừng chiều. Đêm vội vã phủ chiếc lồng bí mật xuống thung lũng như muốn vồ lấy nguyên vẹn những gì ở đó, không cho thoát ra. Trên đỉnh của cái lồng bàn đêm chất ngất ấy, trớ trêu thay lại vắt cẩu thả một mảnh trăng the thé, vừa đủ rọi đường cho những tên trộm vô hình đến ngắm nghía những bảo vật rừng thiêng. Tiếng thác ầm ầm như những tảng đá to từ trên cao đổ xuống. Tôi ướt sũng. Lạnh. Đông cứng.

Bây giờ ngồi nghĩ lại, chỉ tưởng tượng một người đang đứng trong lòng thác Bongour giữa đêm mưa xám xịt cũng đủ thấy rùng mình kinh hãi. Chỉ với cái tuổi hai mươi, cái tuổi muốn gì làm nấy, cái tuổi khát vọng và đẩy nỗi khát vọng lên đến đỉnh, muốn thỏa mãn sự hiếu kỳ lẫn quằn quại, mới dám lầm lũi vào chốn thâm u một mình khi trong người chỉ có duy nhất một cái hộp quẹt, không đủ làm hun khói những lá cây sũng nước, nói chi đến một ngọn lửa sưởi ấm hồn đơn.

Tôi chọn một tảng đá to dưới cội trâm già, bên dòng thác lũ, lấy thân mình che mưa cho đống củi mục, nguyện cầu một ánh lửa bùng lên mà mãi không đỏ được, ngoài những ụ khói cứ xông thẳng vào mắt cay nồng. Tảng đá to hơn một cái bàn, nhưng cảm giác trong tôi chỉ là một miếng gỗ bồng bềnh trên ngọn nước. Cây trâm già nghiễm nhiên trở thành một vị hung thần quái ác, mang đầy đủ trên mình đôi mắt cú vọ và rắn độc lẫn những nụ hoa lan sặc sỡ sắc màu. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, nhưng không thổi tắt được cái đèn thuyền treo lủng lẳng trên ngọn cây. Nếu không có ánh trăng, mọi vật hoàn toàn chìm trong bóng tối, như thế có lẽ dễ chịu hơn. Còn bấy giờ thì mọi vật lại bắt đầu chập chờn chuyển động với những hình thù kỳ dị. Tôi lạc vào cõi nào chẳng biết. Tự dưng, mọi hình ảnh xung quanh mình cái gì cũng có hai mặt, vừa thiên thần vừa quỷ sứ, vừa thánh thiện vừa phàm tục. Và mỗi hình ảnh đi qua tôi đều chứa đầy hai cảm giác trái nghịch, vừa hạnh phúc vừa đớn đau, vừa quằn quại gan lì vừa tê mê chất ngất.

Vách đá dựng đứng, xếp đều từng lớp hệt những tháp Chàm ở Thánh địa Mỹ Sơn. Tháp Chàm di chuyển chập chờn. Từ trong cửa tháp, bóng hai thiếu nữ bước ra, mình đeo đầy còng cườm lục lạc, nhảy múa những vũ điệu ma quái của giống dân Hời, rồi họ đi vào, cửa tháp khép lại. Tháp Chàm hóa thành những bức lập thể của Picasso, tiến tới bóng tôi, mỗi lúc một gần. Tôi dùng hết tâm lực đẩy chúng ra xa, vách đá ngã sóng xoài trên thảm cỏ, biến mất.

Ánh trăng lại lóe lên, vàng rực cả lòng thác, đẩy rừng cây ra xa, xa lắm. Cả rừng cây nhuộm vàng ánh lá, lung linh và đầy huyền hoặc như bức "Mùa thu vàng" của Lévital. Rồi bóng tối như một mảnh vải, xỏa lần xuống che đậy bức tranh. Ở góc vàng cuối cùng tôi còn nhìn thấy, một con mèo hoang nhảy ra, cắm hai ánh nhìn vào lòng đá tảng.

Mưa, lại mưa.

Ngọn thác hùng vĩ dựng đứng như một mảnh thiên y mịn màng che vách núi, chốc chốc lại tung ra từng đợt sóng mù khơi, giăng mùng tứ phía. Tôi mải miết nhìn ngọn thác, từ đầu đến chân, rồi tự nhiên thấy thác chảy ngược, chảy từ dưới lên trên, chảy tới đâu khô tới đó, hệt như bàn tay vô hình nào đang cuốn bức lụa trắng ngần từ chân tới đỉnh. Vén lên tới đầu ngọn, thác im thin thít, không còn một âm thanh nào của nước, cái im lặng đến rợn mình, đến nỗi nghe rõ được từng giọt rơi tí tách trên lá, nghe rõ được âm thanh của một loài dế du mục đang gậm nhấm cỏ non. Bãi cỏ xát xô dựng hình loạn tứ bên bờ suối cạn, gợi nhớ đến bức "Hoa diên vĩ" của Vangogh. Rồi trên đỉnh cao, bóng Bồ-tát Quán Thế Âm lồng lộng theo mây đi xuống, màu áo hay màu mây mà mênh mông quá. Bồ-tát tay cầm nhành dương liễu, tay cầm bình cam lồ, Ngài nhúng nhành dương vào bình nước rồi rảy một cái, tự dưng thác chảy lại, như tự bao giờ vẫn vậy, như một cổ máy huyền vi có thể ấn nút tắt mở một cách tự nhiên, thật là kỳ diệu. Tôi thảng thốt, cúi đầu đảnh lễ với lòng thành kính vô biên. Chợt nghe có cái gì đi ngang qua trên đầu tôi, vùn vụt như một cánh đại bàng. Ngẩng đầu lên, mọi sự trở lại như cũ.

Ngồi tĩnh tọa trên phiến đá dưới rừng mưa, tôi hít thở thật sâu để cố tìm trở lại một ngọn thác Bongour thật sự sau những ảo giác mơ hồ. Nhưng có cái gì là thật sự đâu ! Rừng cây xung quanh như những bóng người đang đứng, kẻ cúi đầu, người chắp tay, có nhiều người nắm tay nhau nhảy múa, hay cúi mình soi bóng xuống dòng nước cuồn cuộn nhập nhòa ánh sáng. Phải chăng tất cả mọi sự mọi vật chỉ là sự biến hiện của tâm thức con người ? Phải chăng mọi khái niệm thiện ác, đẹp xấu, hạnh phúc hay đau khổ đều từ tâm cảm mông lung này ? Thế thì tất cả xung quanh tôi lúc ấy, cái gì là giả, cái gì là thật ? Đến những vách đá sừng sững bên ngọn thác Bongour kỳ vĩ kia cũng giả nốt sao ? Chỉ có thằng tôi là thật thôi sao ? Ồ mà tôi cũng chẳng thật, tôi cũng tan ra từng đợt theo khói, theo sương, theo hơi nước mơ hồ. Vậy ở đây cái gì là chủ thể, cái gì là khách thể ? Nếu không có chủ khách thì thật là vô lý, ai sẽ là người cảm nhận mọi sự vật kia đây ?

Mưa mỗi lúc một lớn, rào rạt trên những cánh rừng. Nước mỗi lúc một mạnh, chảy tuôn trào từ đỉnh thác xuống từng kẽ đá, dâng cao dần, cao dần. Tôi lạnh cóng, những tưởng ngồi lại tới sáng ở đây có lẽ tôi sẽ chết cứng vì lạnh. Tôi chợt nghĩ ra tại đây chỉ có cái lạnh là thật, còn cái gì cũng giả, kể cả tôi. Nhưng cái lạnh là cái gì ? Chẳng qua cũng chỉ là cái nghiệp cảm của mình. Tôi nghĩ vậy. Tôi chợt muốn lao mình xuống dòng thác lũ kia, cho nó trôi đi đâu thì đi, không phải tôi muốn chết, muốn tự tử, mà là muốn buông xuôi tất cả. Thế rồi bỗng dưng, tôi chợt nghe có một con rắn đang gát đầu lên đùi của mình, lạnh tanh. Tôi run rẩy, sợ hãi. Té ra bây giờ chỉ có cảm giác sợ hãi là thật. Chỉ cần nó cắm đầu vào đùi tôi là chấm dứt tất cả. Nghĩ đến đó tôi thật sự hoảng hốt khi mường tượng phải xa lìa hẳn cuộc đời, cha mẹ, thầy bạn, người thân. Cảm giác đau khổ lại là cảm giác thật. Tôi lẹ làng dùng tay hất đầu con rắn ra xa rồi rùng mình đứng dậy. Về thôi !

Mưa vẫn rả rích, những tàn cây le le quất vào mặt túi bụi, đá lại quá trơn, tôi vội vã nên cứ trượt chân, đá đập vào ống quyển đau không thể tưởng, nhưng vẫn cố lao nhanh cho ra khỏi lòng thác, hướng về phía hừng đông mà chạy.

Về đến cô thôn, tiếng chuông khuya trầm ấm tỏa lan, rồi bao nhiêu chuông mỏ từ các thảo am lần lượt trỗi dậy, nhưng tiếng thác vẫn còn rền trong tâm khảm, từ ấy đến tận bây giờ.

PHẬT VÀ GIÊSU



Trần Chung Ngọc

-oOo-

Giêsu: Chào Đại Ca. Đại Ca vẫn mạnh?

Phật: Chào Chú. Cám ơn Chú. Chú dùng gì?

Giêsu: Anh cho Em ly rượu.

Phật: Rượu có tác dụng làm đầu óc con người kém minh mẫn. Anh đã không uống rượu từ khi Anh xuất gia. Chú uống tạm ly nước lã. Tuy nhiên, nếu Chú muốn, Chú có thể biến nó thành rượu như khi xưa chú đã biến 600 lít nước lã trong 6 cái chum thành rượu (John: 2), Anh không phản đối.

Giêsu: Anh nhắc chuyện nhỏ đó làm gì. Đó chỉ là phép lạ đầu tiên chứng tỏ quyền năng siêu nhiên của Em để cho các môn đồ tin Em là Chúa Cứu Thế (John: 2: 11).

Phật: Chú nói đó là phép lạ đầu tiên? Vậy Chú còn nhiều phép lạ nữa hay sao?

Giêsu: Có chứ! Em có thể đi trên sóng. (Matthew: 14: 25)

Phật: Em muốn sang sông thì cứ việc bỏ ra vài đồng tiền, lái đò sẽ chở Em qua, tội gì mà phải vất vả như vậy?

Giêsu: Em có thể đuổi quỷ từ trong người bị quỷ ám cho chúng nhập vào 2000 con heo rồi bắt đàn heo rông xuống biển chết đuối hết. (Matthew: 8: 32).

Phật: Mô Phật! Tội lỗi! Tội lỗi! Thế là cả đàn heo 2000 con chết oan uổng. (Thở dài) Pờ-liz công-ti-niu "Please continue."

Giêsu: Anh nói gì, Em không hiểu.

Phật: À, không có gì. Anh buột mồm nói tiếng Mỹ. Chú kể tiếp đi.

Giêsu: Em chỉ rủa một tiếng là cây sung phải chết héo queo. Số là hôm đó Em đang đói, nhìn đàng xa thấy một cây sung, nhưng tới gần chẳng thấy có quả nào, Em nổi sùng rủa một tiếng, thế là cây sung chết héo queo, không bao giờ có thể ra trái nữa. (Matthew: 21: 18,19)

Phật: Chú có biết lúc đó trái mùa nên cây sung không thể có trái không?

Giêsu: Em biết chứ.

Phật: Vậy thì mục đích Chú làm cho cây sung chết héo queo ngay chắc là để dọa mấy môn đồ của Chú: "Hãy coi chừng. Kẻ nào dám phật ý Ta. Hãy xem gương cây sung đó."

Giêsu: Chịu anh thôi. Anh có "Tha Tâm Thông" nên biết rõ bụng dạ em.

Phật: Hình như sau đó Chú còn bảo các môn đồ nếu có đức tin thì không những cũng có thể rủa cho cây chết héo queo được như Chú mà còn có thể ra lệnh cho núi tự động bò xuống biển? (Matthew: 21: 21).

Giêsu: Đúng vậy. Thánh Kinh đã viết như vậy thì làm sao còn sai lầm được.

Phật: Thế trong 2000 năm nay, Chú có thấy tín đồ nào của Chú làm được như vậy không?

Giêsu: Đó là bí quyết chiêu dụ môn đồ của Em. Họ tin lời hứa hẹn của Em nhưng họ làm không được, vì họ không biết rằng đó chỉ là một khẳng định bỏ ngỏ, vô trách nhiệm (affirmatiom gratuite). Nếu ai làm không được đến chất vấn, Em chỉ cần trả lời: tại ngươi chưa đủ đức tin. Thế là Em hết trách nhiệm. Không ai có thể kết án Em là Em nói láo. Cũng như trong Tám Mối Phúc Thật, Em nói "Phúc cho các con đang đói, rồi các con sẽ no," "Phúc cho các con đang than khóc, rồi các con sẽ vui cười" (Matthew 6: 21), nhưng Em có xác định là bao giờ họ sẽ no, hay bao giờ họ sẽ vui cười đâu? Anh biết không? Ngày nay các tôi tớ của Em đều theo cách hứa hẹn bỏ ngỏ này để truyền đạo và họ rất thành công.

Phật: Chú khôn thật. Chú có biết tại sao người ta đóng đinh Chú trên thập giá không?

Giêsu: Tại vì họ không tin em là Vua của dân Do Thái, là Con Một của Thượng Đế, là Đấng Cứu Thế của dân Do Thái, thuộc giòng dõi Vua David, mà họ từng mong đợi.

Phật: Không phải đâu. Vì nghiệp của Chú nặng quá. Anh thương Chú lắm nhưng Anh cũng chịu, nghiệp của Chú chỉ có Chú mới giải được.

Giêsu: Làm sao giải nghiệp, Anh chỉ cho Em đi.

Phật: Đơn giản thôi. Đừng làm các việc ác. Hãy làm mọi việc thiện. Giữ tâm cho thanh tịnh. Anh dạy chỉ có thế. (Kinh Pháp Cú: Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo).

Giêsu: Chỉ có vậy thôi à?

Phật: Chỉ có vậy. Thôi, để Anh mách Chú vài bí quyết để chuyển đổi tôn giáo "cứu rỗi" của Chú thành một tôn giáo "giác ngộ."

Giêsu: Tại sao Em lại phải đổi tôn giáo của Em thành một tôn giáo giác ngộ.

Phật: Chú quên rồi sao. Vị đại diện của Chú ở trên trần, Giáo Hoàng Gion Pôn Hai, vừa tuyên bố: "chẳng làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây, mà cũng chẳng làm gì có hỏa ngục ở trong lòng đất, tất cả đều do tâm mà ra." Như vậy là Giáo Hoàng đã cho Chú nghỉ dài hạn không lương, Chú cần phải đổi gióp (job) "cứu rỗi" thành gióp "giác ngộ" cho nó hợp với đà tiến bộ của nhân loại. Anh chỉ muốn giúp Chú thôi.

Giêsu: Cám ơn Anh nhiều. Nhưng làm sao đổi được.

Phật: Đơn giản thôi. Chú chỉ việc nghe theo Thiền Sư Nhất Hạnh, biến Cha Chú, Thượng Đế, thành Phật Tánh, đổi danh hiệu "Đấng Cứu Thế" của Chú thành "Đại Sư," đồng hóa Thánh Linh với Tỉnh Thức hay Niết Bàn, thế là xong.

Giêsu: Dạ vâng. Nhưng khó quá Anh ơi. Vì bản chất những thứ trên hoàn toàn khác biệt.

Phật: Chú "phép tắc vô cùng," làm gì chẳng được.

Giêsu: Ờ nhỉ. Em quên khuấy đi mất.

Phật: Thế thì Chú yên tâm rồi nhé. Thôi, để khi khác chúng mình nói chuyện tiếp. Anh phải đi Tọa Thiền.






Giêsu: Chào Anh. Em cũng phải về ngồi cạnh Cha Em ở trên Thiên đường, à quên, ở trong Tâm của Em.

Tầm Ngưu (Tìm Trâu) -Thập Ngưu Đồ




Tùng lai bất thất, hà dụng truy tầm. Do bội giác dĩ thành sơ, tại hướng trần nhi toại thất. Gia sơn tiệm viễn, kỳ lộ nga sa. Đắc thất sí nhiên, thị phi phong khởi.
Diễn ý:

Chưa mất (trâu, cái ta) bao giờ, cớ chi phải chạy đi tìm. Chỉ vì quay lưng trước sự thức tỉnh mới thành ra xa lạ (với chính mình). Trong khi mắt nhìn vào chỗ bụi mù dấy lên, thì (trâu, cái ta) đã mất dạng. Cố hương (gốc gác) càng lúc càng xa, đường đi ngã rẽ thêm nhiều. Sự phân biệt mất, còn bừng cháy như ngọn lửa, mối lo phải, trái dựng tua tủa như chông kiếm).

Phụ chú:

Tầm ngưu : Ý tưởng “tìm trâu” (tầm ngưu) vốn không phải mới. Xưa kia, trong (Cảnh Đức) Truyền Đăng Lục (do tăng Đạo Nguyên đời Tống soạn năm Cảnh Đức 1 tức 1004) , quyển 29 đã thấy chép bài tụng của Long Nha như sau:

Tầm ngưu tu phỏng tích,
Học đạo phỏng vô tâm.
Tích tại ngưu hoàn tại,
Vô tâm đạo dị tầm.


尋 牛 須 訪 跡
学 道 訪 無 心
跡 在 牛 還 在
無 心 道 易 尋

(Tìm trâu phải theo dấu,
Học đạo hãy vô tâm.
Dấu có, trâu còn đó,
Vô tâm đạo dễ tìm.)



Tùng lai bất thất: Để ý là câu này không có chủ từ lẫn túc từ.Thêm chữ ngưu là trâu vào sau đó cũng được thôi. Đây lại là khởi điểm của vấn đề vì tuy bảo là chưa mất (bất thất) nhưng sự thực thì mất đã lâu, dù nói rằng trước giờ (tùng lai) đã là thế nhưng hiện tại vẫn chưa lấy làm chắc. Câu này nhấn mạnh sự mâu thuẫn của con người khi muốn đi tìm bản ngã.

Do bội giác dĩ thành sơ: Đạo Lăng Già Kinh quyển 4 viết: Chúng sinh mê muộn, bội giác hợp trần. Nghĩa là quay lưng với bản giác, hướng về trần tục. Xem thêm lời đối đáp nổi tiếng giữa tăng và Kính Thanh về “tiếng giọt mưa rơi” (vũ trích thanh) trong tắc số 46 của Tuyết Đậu Tụng Cổ. Đạo Nguyên (Dôgen) của Nhật Bản cũng nói:

“Đem cái ta mà tu chứng vạn pháp sẽ mê lầm. Dùng vạn pháp để tu chứng cái ta sẽ giác ngộ”. Tóm lại, cả ba trường hợp đều có chung một cách nhìn. “Thành sơ” là trở nên xa lạ, như chuyện đứa trẻ nghèo trong truyện “trưởng giả cùng nhi” trong Tín Giải Phẩm của kinh Pháp Hoa. Đạo Lăng Nghiêm kinh quyển 1 tóm lược câu chuyện trong bốn chữ “xả phụ đào thệ” (bỏ bố mà chạy trốn) và chuyện nó không nhìn nhận bố mình (xả phụ) được Tử Tuấn giảng nghĩa là “bất thức bản tâm, bội thanh tịnh giác”.

Hướng trần: Nhìn, đi theo bụi bặm. Nhưng có thể đồng nghĩa với “hợp trần” (sa vào chỗ bụi bặm) , chữ của kinh Thủ Lăng Nghiêm.

Kỳ lộ: tích Dương Chu đi tìm con dê nhà hàng xóm bị lạc, thấy nhiều ngã rẽ thì ôm mặt khóc vì thấy cuộc đời sinh ra lắm lối làm cho con người mất sự trinh nguyên của thuở ban đầu.

Đắc thất, thị phi: có thể, không thể, thiện, ác.

Phong khởi: Phong là mũi nhọn như kiếm. Có chỗ viết chữ phong là con ong. Như thế có nghĩa là thị phi ồn ào, nhặng nhị.

Tụng của Lương Sơn Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Mang mang bát thảo khứ truy tầm,
Thủy khoát sơn dao lộ cánh thâm.
Lực tận thần bì vô xứ mịch,
Đản văn phong thụ vãn thiền ngâm.



茫 茫 撥 草 去 追 尋
水 闊 山 遥 路 更 深
力 盡 神 疲 無 処 覓
但 聞 風 樹 晩 蝉 吟


(Mênh mông vẹt cỏ cất công tìm,
Nước rộng non cao lối mịt mùng.
Sức mỏn hơi tàn chưa thấy dấu,
Rừng phong đà vẵng tiếng ve tàn).

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:


Chỉ quản khu khu hướng ngoại tầm,
Bất tri cước để dĩ nê thâm.
Kỷ hồi phương thảo tà dương lý,
Nhất khúc tân phong không tự ngâm.



只 管 区 区 向 外 尋
不 知 脚 底 已 泥 深
幾 廻 芳 草 斜 陽 裏
壱 曲 新 豊 空 自 吟


(Mãi lo ngang dọc mắt trông tìm,
Nào biết đôi chân đã lún sình.
Hát khúc được mùa ai kẻ đoái,
Bao chiều nắng xế cỏ non xanh).



Họa lại của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:



Bản vô tung tích thị thùy tầm,
Ngộ nhập yên la thâm xứ thâm.
Thủ bả tỵ đầu đồng quy khách,
Thủy biên lâm hạ tự trầm ngâm.



本 無 縦 跡 是 誰 尋
誤 入 煙 蘿 深 処 深
手 把 鼻 頭 仝 帰 客
水 邊 林 下 自 沈 吟



(Dấu chân không có biết đâu tìm,
Lạc mất trong sương khói mịt mùng.
Khách nắm mũi trâu cùng trở lại,
Trong rừng ven suối dáng trầm ngâm)

Phụ chú:

Mang mang bát thảo: Mang mang 茫茫 có nghĩa ngút ngàn, không bến bờ. Có chỗ chép là mang mang 忙忙 với nghĩa bận rộn, lo âu. Bát thảo là vẹt cỏ. Trong thiền ngữ “chiêm phong bát thảo, đăng sơn thiệp thủy” (ngắm hướng gió và vẹt lối cỏ, trèo non lội suối) còn có nghĩa là đi tìm lẽ đạo.

Phong thụ: Đồng nghĩa với phong thụ 楓樹 là cây phong. Gây nên một cảm tưởng lạnh lẽo ma quái và bao trùm lên. Cây phong già (lão phong) có thể thành tinh
Vãn thiền: tiếng ve cuối mùa tức tiếng ve ngâm buồn bã và yếu ớt khi trời vào thu.


Thạch Cổ Di Hòa Thượng 石鼓夷和尚: thiền sư dưới Viên Ngộ 4 đời. Thụy hiệu Hi Di 希夷, truyện có trong Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục quyển 1. Mấy bài họa tụng này cũng được chép lại trong đó. Để biết thêm về ông, xin xem pháp hệ đồ trong phần

giải thích xuất xứ.

Chỉ quản khu khu: Chăm chút lo mỗi một việc, không biết đến việc khác. Khu khu còn có ý nói việc thì lớn mà sức lại yếu.

Kỷ hồi phương thảo tà dương lý: Kỷ hồi: bao nhiêu lần. Phương thảo: cỏ thơm, khung cảnh đáng yêu, cảnh ngộ vui thỏa. Bích Nham Lục tắc 36 có câu: Thủy tùy phương thảo khứ. Hựu trục lạc hoa hồi (Ra đi lần lối cỏ tươi. Rồi theo mấy cánh hoa rơi ta về).

Tân phong 新豊: Một chữ khó hiểu! Khúc hát nhà nông mừng mùa thu hoạch mới?

Động Sơn có bài Tân Phong Ngâm nhưng để nói về núi Tân Phong chứ không liên hệ đến mùa màng. Cũng vậy, Bạch Cư Dị có Tân Phong Chiết Tý Ông nhưng Tân Phong lại là một tên huyện.

Hoại Nạp Liên Hòa Thượng 壊納璉和尚: Theo thứ tự Ngũ Tổ ‡ Đại Tùy ‡ Thạch Đầu ‡Vân Cư Bồng Am Hội ‡ Hoại Nạp Đại Liên. Như vậy, ông là học trò 4 đời của Đại Tùy. Tên được nhắc đến trong Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục nhưng truyện ký không có gì rõ ràng.Họa tụng của ông cũng không thấy ở đâu khác. Bản Thập Ngưu Đồ in ở Nhật thời Edo lại lẫn lộn thơ Hoại Nạp với thơ Thạch Cổ.


Yên la: Chỗ giây leo rậm rạp phủ trong sương khói. Tượng trưng cho nơi thần tiên ở.

Thơ của Hàn San có câu:



Bình sinh tự lạc đạo,
Yên la thạch động gian.
Dã tình đa phóng khoáng,
Trường bạn bạch vân nhàn.
Hữu lộ bất thông thế,
Vô tâm hà thục phan?
Thạch sàng cô dạ tọa,
Viên nguyệt thướng Hàn San.

平 生 自 楽 道
煙 蘿 石 洞 間
野 情 多 放 曠
長 伴 白 雲 閑


有 路 不 通 世
無 心 何 孰 攀
石 床 孤 夜 座
円 月 照 寒 山



(Một đời tự vui đạo,
Thạch động khói cây nhòa.
Hoang dã tình cao rộng,
Mây trắng bạn cùng ta.
Có đường không đi lại
Vô tâm chẳng lụy người
Giường đá ngồi riêng bóng,
Hàn San nguyệt tỏ ngời).

Đồng qui khách: Giống như người đã nắm được mũi trâu và cùng nhau quay về nhưng bây giờ vẫn còn là thân lữ khách. Đồng quy-khách nhưng cũng có thể đọc đồng –quy khách.

Thủy biên lâm hạ: Khung cảnh sinh hoạt của người bỏ cuộc đời đi ở ẩn. Cố Huống trong bài thơ nhan đề Đề Diệp Đạo Sĩ Sơn Phòng (Đề ở am trên núi của đạo sĩ họ Diệp) có câu:

Thủy biên dương liễu xích lan kiều,
Động lý thần tiên bích ngọc tiêu.

水 邊 楊 柳 赤 欄 橋
洞 裏 神 仙 碧 玉 蕭

Tăng Linh Triệt trong Thù Vi Đan (Đáp ông Vi Đan) từng viết:

Tương phùng đạo tận quan hưu khứ,
Lâm hạ hà tằng kiến nhất nhân.

相 逢 道 盡 官 休 去
林 下 何 曾 見 壱 人


(Gặp nhau chuyện vãn quan về nghĩ,
Trong núi chưa hề gặp một ai)



Lời bàn của Yanagida Seizan:



Câu chuyện đột ngột bắt đầu ở giữa chừng bằng việc phải đi tìm trâu. Người kia cho là xưa nay mình chưa bao giờ mất nên không ai kịp bảo hắn biết là kẻ đi tìm và vật phải tìm chỉ là một. Vấn đề đã lộ diện từ lúc bắt đầu tìm. Con trâu sổng chuồng đi mất.

Ý thức được chuyện đó rồi, chỉ còn có cách đuổi theo trâu. Tất cả đều bắt đầu từ thời điểm ấy

Mục đích của Khuếch Am chính là bắt đầu kể câu chuyện ở giữa chừng. Nói cách khác, ông xem việc “nhập triền thùy thủ” như một tiền đề. Nhập triền có nghĩa là đi vào trong xóm chợ, và xóm chợ ở đây là nơi đám đông sinh hoạt. Kẻ đại ẩn thường náu mình nơi phố thị. Cái người trong bức họa lúc đó bắt được trâu rồi và cũng đã
quên bẳng cả việc mình bắt được trâu. Vấn đề xem như đã thanh toán xong. Bây giờ ông ta có thể thong dong đi trong chợ mà không vướng bận điều gì.Thế nhưng khi vào một chỗ đông đúc như cái chợ, đương nhiên sẽ nẩy sinh những vấn đề mới. Ví dụ : 
một anh chàng nào đó vì vô ý vừa để trâu sổng chuồng. 

Như tên gọi của nó, Thập Ngưu Đồ cơ bản là 10 bức tranh kèm theo 10 bài tụng. Tất cả các bức tranh được vẽ lồng trong khung tròn. Nói cách khác, đó là “viên tướng 円相”. Chính ra cái tranh viên tướng đó được dành riêng cho bức họa thứ 8 (Nhân ngưu câu vong) thế nhưng bây giờ, xin chú ý cho là trong 10 bức tranh có hình viên tướng thì 9 bức từ bức thứ nhất cho đến bức thứ chín, tranh được vẽ trong vòng trắng giữa khung đen khi bức thư mười lại toàn màu trắng (Seizan muốn dẫn chứng bằng bộ tranh trong sách Ngũ Vị Thiền, bản Gozan (Ngũ Sơn), tàng trữ ở thư viện trường Đại
học Tenri). Chín bức đầu có một sự tương hổ tuần hoàn, khác với bức thứ mười.

Tóm lại, 9 bức tìm trâu là một sự tuần hoàn trong một vòng đen lớn và ta muốn xoay vòng ở chỗ nào trên sân khấu đó cũng được. Hãy lấy bức tranh thứ nhất có vòng đen làm điểm khởi hành rồi bắt đầu xoay quanh tất cả. Dù gọi nó là phát tâm, cầu đạo hay tín ngưỡng đi nữa, hiện tượng tôn giáo là hiện tượng xảy đến cho ta vào một ngày nào đó khi ta bất chợt để ý rằng trong lồng ngực của mình như có cánh cửa lớn mở tung, và có tiếng hô hoán cất lên trong hư vô. Trong chuồng, chẳng thấy trâu đâu cả! Thực tình thì chính cái hư vô ấy nó đã chạy qua phía bên kia nghĩa là đi vào một cái vòng
đen khác trong cái khung đen lớn. Thật ra, cầu đạo là gì? Cầu đạo không phải là ta đi tìm đạo nhưng đạo đi tìm ta. Trâu phải đi kiếm người. Vì muốn tìm đến con người thật, trâu mới bỏ cái chuồng giả tạo ra đi.

Quái, sao lại thế nhỉ? Tuy người ấy nghĩ là chuyện như vậy làm gì xảy ra được nhưng lúc đó sự thể đi quá xa mất rồi. Khi chợt nhận ra thì chuyện mình không ngờ đã xảy đến từ lâu. Bây giờ chỉ còn biết cấp tốc tìm ra giải pháp cụ thể để đối phó.”Cước hạ chiếu cố” (Nhìn xuống bàn chân) chính là giải pháp đấy. Phải nhổ mũi tên độc, rịt miệng vết thương. Những câu hỏi như xem mũi tên kia từ đâu bắn đến, chất độc ấy thuộc loại gì, để sau đó hẳn hay. Trong giải pháp cấp cứu, sẽ thấy mở ra con đường như sau:

Trước tiên, phải đi tìm trâu.Không thể làm như Dương Chu đứng khựng trước ngã rẽ ôm mặt khóc mãi. Bát thảo nghĩa là vẹt cỏ đến tận rễ để tìm.Chuyện tìm trâu phải có quyết tâm tiếp tục tìm cho bằng được mới thôi. Câu “Sơ phát tâm thì cánh thành chính giác” (Lúc lòng mới phát nguyện thì chính giác đã thành) phải hiểu là sự hồi tưởng lại cái lòng cương quyết bằng cách nào mình cũng phải thành chính giác đặt ra lúc mới phát nguyện.

“Tâm đệ tử không được yên. Xin thầy giúp cho đệ tử được yên tâm”. “Đi tìm tâm của ngươi đưa đây, ta sẽ giúp cho ngươi được yên tâm”. “Đệ tử đã đã tìm rồi mà chẳng thấy tâm đâu”. “Như thế là ta đã làm cho ngươi được yên tâm rồi đó”.

Có là công án nổi tiếng “An tâm vấn đáp” giữa thầy trò Đạt Ma và Huệ Khả. Đạt Ma đã giải quyết thỏa đáng yêu cầu của Huệ Khả với câu nói: “Đưa cái tâm không yên của ngươi cho ta xem!” Vì cái tâm không yên làm gì thấy ở đâu nên việc dạy cho cách thức để yên tâm cũng không có nốt. Nhưng Đạt Ma thoắt cái đã giải quyết được nỗi
khổ của Huệ Khả, người không được an tâm.
Câu trả lời của Đạt Ma là nếu không đưa cái tâm không yên ra thì dù có muốn làm cho nó yên cũng không sao yên được. Nói cách khác, cái gọi là cái tâm không yên nào

có ở đâu. Rõ ràng ông chỉ muốn học trò tự mình nhận ra chân lý ấy chứ không hề làm chuyện đối cơ thuyết pháp. Thoắt cái, chân lý đã hiện ra trước mắt học trò.

Có nhiều lối giải thích cho học trò. Thế nhưng dùng câu nói: “Đưa cái tâm không yên của ngươi cho ta xem!” để trả lời là cách giải quyết đúng đắn nhất của Đạt Ma. Nó chỉ vừa đủ để làm cho Huệ Khả được an tâm chứ không làm gì khác hơn. Và tôi xin chấm
dứt ở đây với lời thuyết minh như sau:

Huệ Khả bảo tâm của mình không được yên.Không còn biết làm thế nào để tránh né vấn đề, ông mới phóng ra câu hỏi sắc bén về phía Đạt Ma, buộc Đạt Ma phải trả lời.

Cũng vậy, Khuếch Am kéo chúng ta vào trong thế giới của Thập Ngưu Đồ, và có thể nói ông đã phóng ra câu hỏi sắc bén qua chương Tìm Trâu nói trên vậy.

Tôi chỉ là tờ giấy... bạc


“Đời đen, tôi tẩy trắng, Trắng tôi nhuộm thành đen”
“Chỉ ai Luôn Tỉnh Thức. Hết bị tôi quay mòng!”

Tôi chỉ là tờ giấy
Mà uy lực vô song
Trước tôi, người run rẩy
Đổi giọng, đổi cả lòng..


Tôi chỉ là tờ giấy
Mà khiến đời long đong
Ngược xuôi hai dòng chảy
Mãi kiếm tìm, chờ trông…


Đời đen, tôi tẩy trắng,
Trắng- tôi nhuộm thành đen
Đường cong tôi bẻ thẳng
Lạ biến thành thân quen.


Tôi là một mảnh giấy
Người cao thượng.. bỗng hèn,
Kẻ hèn thành... "thượng đế"
Dù tâm hồn lấm lem...


Ai cho tôi giá trị,
Ai cho tôi quyền năng,
Ai cho tôi tiếng nói,
Ai vì tôi nhọc nhằn ?


Tôi chỉ là mảnh giấy
Thiện, Ác cũng là tôi,
Dù chà tôi dưới đất
Thoáng chốc trèo lên ngôi.


Hỏi trên đời mấy kẻ
Thoát được bàn tay tôi ?
Tôi xua Đời lẫn Đạo
Chạy vào trong luân hồi..


Tôi là một tờ giấy
Đời vui, buồn mênh mông…
Chỉ ai Luôn Tỉnh Thức.
Hết bị tôi quay mòng!


Thích Tánh Tuệ Quảng An

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Tổ quốc trong tôi đẹp mãi muôn đời




Tổ quốc trong tôi đẹp mãi muôn đời
Từ thuở Âu Cơ đưa năm mươi người con lên rừng
Và Lạc Long Quân mang năm mươi người con về phía biển
Gấm vóc non sông muôn đời hiển hiện
Con Lạc cháu Hồng chung dòng máu tổ tiên…


Tổ quốc trong tôi sống đẹp, sống hiền
Biết “chín bỏ làm mười”
“Một câu nhịn, chín câu lành” nhân nghĩa
Giữa phong ba, bập bùng bão tố
Vẫn kiên trung, ngay thẳng, ngẩng cao đầu!


Tổ quốc trong tôi mưa nắng dãi dầu
Hạt gạo dẻo thơm bởi mồ hôi vị mặn
Cây đước chân trần bao đời bám biển
Hạt phù sa mát rượi lúa đồng xanh…

Tổ quốc trong tôi ơn nghĩa sinh thành
Nên vóc dáng, nên hình hài đất nước
Cánh cò trắng bay rợp miền cổ tích
Hoa khế bờ ao tím biếc mây chiều…


Nói sao hết được lòng mình
Hỡi Tổ quốc thương yêu
Cho tôi được hóa thân làm ngọn sóng
Cho tôi được hóa thân làm biển rộng
Ôm trọn mảnh đất này
Giữ máu thịt cha ông...

Lê Thị Xuân Hương

Vắng & mất



Về với đất. Bao nhiêu người thân trong đời ta đã ra đi, đã đi xa, đã về với đất, về chốn vĩnh hằng, về nơi an nghỉ ngàn thu.


Đi là xa, xa là về...


Đất, nước, gió, lửa - bốn chất cấu tạo nên hình hài thể xác con người đang tan rã trong giây phút lâm chung, mà bây giờ có lẽ chỉ còn lại đất lưu giữ cho hồn phách nơi trú ngụ cuối cùng chăng? Nỗi nhói đau trong lòng ta khi đứng bên huyệt mộ của người thân, lặng nhìn những nhát xẻng vô tình của các phu đào huyệt xúc đất đổ xuống, lấp dần dần chiếc quan tài kia, nơi mà thi hài của người thân ta vừa mới còn nhìn thấy lần cuối cùng trong giờ phút tẩn liệm, nỗi nhói đau ấy cứ quặn theo với từng hồi ức nóng hổi còn lưu lại với con người ấy, mới vừa sống bên ta, vừa ăn, uống, nói, cười, vui, buồn, khổ, sướng bên ta, nhưng giờ đã xuôi tay nhắm mắt, đã đi mất hút vào trong một thế giới bất khả tri nhận của yên lặng và vô hình.


Em tôi vừa mới cười giỡn với tôi mới ngày hôm qua đây thôi, vừa mới nói đến những dự tính và ôm ấp của mình, và vừa mới khoe với tôi bài thơ được đăng báo, vừa mới mua quà và chọc ghẹo con gái tôi, vừa mới bàn về chương trình thức đêm coi bóng đá. Vậy mà bây giờ em đã đi xa.

Lão Tử viết: “Đạo viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản” - (Đạo là đi, đi là xa, xa là về). Nhưng em trở về đâu? Như sách nói “sinh ký tử quy” ư? Sống giữa thế gian như trong quán trọ để rồi lại làm một kẻ lữ khách ra đi, đi xa và xa là về? Người thân vừa chết đi có nhiều điều khiến ta không muốn tin vào cái chết ấy. Nỗi khát khao còn có được người thân bên cuộc đời mình lại như một nỗi ân hận giày vò mình vì ta đã không còn được gần gũi kề cận, được chia sẻ, được tâm sự, được la rầy trách móc, được thương yêu đùm bọc.


Ôi! Giá như ta đã không có những lúc vô tình với chú ấy, giá như ta đã có nhiều thời giờ hơn để thân mật với chú ấy... Sự thiếu vắng giọng cười, tiếng nói của chú, mặt mũi, cử chỉ, thái độ của chú trong cuộc sống thường ngày của ta là sự thiếu vắng quả khó chịu đựng nổi. Vắng thật rồi sự hiện diện quen thuộc - nhiều khi đến bực mình - của chú trong gia đình, trong bạn bè thân hữu. Rồi khi ta nhận ra sự vắng chú chính là sự mất chú.


Không phải chú chỉ vắng mặt trong cuộc sống thường nhật của ta trong một thời gian nào đó để rồi sẽ quay trở lại, mà thật ra chú đã mất hẳn thật rồi, mất đi vĩnh viễn trong cuộc sống của con người xương thịt. Vắng đây là mất. Em tôi đã mất tích luôn giữa trần gian náo động, và lưu lại trong lòng những người ở lại như tôi lời nhắn xa xôi mơ hồ trong gió...
Đi là xa, xa là về...

Tản văn Vĩnh Hiền

Hát cho ngày mai



Kiếp trước, gã là ai? Có thể gã là ca sĩ chăng? Và đấy là bài hát còn sót lại của quá khứ. Có lẽ những ngày xưa gã hát chưa thành bài thì một ai đấy gởi gã xuống trần gian này, nên giờ gã cố hoàn thiện bài hát đó. Chợ chứng kiến gã đứng hát ở đây chừng... mười lăm năm. Từ ngày cái chợ được lợp bằng những tấm ni-lon lùng bùng cho đến nay chợ được xây khang trang với hai tầng hẳn hoi. Dân kẻ chợ gọi gã là thằng điên, bọn con nít gọi gã là thằng khùng, còn ông già nhặt ve chai ở chợ gọi gã là đứa bé.

Ông già rất thương đứa bé. Điều này khỏi xác minh bởi nó được thể hiện bằng những cử chỉ ân cần của ông già đối với đứa bé. Người ta lại đặt câu hỏi, sao ông già tha phương cầu thực lại thương đứa bé này? Hay kiếp trước ông mắc nợ đứa bé? Cũng kỳ cục. Với ông già, thương thì thương thế, vô điều kiện. Tấm lòng của ông già đối với đứa bé khiến mọi người phải xem lại cách thương của mình. Và khi có ông già, hành động hay lời nói khiếm nhã với đứa bé cũng ít xảy ra hơn.

Đứa bé chỉ nghe lời mỗi ông già. Và ông già cũng chỉ quan tâm tới mỗi mình nó. Hai người họ chỉ ăn hoa quả sống qua ngày. Đôi lúc đứa bé đi ngang qua cửa hàng cơm mặn thèm nhỏ dãi nhưng nó vẫn nhớ lời ông già dặn. Hãy chỉ ăn hoa quả để luyện thanh, một mai con sẽ hát được bài hát mà con yêu thích.

Đêm. Cầu thang là nơi ông già và đứa bé trú ngụ. Ông già thường kể cho đứa bé nghe câu chuyện ngày xưa của ông. Chuyện giản đơn vì sao ông già tới nơi này, ông tới đây vì đứa bé.

- Nhưng vì sao?

Câu hỏi này ông già đoán từ cái nhíu mày của đứa bé. Ông cười, làn da nhăn nhúm và mấy sợi râu bạc rung rung.

- Là nói đại khái thế, học cách bắt chuyện ngày xưa của người dân kẻ chợ. Có thể chúng ta đến nơi này để trả những nợ duyên.

Ông già lại tiếp tục kể cho đứa bé nghe câu chuyện của những người lang thang trên hành trình làm người và những nghiệp chướng mà họ gây ra. Cả những việc tốt mà họ làm để trả nợ. Khi nghe ông già kể chuyện, mắt đứa bé nhìn lên trời cao vời vợi. Nhưng ông già nói, đừng cố làm, cố được mất. Con cứ sống như những ngày mà chúng ta sống nơi đây khi đó trời sẽ gần chúng ta hơn. Đứa bé đã thuộc lòng câu chuyện và coi ông già như bố của mình. Nó chắp hai tay trước mặt rồi từ biệt ông già. Nó đi vào giấc ngủ. Khi nghe ông già hát, đứa bé thấy mình trôi bồng bềnh trên những đám mây. Theo sau nó là ông già. Hai người họ bước ra từ một ngôi nhà khá đẹp. Đúng rồi, đứa bé nhớ lại đấy là nhà của mình và ông già chính là bố. Những hình ảnh chắp ghép nhau, có một con chim đang cất tiếng hót, đứa bé muốn có nó bằng mọi cách. Ông già giương cao mũi tên nhằm vào cánh. Con chim thôi tiếng hót, chao nghiêng rồi rớt xuống đám mây. Máu đỏ nhuộm trên nền mây trắng. Con chim biến thành một người con trai. Người con trai đó nhập vào đứa bé rồi cùng bố đi lang thang. Khi ngoái đầu trở lại, ngôi nhà đã biến mất. Góc chợ hiện ra với những quả cam thối trôi lúc nhúc trong nước mưa dầm dề ở chợ. Đứa bé hỏi ông già.

- Chúng ta đang ở đâu đây? Câu hỏi của đứa bé bằng tiếng chim, ông già không hiểu. Từ hôm sau đứa bé cố hỏi thêm một số điều thì nó bị mất giọng. Nó lặng im, chỉ nghe ông già nói.

Đứa bé trở dậy khi cơn mưa bắt đầu trút xuống cho ngày mới nơi đây. Chợ thưa thớt người, những âm thanh thường ngày rộn rã biến đi đâu mất. Nó cũng chẳng mấy thấy nhớ âm thanh này. Nó nhíu mày tựa nhớ về một ngày nào đó rất xa xôi.

- Rồi con sẽ hát được bài hát cho ngày mai. Hãy sống nốt những ngày ở nơi đây với những thứ mà chúng ta kiếm được. Khi trả xong món nợ của ngày xưa, chúng ta sẽ rời khỏi nơi đây.

Đứa bé nhíu đôi mày lại và ông già hiểu đấy là một câu hỏi của nó.

- Con không thắc mắc vì sao chúng ta đến nơi này ư? Vì sao chúng ta phải sống cảnh ăn mày nơi góc chợ và cả những người trôi lúc nhúc trên bể trần gian...

Người người đi chợ nán lại một chút lén nghe câu chuyện của ông già. Họ chậc lưỡi và bước nhanh vào trong chợ. Ở đấy còn có nhiều thứ hấp dẫn họ hơn. Con cá tươi rói được vớt lên từ sông, con heo vừa mới được làm thịt và cái lồng gà, lồng vịt chen lấn nhau. Trong tù túng chúng mổ vào mắt nhau kêu lên chí chới. Hôm có người đi ngang qua hỏi ông già một câu.

- Tôi thực sự không biết ăn gì nữa. Ông có thể chỉ cho tôi không?

Ông già không chỉ cho người đấy phải ăn cái gì. Ông chỉ nói với người đó rằng tận cùng của con người là cái khổ. Khổ nhất là không biết ăn gì.

*

Ông già ốm quặt khi bước sang mùa đông giá buốt. Đứa bé không ra hát ở chợ nữa, nó quanh quẩn bên ông già. Nhìn tình cảnh của ông, người dân kẻ chợ rất ái ngại. Ban Quản lý chợ giải quyết cho ông già đi viện khi đã gom đủ không ít tiền từ thiện trong các chủ quầy. Họ đặt vào tay ông già số tiền đó và yêu cầu đi theo họ đến bệnh viện. Đứa bé hăm he giải thích nhưng họ không nghe thấy được. Ông già gắng gượng nói với họ.

- Xin cho tôi ở đây thêm một thời gian thôi, xong việc chúng tôi sẽ rời khỏi nơi này.

- Già không có việc gì ở đây cả.

- Tôi có mà.

- Nếu già chết ở nơi đây?

- Đây là chốn tạm bợ của biết bao con người.

- Nhưng già ở đây thêm bao ngày nữa?

- Chỉ hết ngày hôm nay thôi.

Họ lặng im bỏ đi, để lại ông già và đứa bé cùng một nắm tiền. Ông già bảo đứa bé mang hết số tiền phát cho người ăn xin ở chợ. Khi chiều xuống, ông gọi đứa bé đến bên cạnh mình và nói.

- Hết chiều nay, khi đêm xuống sương sẽ tan nhanh. Sẽ có ánh trăng vào mùa đông lấp lánh. Cánh chim đó sẽ thoát khỏi người con và nó đập cánh lên không trung.

Giọng ông già ấm áp. Đứa bé nhìn ông mỉm cười. Trời mùa đông thấp thoáng những màn sương rơi. Người người thấy lạ và truyền tai nhau chạy ra đường. Bầu trời có trăng bàng bạc cùng những ngôi sao lấp lánh. Đến nửa đêm trời ấm áp kỳ lạ. Mọi người không muốn trở về ngôi nhà của mình, họ cứ mải thong thả bước chân trần trên những con đường láng mịn bởi ánh trăng. Từ trên bầu trời cao, ánh trăng bắt đầu vỡ ra. Từng luồng ánh sáng rớt lên khu chợ. Họ kéo nhau về đó rất đông, họ kéo nhau về tới góc chợ có những quả cam thối lúc nhúc mỗi ngày. 


Ở đấy, có tiếng hát rất trong và vút cao. Bài hát nghe xa lơ xa lắc. Nó lạ đến vô chừng và người hát chính là đứa bé. Bóng nó thấp thoáng dưới ánh trăng, câu hát thấp thoáng trong làn gió đưa qua khu chợ. Ông già đứng dậy rồi đi rất linh hoạt đến bên đứa bé. Từ nơi ánh sáng chói xuống, có một con chim trắng bay lên trên tầng tầng lớp lớp mây trắng bồng bềnh. Ông già và đứa bé cũng đi theo cánh chim để lại hai bộ quần áo nhàu nát trên nền chợ. Người người trố mắt nhìn theo. Lúc sau họ vội vàng chạy ra khỏi khu chợ vì nghĩ rằng đấy là bóng ma của ông già và đứa bé.
Chợ, một sớm mai người đến đây thưa thớt. Chỉ có một vài tình nguyện viên tìm kiếm cái xác ông già và đứa bé nhưng không hề thấy. Họ lắc đầu, có lẽ ai đó đã mang họ về cõi nào khác khi đã hết kiếp ở trần gian. Sau đêm hôm ấy, dân kẻ chợ đã xây ở góc đó một đền thờ uy nghiêm. Trong một đêm trăng sáng người ta nhìn thấy một con chim trắng tha về đấy một mầm non cây bồ-đề. Nó thả xuống đền và giờ đây cây xanh tỏa bóng râm một góc chợ. Ở cái đền ngày nay, người ăn xin thường quây quần ở đấy. Ai cũng mong gặp con chim trắng, ai cũng mong gặp được nguồn ánh sáng trong câu chuyện kể của ngày xưa để hóa kiếp một lần.

Truyện ngắn Hoàng Hải Lâm

Vài lời với những người tiếm danh 'nhân sĩ, trí thức'



Xã hội Việt Nam có hàng chục triệu bậc trí thức, sĩ phu. Người Việt hải ngoại cũng có hàng vạn nhân sĩ, học giả, trí thức. Tuy nhiên, cũng như bao tầng lớp khác trong mọi xã hội, trong số các trí thức đó cũng có một bộ phận thiểu số có đầu óc lệch lạc, hoang tưởng, có tư tưởng theo hướng phản động, ích kỷ, hẹp hòi, cái Tôi quá lớn sinh chứng vĩ cuồng, háo danh và ưa chuộng hư vinh.

Nhưng tiếu lâm thay, những hàng dỏm này lại rất tự cao và thích tự phong, tự xưng, mạo danh, nhân danh "nhân sĩ trí thức", tự nhận xằng và tiếm danh người khác. Họ khoa chân múa tay phán bừa bãi "vung xích chó" về những đề tài họ không biết, hoặc hiểu biết rất ít, bỏ ra rất ít thời gian để tìm hiểu nghiên cứu, chưa từng có một chút kinh nghiệm, thực nghiệm nào. Hoặc họ phán, viết về những lĩnh vực tréo ngoe với công việc và chuyên môn chuyên ngành của họ.

Họ không xứng đáng là những trí thức, và những gì họ viết, họ phán đã cho thấy những trình độ không tương xứng với các học vị, học hàm, chức danh, hay nhãn hiệu, "thương hiệu" bề ngoài của họ. Nói nôm na là "hữu danh vô thực", "có tiếng không có miếng".

Trọng tâm, trọng điểm của bài luận này là về những "trí thức" nói trên mà đang muốn tầm thường hóa, ngoại quốc hóa, đô la hóa, tư bản hóa lịch sử dân tộc Việt Nam. Gần đây những thành phần "trí giả" không có trí tuệ thật, "học giả" chưa từng học thật này thường xuyên "dòm ngó" đến đề tài sử học và tuyên truyền bừa bãi, tai hại về đề tài này, với sự hậu thuẫn và tiếp tay của các đợt tấn công Diễn biến hòa bình. (đọc thêm)

Bài này nói về những ai muốn tầm thường hóa lịch sử, ngoại quốc hóa sử học, hô hào bác bỏ dạy sử theo phương pháp truyền thống đặt trọng tâm vào khía cạnh đoàn kết chống xâm lăng, tôn vinh những anh hùng dân tộc có công giữ nước, đánh đuổi quân xâm lược. Những giá trị đó đều bị bọn họ vu khống đặt điều rằng dân ta muốn "đặt lịch sử lên bàn thờ", rằng phải "trưởng thành lên".

Đọc bài này các bạn cũng sẽ thấy vì sao nên phạt tiền thật nặng cho tội cào bằng, xuyên tạc lịch sử và dùng tiền đó mua vũ khí bảo vệ Tổ quốc và biển đảo.


Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong

Đó là câu thơ của vua Trần Nhân Tông miêu tả cảnh tượng một cựu chiến binh tóc bạc kể lại chiến công đánh đuổi giặc Mông Cổ dưới niên hiệu Nguyên Phong cho các thanh niên và những người lính trẻ, mà Trần Nhân Tông đã tình cờ thấy được.

Ngày nay, khắp nơi trên đất Việt có những người cựu chiến binh tuổi già sức yếu nhưng vẫn chống gậy tình nguyện đi kể chuyện thời kháng chiến ở các trường học, mà không nhận một chút thù lao nào.

Ngay trong giờ phút này, có những ngôi nhà trên khắp các nẻo đường Việt Nam, trong đó nhiều cựu nữ thanh niên xung phong đang kể lại với con cháu mình chuyện những cô gái mở đường năm xưa.

Họ kể lại như vậy để làm gì? Họ là những người đầu hai thứ tóc, thậm chí có những cụ râu tóc đã bạc phơ. Như vậy, các cụ kể lại không phải là xuất phát từ tinh thần tự tôn dân tộc dỏm đời, không phải từ tinh thần tự hào quá trớn của giới trẻ.

Các cụ nỗ lực như vậy là vì các cụ là những người yêu nước Việt Nam và đã nhìn ra được truyền thống văn hóa giữ nước, chủ đạo dân tộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Và các cụ làm theo, nối tiếp truyền thống đó. Lịch sử chính thống Việt Nam, công tác giáo dục sử học Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn văn hóa và động lực giữ nước này, cũng hoạt động đúng theo hướng đó, theo truyền thống dân tộc ta từ ngàn năm nay.

Việt Nam từ thuở các vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang, oanh liệt trong sự nghiệp dựng nước - giữ nước. Các trang sử đó vừa anh hùng, vừa thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt.

Người Việt Nam hiểu điều đó, và bởi thế không khi nào dân tộc ta muốn chiến tranh. Từ thực tế đó mà ngàn năm nay dân tộc Việt càng trân quý hòa bình hơn cả các dân tộc khác. Dân ta không muốn và không cần làm anh hùng, chỉ muốn yên thân, yên ổn làm ăn, dựng xây gia đình và đất nước. Nhưng một khi có bọn giặc từ bên ngoài gây ra chiến tranh xâm lược, chúng kéo đến xâm phạm đất đai mồ mả tổ tiên, sơn hà xã tắc của chúng ta, thì "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".

Chúng buộc ta phải cầm gươm, cầm súng làm anh hùng thì chúng ta cũng sẵn sàng làm những anh hùng bất đắc dĩ, để đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn đất nước, giành lại và giữ vững độc lập cho dân tộc. Câu hát "dù rằng đời ta thích hoa hồng, kẻ thù buộc ta ôm cây súng" trong bài hát nổi tiếng Hát mãi khúc quân hành đã đúc kết nguyên lý này.

Sở dĩ không có thằng giặc nào toàn thắng được trước nhân dân Việt Nam là vì quân dân ta đã chiến đấu anh dũng, từ đời này sang đời nọ, từ thế hệ này sang thế hệ kia, thua rồi lại đánh, cho đến khi nào thắng rồi mới thôi, cho đến khi nào đánh đuổi được giặc, giành lại tự chủ rồi mới thôi.

Sở dĩ nhân dân ta nhiều đời nay chiến đấu bất khuất như vậy là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống. Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc truyền thống yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm, ý thức cố kết cộng đồng dân tộc do phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại bang xâm lược, trong đó có cả mưu đồ đồng hóa trong thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc và trăm năm Pháp thuộc.

Trong tiềm thức mỗi người dân Việt đều chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn kết tinh thành ý thức của dân với nước, được thể hiện sinh động trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ của thiết chế gia đình - làng xã - đất nước, thành sắc thái độc đáo, đặc biệt, đặc trưng đặc thù của nền tảng văn hóa Việt Nam.


Trên đường về tiếp quản thủ đô sau đại thắng Điện Biên Phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và dâng hương ở Đền Hùng. Tại đây Bác Hồ đã ngồi kể chuyện về Hùng Vương và căn dặn các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 308: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.





Trái: Bác Hồ thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của dân tộc ta. Phải: Bác đọc tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi" tại chùa Côn Sơn, tỉnh Hải Dương.


Nếu tìm hiểu nghiên cứu kỹ càng chu đáo quá trình đấu tranh vệ quốc lâu dài của dân tộc ta, có thể có đầy đủ cơ sở để đi tới một nhận định có tính khái quát: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam trong chủ nghĩa yêu nước (nói chung) đã được bộc lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ ở lĩnh vực nào khác.

Yêu nước và ý thức đánh giặc mãnh liệt giữ gìn làng nước đã trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam, là đạo lý của dân tộc Việt Nam, một truyền thống sâu bền, cao đẹp, không còn dừng lại ở trình độ một nhận thức, một tình cảm, mà đã nhân rộng, kết hợp, phát triển, thăng hoa, tiến hóa, và hình thành một chủ nghĩa, một lực lượng tinh thần mạnh mẽ, có tác dụng to lớn trong việc động viên, cổ vũ mọi người dân sẵn sàng đứng lên đánh giặc khi có kẻ xâm lược từ ngoài tới trong thời chiến, hay kiên trì đóng góp tinh thần và tài lực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước trong thời bình.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không phải là một khái niệm trừu tượng, mơ hồ, mà là một sản phẩm thực tế của lịch sử Việt Nam, từ nền văn hóa dân tộc Việt Nam, nó bắt nguồn từ những điều kiện, hoàn cảnh, quân sử, chiến sử, chiến công, các anh hùng dân tộc, các văn hóa phong tục tập quán, các tín ngưỡng dân gian cụ thể của Việt Nam.

Yêu nước là một tình cảm và tư tưởng phổ biến mà dân tộc nào cũng có. Nhưng ở mỗi quốc gia, dân tộc thì tư tưởng và tình cảm yêu nước được hình thành và phát triển trong những điều kiện, môi trường văn hóa không giống nhau, thời điểm sớm hay muộn, mức độ đậm hay nhạt đều khác nhau và có những đặc điểm khác nhau. Không phải chủ nghĩa yêu nước của dân tộc nào cũng giống dân tộc nào, không phải ai cũng như ai.

Chính vì vậy cần xác định chủ nghĩa yêu nước mà bài này nói tới là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chứ không phải chủ nghĩa yêu nước chung chung mơ hồ, chủ nghĩa yêu nước Trung Quốc hay chủ nghĩa yêu nước Hoa Kỳ, hay đất nước, dân tộc, nền văn hóa nào khác.

Nước Việt Nam nằm ở một vị trí vô cùng quan trọng trên báo đảo Đông Dương, vào nơi tiếp xúc, ngã tư đường của vùng Đông Nam Á cả về tự nhiên và văn hóa, ở góc cực đông nam của đại lục châu Á, mặt nhìn ra Biển Đông, nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.

Việt Nam được nối liền với lục địa bằng một mạng lưới đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Điều thuận lợi đó cũng tạo thành những hành lang thuận lợi cho việc thực hiện tham vọng xâm lăng của các thế lực từ ngoài đến.

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa, đất đai dễ trồng trọt, phù hợp thuận lợi cho nông nghiệp. Cũng là một vùng đất thống nhất trong đa dạng trên rừng, trên núi, dưới đất, dưới nước đều chứa đựng nhiều tài nguyên phong phú và quý giá. Thời xưa tài nguyên phong phú này đã được ví như "rừng vàng, biển bạc". Nên luôn phải đương đầu với các kẻ thù xâm lược đầy tham vọng từ nước ngoài, đặc biệt là phương Bắc và phương Tây.

Do đó, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng sau khi bắt buộc phải cầm gươm cầm súng đã biết chiến đấu ngoan cường, viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ kháng chiến chống Nguyên Mông đến kháng chiến chống Pháp - Mỹ để cứu nước, giành lại độc lập dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam.

Ôn lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau ghi nhớ các trải nghiệm, học hỏi đúc kết rút kinh nghiệm giữ nước và tri ân sự hy sinh xương máu của cha ông trong sự nghiệp giữ nước, bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Yếu tố nhớ ơn này còn phù hợp với đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây", "cây có cội, nước có nguồn" của ông bà mình.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là gì? Đơn giản, là đạo lý, là nhân sinh quan, là nguyên tắc bất di bất dịch phải được sống trong độc lập tự chủ. Là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà, là "sông núi nước Nam vua Nam ở", "cớ sao chúng mày sang xâm phạm", là Bình Ngô Đại Cáo, là "vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia". Là ý chí sắt son "thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc", "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", "dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập". Là Tuyên ngôn độc lập 1945. Là những cảm tử quân ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc chết chung với chúng. Là "các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam". Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như một niềm tin chung, một "tín ngưỡng" chung của đại khối dân tộc, và ngàn năm nay chủ nghĩa đó không có sức mạnh nào khuất phục được.

Ngày xưa, các thứ vũ khí, bom đạn, vũ khí hóa học hung tàn của các quân đội thiện chiến nhất và vô địch thế giới, với hàng triệu quân, còn không dập tắt nổi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Thì ngày hôm nay, những bài viết ngụy biện trí trá của bọn văn nô bồi bút, nhờ quan hệ, nhờ luồn cúi, nhờ phong bì, hoặc nhờ trả tiền cậy đăng những bài viết tuyên truyền bịp bợm trên các báo điện tử để "dìm hàng" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cũng sẽ thất bại thảm hại, không khác gì lao đầu vào đá, làm trò cười cho thiên hạ.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn bao gồm cả những huyền thoại, cả những huyền thoại đã được lịch sử xác minh, hoặc chưa xác minh, chỉ tồn tại trong các sự tích lịch sử truyền khẩu (truyền miệng) dân gian. Là thần Kim Quy với lẫy nỏ thần. Là mối di hận Cổ Loa với lời dặn hậu thế ngàn năm "giặc đang ngồi sau lưng nhà vua đấy". Là thần Kim Quy trả gươm lại ở hồ Hoàn Kiếm sau khi Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo". Là chuyện Thánh Gióng lớn nhanh như thổi đánh giặc Ân, sau khi thắng giặc thì về trời, nói lên trách nhiệm đánh giặc giữ nước của những người thiếu niên, buộc phải trưởng thành nhanh để thắng nổi giặc. Là huyền thoại Quang Trung lên ngôi và ăn Tết trước khi thần tốc tiến ra Thăng Long đại phá quân Thanh....

Và huyền thoại ngay trong thời hiện đại với "Điện Biên Phủ trên không” giữa thủ đô Hà Nội đánh bại pháo đài bay B-52, biểu tượng sức mạnh không lực Hoa Kỳ. Huyền thoại Trường Sơn và các đường mòn Hồ Chí Minh, huyền thoại về con đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số nhỏ bé và thô sơ đã chở hàng trăm tấn vũ khí từ Bắc vào Nam chi viện cho tiền tuyến. Huyền thoại Hồ Chí Minh, huyền thoại Võ Nguyên Giáp.

Nhà chiến lược quân sự tài ba một thời của Hoa Kỳ, ông McNamara đã phải thú nhận trong hồi ký của mình về các nguyên nhân chính đưa tới thất bại trước Việt Nam, trong đó có nguyên nhân: "Không hiểu văn hóa Việt Nam". Thực chất chính là không hiểu chủ nghĩa yêu nước đặc thù Việt Nam.

Lòng yêu nước, tình cảm yêu nước của con người Việt Nam đã phát triển tầm cao thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, và chủ nghĩa yêu nước VN đã hun đúc và hâm nóng lại tình cảm yêu nước đó, và nhân rộng ra hình thành một sức mạnh dân tộc, sức mạnh chống ngoại xâm kỳ diệu từ đời này sang đời khác, và sức mạnh đó giúp dân tộc Việt Nam thực hiện được chiến tranh nhân dân.

Có thể nói chủ nghĩa yêu nước VN là một sức mạnh vô địch, làm sản sinh ra muôn vạn anh hùng góp phần giữ vững đất nước. Chủ nghĩa đó khiến quân dân ta đánh giặc xuất thần, quên thân, có những sáng tạo, phát kiến bất ngờ, sáng tạo vô tận cách thức đánh giặc và thắng giặc mà không sách nào ghi lại đầy đủ được. Nếu để ý nghe các cựu chiến binh kể chuyện thời đánh Tây, đánh Mỹ thì hầu như cuộc nói chuyện nào người nghe cũng có thể rút ra được gì đó, mà lâu nay dù đọc cả ngàn cuốn sách cũng chưa biết tới.

Mỗi khi đất nước bị giặc ngoài đến xâm lược thì sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam kết lại thành làn sóng có sức nhấn chìm mọi kẻ thù. Trong thời đại Hồ Chí Minh, chủ nghĩa ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, giành lại độc lập cho dân tộc, thống nhất cho đất nước.

Những thế lực thù địch quốc tế đầy tham vọng hiện nay, đặc biệt là các thế lực nước lớn, luôn có những bộ phận diều hâu có dã tâm bành trướng, "dòm ngó" các nước nhỏ chực chờ cơ hội tốt. Một khi chủ nghĩa yêu nước trong dân tộc, xã hội của nước đó bị suy thoái, thất thế, thì đó là lúc họ sẽ ra tay, chèn ép, bắt nạt, hiếp đáp.

Nếu có kẻ "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ" kiểu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Văn Hoan hay nhu nhược hèn nhát như phái chủ hòa (chủ hàng) của nhà Nguyễn, các phần tử hiếu chiến sẽ chớp cơ hội phát động chiến tranh xâm lược. 

Từ bài học xương máu của lịch sử, cho thấy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn cần thiết cho sự tồn vong của nền độc lập dân tộc và sự bình ổn đất nước. Hiện nay tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nơi này, nơi kia còn có chiến tranh, cơn khát dầu mỏ và tài nguyên có vẻ đang trỗi dậy khiến cho chạy đua vũ trang như đang được khởi động.... Tuy nhiên, tư tưởng dùng sức mạnh quân sự để "xâm lược cứng" thôn tính một quốc gia có chủ quyền hay chiếm đất, chiếm tài nguyên bằng sức mạnh quân sự đã quá lỗi thời, nếu còn đọng lại chỉ là số ít những phần tử hủ lậu, hiếu chiến và thiển cận. Mặt khác, biện pháp "xâm lược mềm" lên ngôi: Xâm lăng văn hóa, chính trị, kinh tế, tài chính, tiền tệ, gián điệp, diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ, lợi dụng toàn cầu hóa, và có thể cả vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam kết hợp nhiều đời lại và tiến triển một cách tự nhiên, tiến hóa và thích nghi theo tự nhiên, chứ không do ai tạo ra. Từ những thực tế lịch sử nói trên, nó dần hun đút nên và hình thành một loại tình cảm, niềm tin, tư duy, nhân sinh quan, nhận thức, được các nhà nghiên cứu sử học đúc kết, tổng hợp chung lại và gọi sự đặc trưng đó bằng thuật ngữ "chủ nghĩa yêu nước Việt Nam". Một số nhà nghiên cứu sử học ở hải ngoại thì gọi một văn vẻ hơn là "chủ đạo Việt tộc".

Theo đó, việc giáo dục sử học của Việt Nam phải phản ánh nhu cầu và thực tiễn đó của người Việt Nam, ngàn năm nay đều như vậy. Từ Đại Việt Sử Ký cho đến các sách sử ngày nay đều nhận thức theo góc nhìn đó, theo quan điểm dân tộc đó. Kẻ xâm lược là ác, là sai, quân dân ta chống xâm lược là đúng, là anh hùng. Tóm lại, không thể cào bằng lịch sử, lật ngược hệ giá trị xưa nay của truyền thống văn hóa dân tộc.

1. Cào bằng lịch sử là một trò vô đạo

Cào bằng lịch sử là gì? Hiện tượng này dễ thấy nhất là khi ai đó viết về một cuộc chiến tranh nào đó mà cố tình bỏ qua yếu tố xâm lược do một kẻ cướp từ bên ngoài gây ra và những người kháng chiến sở tại trong một đất nước của họ, do bị xâm lược, nên phải đứng lên chống lại những kẻ cướp từ bên ngoài đó. Đặc biệt bệnh hoạn và vô liêm sỉ hơn khi kẻ đó viết về lịch sử của chính dân tộc mình với phong cách cào bằng đó.

Cuốn "An Nam Chí Lược" của Lê Tắc (đại thần người Hoa gốc Việt, phụng sự dưới trướng nhà Nguyên Mông Cổ), "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng (người Pháp gốc Việt, "chủ tịch" của một tổ chức phản động mạo danh dân chủ trá hình ở Pháp), "Bên Thắng Cuộc" của Huy Đức (cựu nhà báo Việt Nam, người Mỹ gốc Việt, định cư ở Hoa Kỳ) là những phế phẩm như vậy.

Không cần là yêu nước, chỉ cần biết yêu điều thiện, yêu nhân nghĩa, yêu lẽ phải ở đời thì người ta cũng sẽ hiểu vì sao dân tộc Việt Nam cần chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, và biết trân trọng điều đó.

Hoặc ngay cả những kẻ vô cảm, vô tình nhất, tâm hồn hoàn toàn sơ cứng và không rung động nổi trước một câu chuyện lịch sử, trước một bài ca cách mạng, nhưng nếu vẫn còn lương tâm tối thiểu, thì họ sẽ không viết/đăng những bài tuyên truyền chống chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như vậy. Bởi vì đến cả các cụ nông dân còn hiểu tại sao phải cần truyền thống yêu nước Việt Nam, biết rằng đó là một vũ khí cần thiết để giữ nước, thì không có lẽ nào những kẻ "nhân sĩ trí thức" kia lại không hiểu. Chẳng qua là chúng cố tình không muốn hiểu.

Ngoài ra còn có một bọn bầy đàn ăn theo, chủ yếu là bọn kém tư cách, thiếu nhân phẩm. Bọn họ chỉ là thiểu số trong xã hội, nhưng Việt Nam có khoảng 93 triệu công dân và kiều bào hải ngoại, thì thành phần đó dù là thiểu số cũng phải lên đến 3, 4 triệu tên, và chúng bu vào khen ngợi nức nở những bài như thế.

Hiện tượng "bầy đàn" này cũng không có gì đáng ngạc nhiên, đối với đại khối dân tộc thì chúng chỉ là những nhóm thiểu số dị hợm và vô đạo. Xưa nay luôn có những kẻ bệnh hoạn và quái gỡ muốn lội ngược dòng, tỏ ra nổi loạn, thích chơi nổi, khiêu chiến, khiêu khích, thách thức giá trị truyền thống, chính thống.

Họ thích thể hiện bản thân theo lối gây sốc, tỏ ra khác người, khác truyền thống, khác chính thống, khác biệt chỉ để khác biệt, có tâm lý thích chống lại, thích nói ngược chỉ vì cái Tôi của họ chứ không phải vì sự khách quan và hiểu biết, cũng như không có tinh thần xây dựng. Họ muốn "nổi tiếng", muốn nổi bật, khác đời, cố ý đi ngược đời, chứ không phải dựa trên tinh thần tôn trọng phẩm giá dân tộc và lợi ích đất nước.

Họ đặt cái sở thích cá nhân, bản ngã cá nhân ích kỷ lên trên nhu cầu tối cao của dân tộc, công tác tư tưởng để chuẩn bị tinh thần cho con em bảo vệ non nước. Họ đặt nhuận bút và nhu cầu câu view, tiền quảng cáo lên trên những giá trị đó. Vì lợi ích vật chất riêng mà họ không ngần ngại chà đạp dẫm lên giá trị và lợi ích chung. Không coi ra gì, không đếm xỉa gì tới những giá trị dân tộc đã được khẳng định qua năm tháng.

Đó thực chất chính là tội ác về văn hóa, lịch sử, đó là những bồi bút, văn nô tội phạm văn hóa, tuyên truyền nguy hiểm những tư tưởng, ngôn luận, quan điểm phi dân tộc, đòi làm sử một cách phi dân tộc, tức là hoàn toàn gạt bỏ cội nguồn, không có và không tính đến các nhân tố, yếu tố lịch sử dân tộc lâu đời và văn hóa truyền thống VN, không tính đến sự thích nghi và tiến hóa của dân tộc VN ngàn năm qua, trong đó có văn hóa và sử học, nói trắng ra chính là những tư tưởng mất gốc, vong bản, không xem bản thân là người Việt và theo đó không đứng trên lập trường, quan điểm của dân tộc để xét chuyện.

Đặc điểm phi dân tộc thấy rõ nhất ở họ: Họ luôn trích dẫn một số nước khác, nhất là Mỹ - Tây, và đòi bưng về đòi người Việt cũng phải rập khuôn dạy sử giống như các dân tộc đó, trong khi mỗi nền văn hóa, thực tiễn xã hội, nhu cầu của các dân tộc, hệ giá trị của các dân tộc đều khác.

Ngàn năm nay dân tộc Việt Nam lấy vấn đề đánh giặc giữ nước chống ngoại xâm làm trọng, ai có công đánh giặc giữ nước thì được coi là anh hùng dân tộc và được dân lập đền thờ, là tấm gương sáng ngàn năm, ai theo giặc thì bị coi là bán nước, phản quốc, Việt gian, chó săn, nói như sử thần Ngô Sĩ Liên là bọn chúng "không bằng trâu chó". Trong khi một số dân tộc khác do không có những trải nghiệm lịch sử như dân tộc VN, nên hệ giá trị của họ khác, họ không lấy vấn đề trên làm trọng. Mỗi quốc gia dân tộc, mỗi nền văn hóa, văn hiến đều khác nhau. Không thể ném chung vào một rọ.

Trong đầu óc thiển cận và u tối của họ chỉ tồn tại một cái gọi là "lịch sử" chung chung, trong khi cần ý thức rõ ở đây là chúng ta đang nói đến sử Việt Nam, chứ không phải lịch sử chung chung. Người Việt Nam dạy sử Việt Nam chứ không dạy sử Mỹ, sử Pháp.

Tại nhiều gia đình Việt Nam ngày nay, nhất là ở miền quê vẫn còn nhiều giá trị truyền thống, thì ông bà ba má anh chị kể lại cho con cháu và em mình nghe các câu chuyện lịch sử Việt Nam, kể chuyện Lý Thường Kiệt chống Tống, bài thơ Nam Quốc Sơn Hà, Trần Hưng Đạo đánh Mông Cổ, Quang Trung phá nhanh giặc Thanh, Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh Pháp đuổi Mỹ, chứ họ không kể chuyện Joan of Arc, King Arthur, Robin Hood, Tần Thủy Hoàng, Khang Hy.

Nói chung, xuất phát từ não trạng, tâm lý, tinh thần, tư tưởng nô lệ thuộc địa còn rơi rớt lại sau gần trăm năm Pháp thuộc, có một số kẻ do ảnh hưởng từ di truyền, gia đình, sự dạy dỗ độc hại của bố mẹ, đã quen thói vô thức nhìn nhận, tiếp cận lịch sử VN và những chuyện của VN mà không coi bản thân họ là người VN, họ tự "phi Việt hóa" bản thân, tự làm mất gốc chính họ, biến thành những kẻ vong bản ngay trên chính quê hương nhà, một cách vô điều kiện và vô ý thức.

Những nạn nhân của dư chấn thực dân, những kẻ mà gia đình họ có "truyền thống" nhiều lần theo giặc phản quốc, những con bệnh nói trên thường xuyên chê bai, chửi bới, hô hào đòi tầm thường hóa lịch sử những chuyện xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam do người Việt Nam ghi lại!, do ngu dốt, do não trạng nô lệ và tư tưởng thuộc địa, hoặc do muốn chạy tội làm Việt gian bán nước.

Những kẻ này đòi phải nhìn nhận, phán xét lịch sử Việt Nam từ quan điểm, góc nhìn của các chính phủ ngoại bang, thậm chí là những cựu thù, những hung thủ xâm lược Việt Nam trước đây không lâu. Họ kêu gào phải "nhìn bản thân, nhìn mọi việc từ con mắt của kẻ khác". Đây không phải là khách quan hay lý tính gì cả mà là có triệu chứng tâm thần.

Khách quan và lý tính thì phải trước hết nhìn bản thân và mọi việc từ con mắt của chính mình, sau đó mới tham khảo các lập luận, lý lẽ, ý kiến khác xem có gì mới mẻ và đúng đắn, hợp tình hợp lý, và thích hợp, phù hợp để hoàn thiện, bổ sung, phát triển gì đó hay không. Chứ làm sao ai có thể nhìn bản thân và mọi việc từ con mắt của kẻ khác, trừ những bệnh nhân tâm thần.

Bản thân họ cũng làm không được nhưng vẫn hô hào, chứng tỏ một là họ mắc chứng hoang tưởng, hai là họ cố ý hô hào theo đơn đặt hàng của thế lực nào đó. Và thế lực đó không đi cùng với lợi ích chung của đại khối dân tộc Việt Nam. Và xuất phát từ nguồn gốc, nền tảng chung: Tư duy nô lệ thuộc địa, giống như một bản năng tự nhiên của bầy chó săn vẫy đuôi mừng chủ Tây.

Các bạn muốn cạnh tranh chính trị thì trước hết hãy có một hình ảnh "con người" cái đã, cần có một nhân cách, nhân phẩm của con người cái đã. Chứ còn bây giờ sự cực đoan, vong bản, mất gốc, hèn hạ đang bao trùm mọi cửa ngõ "tâm hồn" và tư tưởng của các bạn, thì các bạn không đủ tư cách bàn về chính trị nước nhà.

Lịch sử Việt Nam bao gồm từng chuỗi sự kiện gắn kết và dài bất tận từ chiến công thắng Tần, Hán, Tống, Nguyên, Minh đến Pháp, Mỹ, Khmer Đỏ, bành trướng Bắc Kinh. Từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Rạch Gầm, Đống Đa đến Điện Biên, Đại thắng mùa xuân. Từ phòng tuyến Như Nguyệt, lũy Thầy, Yên Thế, Ba Đình đến đất thép Củ Chi, Tam giác sắt. Từ Xuân Kỷ Dậu đến Tết Mậu Thân. Từ Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Ngô Quyền đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đến Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp. Từ Thăng Long đến Hà Nội. Từ thời Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh.

Trong tương lai, các thế hệ mai sau sẽ tiếp tục vận dụng lịch sử, áp dụng sử học để bảo vệ đất nước. Và các thế kỷ sau, những con cháu đời sau, những hậu duệ của thế hệ hôm nay vẫn sẽ sử dụng nó để tiếp bước cha ông đánh giặc. Cố gắng giữ cho quê hương đất nước và dân tộc được độc lập, trường tồn.

Hành động gây nhiễu loạn lịch sử, thậm chí lật ngược hệ giá trị dân tộc và lịch sử chống ngoại xâm đánh giặc giữ nước của dân tộc là một hành động phản quốc, phản dân tộc. Các bạn có thể chửi Nhà nước Việt Nam bất cứ cái gì khác, nhưng nếu các bạn làm những hành động mà giáo sư Nguyễn Lân Dũng gọi là "đốt đền thờ" như vậy thì đó chính là những hành động vong bản, mất gốc.

2. Làm sao chống tệ nạn xuyên tạc cào bằng lịch sử?

Tôi có những đề nghị này:

- Trước hiện thực các thế lực phản động, thù địch đang dùng mọi thủ đoạn và hình thức tấn công vào lịch sử nước ta, thì công tác giáo dục sử học theo hướng truyền thống, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nói chung là truyền thống cha ông và thuần phong mỹ tục Việt Nam càng phải được thúc đẩy, đôn đốc và kiểm soát, phát triển, càng ra sức giáo dục và quảng bá các giá trị thiêng liêng này, không để kẻ thù đánh phá, đồng thời tiến hành điều tra, trừng trị nghiêm minh và thích đáng các sai phạm.

- Cử chuyên gia, nhất là về ngành luật và ngành sử học, sang Nga để xem xét, tham khảo luật bảo vệ lịch sử, chống xuyên tạc lịch sử của nước bạn, và các cách làm, cách giải quyết, cách đưa luật này vào cuộc sống xã hội của họ nói chung. Hình phạt là gì, mức phạt ra sao. Đồng thời gắn kết, liên kết vấn đề này với vấn đề Diễn biến hòa bình như bên Nga, Putin cũng đã lên án và đang chống DBHB như chúng ta.

Nếu chỉ phạt tiền, thì số tiền tịch thu từ những kẻ xuyên tạc lịch sử và gây nhiễu loạn sử học VN sẽ được dùng như thế nào? Đề nghị: Dùng cho những việc nhân đạo, từ thiện, góp vào các quỹ khuyến học, học bổng, các quỹ của những câu lạc bộ yêu lịch sử, quỹ "cơm có thịt" hoặc xây/sửa cầu cho đồng bào dân tộc thiểu số, giúp thêm cho các nạn nhân chất độc da cam, các bệnh nhân/bệnh nhi nghèo, các thương binh, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, cựu chiến binh nghèo, góp vào quỹ giúp đỡ bệnh viện miễn phí ở Đà Nẵng, mua nhu yếu phẩm, thực phẩm, áo ấm gởi ra Trường Sa và các nhà giàn trên Biển Đông....

Nên kỷ luật, xử phạt nghiêm khắc, nghiêm minh đối với những kẻ này. Tức là đến thời điểm này thì bọn họ đã dám đụng chạm đến cả vấn đề độc lập dân tộc, một vấn đề mà với truyền thống dân tộc ngàn năm nay là bất khả xâm phạm. Như vậy, trong những lúc này thì họ không những chỉ chống chế độ chính trị, chống cộng sản, chống cách mạng, không chỉ đi ngược lại lợi ích nhà nước, chính phủ, mà họ còn mở rộng lây lan sang sự chống phá, đi ngược các giá trị và lợi ích chung, lớn nhất, cao cả nhất của đất nước, giống nòi. Bọn họ đã tự biến thành những kẻ không đáng được tôn trọng, thậm chí là đáng ghê sợ và đáng khinh bỉ.

Hành động bán rẻ lợi ích tối thượng của đất nước xưa nay bị dân ta gọi nôm na là: Bán nước. Hiến Pháp sửa đổi mới của Việt Nam mới vừa được Quốc Hội thông qua với số phiếu gần tuyệt đối cũng ghi rõ: Tội phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Những kẻ muốn xóa nhòa chiến công, cào bằng lịch sử cha ông

Bút hiệu lạ "Nghiêm Hoa" thì phán "Truyền đạt vẻ đẹp của sự hy sinh, lòng trung thành,tình yêu nước hay ghi tạc bản sắc dân tộc là thông điệp của thi ca và nghệ thuật.", còn sử học thì không được làm như thế, đòi xóa bỏ bản sắc văn hóa dân tộc trong giáo dục lịch sử, cào bằng cả thế giới xem ai cũng như ai, cào bằng những người bị xâm lược và phải chống xâm lược với bọn giặc xâm lược và những thế lực theo giặc, cào bằng và kéo lùi giá trị dân tộc, "huề vốn" hết, "huề cả làng" hết. Coi cuộc chiến tranh xâm lược và cuộc kháng chiến chống xâm lược giống như một cuộc chiến của hai nhóm băng đảng nào đó.

Và sau khi bài viết của "Nghiêm Hoa" và quan điểm đó bị nhiều người vạch trần, lên án, phỉ nhổ, thì Nguyên Ngọc - không biết có liên quan gì đến bút hiệu "Nghiêm Hoa" hay không - lại ngụy biện lấp liếm nói tránh đi rằng ông ta "chỉ chống chủ nghĩa yêu nước thôi chứ không chống lòng yêu nước" để chạy tội tuyên truyền tư tưởng phản động, phản quốc.

Thực chất bọn họ đích thị là chống lại truyền thống yêu nước, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước, lý tưởng yêu nước, chống vấn đề yêu nước, yếu tố yêu nước trong lịch sử và trong sử học nói chung, trong đó có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chứ họ không đặt trọng tâm vào việc chống "chủ nghĩa yêu nước" chung chung.

Họ lập lờ chơi trò chơi "chữ nghĩa" để chạy tội truyền bá các tư tưởng lệch lạc, chống lại các đức tính yêu nước, lòng trung thành với Tổ quốc, đức hy sinh cao cả vì đất nước và nhân dân, nhưng họ lại ngụy biện dối trá chối tội rằng "tôi chỉ có chống chủ nghĩa yêu nước thôi mà". Trong khi đức tính yêu nước, tư tưởng yêu nước hay chủ nghĩa yêu nước gì thì cũng là liên quan chặt chẽ với nhau, không đối lập với nhau, đều cùng là yêu nước.

Cho nên, cái trò ngụy biện cố gắng tách rời chủ nghĩa yêu nước ra một cách khiên cưỡng, rồi viết bài tuyên truyền như nó là cái gì đó "đối lập", "đối nghịch", thậm chí "mâu thuẫn", "xung đột" với lòng yêu nước nói chung, là một trò ngụy biện khôi hài, rẻ tiền và có tính chất tâm thần, đầu óc không bình thường.

Luận điệu "tôi chỉ chống chủ nghĩa yêu nước chứ không chống lòng yêu nước" khác gì ai đó bảo rằng "tôi chỉ chửi cha mắng mẹ Nguyên Ngọc thôi chứ tôi không chống Nguyên Ngọc, không chống ông bà của cậu đâu nhá".

1. Sự hồ đồ của ông Nguyên Ngọc

1.1. "Quáng gà" về khái niệm lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước

Nhà văn Nguyên Ngọc nói quanh co về lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước là rất hồ đồ, thậm chí điên rồ, khi ông ta đem khái niệm lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước tách biệt, cô lập với nhau, trong khi chủ nghĩa yêu nước chỉ là nhiều lòng yêu nước tương đồng hợp lại, là biểu hiện quan điểm tích cực về đất nước. Nó gồm những quan điểm như: Tự hào về thành tựu hay văn hóa của đất nước, mong muốn bảo vệ những đặc điểm, giá trị, bản sắc đó, và cao nhất, quan trọng nhất là gìn giữ đất nước.

Nếu ông không có tâm thức bảo vệ Tổ quốc, ông bàn chuyện lịch sử, chuyện dạy sử, chuyện chủ nghĩa yêu nước, mà ông hoàn toàn lờ đi không dám đề cập gì tới vấn đề bảo vệ đất nước, vấn đề chống xâm lược, thì có nghĩa là ông đã rất hèn, và lời nói của ông, bài viết của ông cũng không còn bao nhiêu giá trị tham khảo, và nó chẳng có gì là khách quan hay lý trí, khi ông đã cố tình "quên" đi yếu tố quan trọng nhất này.

Không ai có thể nói rằng họ yêu gia đình của họ nhưng họ lại không có ý thức bảo vệ gia đình họ, giữ cho gia đình họ được an toàn. Không ai có thể nói rằng họ yêu nước của họ nhưng họ không có ý thức bảo vệ nước nhà, giữ cho đất nước họ được độc lập, chống lại quân đội bên ngoài tới xâm lược, và lờ đi các yếu tố đó trong mọi cuộc nói chuyện và bài viết. Như vậy những kẻ đó vốn dĩ không hề yêu nước, việc họ vỗ ngực tự nhận họ là "yêu nước" thì đó có thể là một sự ngộ nhận, hoang tưởng, hoặc đơn giản là một sự nói láo, đạo đức giả, ngụy quân tử, ngụy ái quốc, yêu nước giả tạo, yêu nước bằng mồm.

Chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, nhưng đó vẫn là hai khái niệm khác nhau. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn. Có lẽ ông Nguyên Ngọc đã nhầm lẫn nghiêm trọng giữa hai khái niệm này. Ngoài ra, ông Nguyên Ngọc cho rằng "chủ nghĩa yêu nước là cực đoan" thì cho thấy ông đã lẩm cẩm, lú lẩn rất nghiêm trọng. Tại Mỹ mà những người lú lẩn như ông có lẽ đã bị đưa vào viện dưỡng lão từ lâu rồi.

Giới triết học và khoa học xã hội quốc tế từ lâu đã phân loại ra một số khái niệm chính liên quan về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa sô-vanh (chauvinism, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi), và chủ nghĩa phát xít. Chỉ có chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa sô-vanh và các chủ nghĩa khác liên quan đến 2 chủ nghĩa này mới được coi là cực đoan. Chủ nghĩa dân tộc không được coi là cực đoan, chủ nghĩa yêu nước lại càng không.

Ông ta phán về lòng yêu nước, lý tưởng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước trong khi lại mơ hồ về các khái niệm này. Vẫn là "văn hóa" lâu nay của một số người có tư tưởng lội ngược dòng: Hay ăn nói bừa bãi về những chuyện mà bản thân không hiểu biết.

1.2. Không phân biệt nổi chủ nghĩa yêu nước chung chung và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Đó là chủ nghĩa yêu nước chung chung, còn chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như đã phân tích ở phần trên, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử VN và giúp cho dân tộc ta có một "kháng sinh", một sức đề kháng mạnh mẽ đối với giặc xâm lược, đôi khi chủ nghĩa yêu nước VN đã trở thành một sức mạnh vô biên mỗi khi có giặc. Chủ nghĩa yêu nước VN đã giúp dân ta đánh giặc hiệu quả, và đã đánh bại những loại giặc nguy hiểm và hùng mạnh bậc nhất thế giới, giữ cho quốc gia dân tộc được độc lập, giữ cho Việt Nam vẫn là Việt Nam. Như vậy, chủ nghĩa yêu nước VN là cần thiết và không hề cực đoan. Nó là một hệ quả, hiệu quả, kết quả tự nhiên sau ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Chủ nghĩa yêu nước là một trong những đặc điểm văn hóa của các dân tộc trong một nước, nó không phải là một sản phẩm của một chế độ chính trị cầm quyền. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cũng vậy, đó là một phần bản sắc văn hóa ngàn xưa truyền lại, từ truyền thống dựng nước - giữ nước và chống ngoại xâm mà kết tụ, kết tinh thành, chứ nó không phải là một sản phẩm tự sáng chế của chế độ đương quyền, như một số kẻ đầu bò đã hoang tưởng.

1.3. Nhận thức lú lẩn, mất trí, lẫn lộn giữa người cứu nước chống xâm lược và kẻ bán nước theo giặc xâm lược, phủi bỏ công lao của quân dân miền Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trong cuộc phỏng vấn đăng trên Vietnamnet, ông phán rằng "vinh danh bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng tốt thôi nhưng đừng làm quá, làm quá thì.... các bà mẹ miền Nam sẽ buồn."

Tại sao các bà mẹ miền Nam lại buồn khi họ được vinh danh vậy hả ông Nguyên Ngọc? Thống kê của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã cho thấy số bà mẹ Việt Nam anh hùng(những phụ nữ có ít nhất 3 liệt sĩ là bản thân, chồng, hoặc con trai trong gia đình) củamiền Nam nhiều gần gấp đôi miền Bắc. Miền Nam có 29.220 bà mẹ Việt Nam anh hùng, miền Bắc có 15.033 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thông tin này đã cho thấy một thực tế là miền Nam đã hy sinh nhiều hơn miền Bắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ.


Bắc Nam sum vầy. Bà mẹ miền Bắc (trái) và bà má miền Nam (phải) ôm nhau trong ngày toàn thắng.

Hay ý ông là các bà mẹ của lính ngụy là "miền Nam"? Ông đến những vùng giàu truyền thống cách mạng như Mỏ Cày, Bến Tre (quê tôi) hay Điện Bàn, Quảng Nam mà tính ăn nói khùng điên ba trợn như vậy thì nên đi mua bảo hiểm sức khỏe trước, vì chắc chắn ông sẽ bị các bà má miền Nam tát gãy răng. Còn những thanh niên trai làng con cháu của những bà má miền Nam đó, nếu ông trẻ lại vài tuổi, có khi họ không kiềm chế được và đập ông một trận nên thân, dạy ông một bài học nhớ đời: Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.

Đừng bao giờ phát ngôn ngu dốt vạ miệng như vậy nữa. Lời nói như những mũi tên, khi các ông xuyên tạc cào bằng lịch sử chính là ông đã bắn tỉa vô số tên độc vào dân tộc này, vào các giá trị, đạo lý và lợi ích dân tộc, cũng như mục tiêu độc lập dân tộc.

Mà ngay cả các bà mẹ lính ngụy đi nữa, những phụ nữ mà tôi và gia đình cũng quen thân không ít, và tôi cũng tôn trọng họ như những người trưởng bối, bởi vì họ tuy là mẹ của lính ngụy nhưng không hề phát ngôn hồ đồ, bừa bãi như ông đâu ông Nguyên Ngọc à.

Tại sao bà mẹ của lính ngụy lại "buồn" khi những bà mẹ Việt Nam anh hùng được vinh danh? Những bà mẹ Việt Nam anh hùng đã góp phần kết thúc chiến tranh, đem lại hòa bình, không còn tiếng súng, bom rơi đạn nổ, vậy thì sao lại buồn, ai buồn, hay chính đầu óc tối tăm của ông tưởng tượng ra?

Tôi lớn lên ở Sài Gòn trong một khu vực chung quanh toàn gia đình ngụy và tôi chưa bao giờ thấy một bà mẹ của lính ngụy nào mà ba trợn đến mức đi "buồn" vì những bà mẹ Việt Nam anh hùng được vinh danh. Ông khùng vừa phải thôi.

Và trong thực tế chiến tranh, có rất nhiều bà mẹ lính ngụy, dù con bị bắt lính, nhưng vẫn góp phần giúp đỡ, tiếp tế, thậm chí nuôi giấu cả lính Giải phóng trong nhà. Đa số lính ngụy là bị bắt lính, và trong đó có rất nhiều nhà, anh/em bị bắt lính và người anh/em kia lại trốn ra bưng biền đánh giặc, và những bà mẹ lính ngụy thường là thương người con ra bưng biền, ra chiến khu chịu khổ, vì đó là lý tưởng và lòng yêu nước của họ, hơn là đứa con kia bị bắt lính và vì kế sinh nhai, hoặc không đủ gan, không đủ nghị lực, không đủ sức chịu đựng để ra bưng biền chịu cực khổ.

Như vậy, ý kiến cho rằng "bà mẹ miền Nam sẽ buồn nếu bà mẹ Việt Nam anh hùng được tuyên dương nhiều quá" là một ý kiến quái gỡ và ngu xuẩn ở cả hai vế: 1. Lẫn lộn, đánh đồng bà mẹ lính ngụy với bà mẹ miền Nam, trong khi đa số bà mẹ miền Nam là những bà mẹ giải phóng. 2. Vu khống, chụp mũ những bà mẹ lính ngụy hiền lành, hiểu biết lẽ phải. Suy bụng ta ra bụng người. Nhét chữ vào miệng người khác. Phán và suy diễn bậy bạ mặc dù không chỉ ra được bà mẹ lính ngụy nào mà lại có thể "buồn" khi bà mẹ Việt Nam anh hùng được tôn vinh.

Tóm lại những luận điệu đó của các ông là những luận điệu quái đản và bệnh hoạn. Các ông cũng đừng nghĩ rằng có thể đem "tuổi cao niên" ra để tránh thoát bùa rìu dư luận mỗi khi nói càn, xúc phạm hàng triệu anh hùng liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, giá trị và phẩm giá Việt Nam. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Thân, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu "già" hơn các ông đến hàng trăm tuổi nhưng đời đời bị nhân gian lên án.

Những lời lẽ, luận điệu lập lờ cào bằng lẫn lộn trắng - đen, thiện - ác, chính nghĩa - phi nghĩa, vệ quốc - xâm lược của các ông chính là những luận điệu của Diễn biến hòa bình mà CTN Trương Tấn Sang đã bóc trần ra trong bài chính luận dài "Nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống Diễn biến hòa bình" trên Tạp chí Cộng Sản: "Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng nhằm đổi trắng thay đen, lẫn lộn giữa công và tội, giữa người cách mạng và kẻ phản dân, hạ bệ thần tượng và các nhân vật lịch sử."

1.4. Tóm lại, "tim đen" của các ông là gì?

Nếu là đáng mặt đàn ông, nếu là người quân tử, thì có gì cứ nói thẳng cụ thể ra đi. Cụ thể là các ông không hài lòng vấn đề gì trong công tác giáo dục lịch sử Việt Nam? Các ông đang đang ấm ức, hậm hực, hằn học, tức tối, vùng vằng không bằng lòng cụ thể chuyện gì?

Để tôi nói thẳng huỵch toẹt ra dùm "tim đen" của các ông nha! Có phải các ông nói quanh co vòng vo Tam Quốc để ám chỉ tới công tác giáo lịch sử cách mạng Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh, nhất là thời kỳ từ Cách Mạng Tháng Tám, giành độc lập cho đến 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ hay không? Tức là các ông đang nhắm đến thời kỳ lịch sử trực tiếp do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và đưa đến sự cầm quyền của chế độ ngày nay, có phải đúng vậy hay không? Tôi đã nói trúng "tim đen" của các ông rồi, đúng không?

Các ông dựa vào đâu mà đòi tách rời yếu tố yêu nước ra khỏi lịch sử hiện đại Việt Nam? Chẳng lẽ những thực tế lịch sử và kết quả giành được độc lập, chống hai thế lực ngoại xâm khổng lồ, giành lại được hoàn toàn độc lập dân tộc và một lãnh thổ toàn vẹn thống nhất không liên quan gì đến truyền thống yêu nước, yêu dân tộc của người Việt ngàn năm nay? Không có truyền thống yêu nước đó, không có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ngàn năm đó thì làm sao người ta nuôi giấu bộ đội, du kích, làm sao dân tộc ta thắng nổi cường địch?

Còn nếu các ông bảo rằng các sách giáo dục của Việt Nam đã "dạy sai" nội dung, thì xin hỏi cụ thể là sai nội dung gì? Chẳng lẽ không phải Việt Nam giành lại được độc lập, chẳng lẽ Pháp - Mỹ không đem hàng triệu quân vào tấn công đất đai và đánh giết thảm sát người VN, gây hàng ngàn tội ác chiến tranh trên đất Việt? Chẳng lẽ các ngụy quyền hữu danh vô thực trong vùng tạm chiếm không phải là do Pháp - Mỹ bỏ tiền xây dựng lên? Chẳng lẽ không phải VN đã giành lại được hoàn toàn độc lập và thống nhất? Chẳng lẽ không phải Khmer Đỏ là bọn diệt chủng tàn ác đã đem quân xâm lược biên giới VN và đòi "chủ quyền" ở Sài Gòn và đảo Phú Quốc hay bất kỳ mảnh đất nào mà có cây thốt nốt? Chẳng lẽ bọn bành trướng Bắc Kinh không đem quân xâm lược miền Bắc VN? Chẳng lẽ Mỹ chưa từng cấm vận VN?

Các ông có thể cho biết các thầy cô VN đã dạy sai nội dung lịch sử nào được không? Hay các ông chỉ biết nói quanh co vòng vo Tam Quốc lung tung chung chung, gọi nôm na là.... chửi đổng?

Từ ngày qua Mỹ tôi lục tung các thư viện, từ thư viện trung học cho đến thư viện đại học tư nhân đến thư viện đại học công lập, đến thư viện công cộng và các nhà sách. Tôi đang có 4 cái thẻ thư viện để mượn sách ở 4 thư viện thành phố khác nhau, đọc rất nhiều sách của người Mỹ nói về lịch sử hiện đại VN, nhất là thời kỳ chiến tranh 10.000 ngày chống Pháp và Mỹ, đặc biệt là về danh nhân Hồ Chí Minh và danh tướng Võ Nguyên Giáp, các học giả trí thức Mỹ cũng không thể phủ nhận tài năng to lớn của hai anh hùng này, và công lao quyết định của họ đối với nền độc lập của Việt Nam. Và tôi không thấy sách giáo khoa Việt Nam, hay những gì tôi được dạy ở VN có khác biệt lớn so với những sách báo nước ngoài này.

Tóm lại, các ông phán rằng "không được tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước", vậy thì chúng tôi với tư cách là những người dân Việt thật sự coi mình là người Việt, kế thừa chủ đạo dân tộc Việt Nam (ngày nay được gọi bằng thuật ngữ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam) từ ngàn đời nay, từ những chiến chống hiển hách chống ngoại xâm từ chống Tần đến chống Mỹ và đến nay, người dân chúng tôi hỏi các ông: Không tuyên truyền "chủ nghĩa yêu nước" là không tuyên truyền cái gì? Cụ thể là gì? Bài học gì, giáo trình gì, bài báo nào, quan điểm nào, ý kiến nào, về giai đoạn lịch sử nào, vấn đề nào trong lịch sử? Cái gọi là "chủ nghĩa yêu nước" trong đầu các ông là gì? Các ông thật ra có hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu tường tận về khái niệm này hay chưa? Hay không biết rõ mà đã vội khoe ra cái ngu dốt, thiển cận của các ông?

Các ông hô hào "không được giáo dục, dạy chủ nghĩa yêu nước", vậy thì không giáo dục "chủ nghĩa yêu nước" cụ thể là không giáo dục cái gì? Không dạy "chủ nghĩa yêu nước" là không dạy cái gì? Hay tôi đã nói quá trúng "tim đen" của các ông ở trên?

1.5. Cố tình ly gián chính trị với lịch sử

Thêm nữa, các ông nhai đi nhai lại cái mà các ông gọi là "chính trị hóa" lịch sử. Cái gì trong xã hội các ông cũng hô hào đòi hỏi "phi chính trị hóa", trong khi không nêu ra được cụ thể rõ ràng cái nào cần hạn chế, cái nào cần mở ra, cái nào cần chính trị hóa, cái nào cần phi chính trị hóa. 

Chứ chẳng lẽ tự do xả láng muốn viết gì thì viết? Chưa có nước nào trên thế giới đạt đến mức ai muốn viết gì thì viết, kể cả các nước đã phát triển trước ta vài trăm năm, trong đó có nước Mỹ, là quốc gia mà các ông coi là hình mẫu chuẩn mực của tự do dân chủ. Chứ đừng nói là ở một nơi đang có những thực tiễn như xã hội Việt Nam.

Trước đây các ông hô hào đòi phải "phi chính trị hóa quân đội" là đã chập cheng lắm rồi, bây giờ đòi cả "phi chính trị hóa" lịch sử và sử học nữa thì thật là một trò cười kinh điển. Cho thấy các ông có lẽ đã hết xài và đến hồi mạt vận. Bởi các ông không còn đủ độ tỉnh táo bình thường như những người chung quanh khác được nữa. Lịch sử là nói về quốc gia, về trị nước, bang giao, chiến tranh.... mà mở miệng đòi "phi chính trị hóa", kêu gào "không được chính trị hóa" là thế nào? Chính trị và lịch sử hai đề tài quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, và không thể thiếu nhau. Trong lịch sử luôn có chính trị, lịch sử là nói về chính trị quá khứ, còn chính trị hiện tại và tương lai là từ chính trị quá khứ (lịch sử) mà có.

Làm sao người ta có thể chính trị hóa lịch sử trong khi bản thân lịch sử đã đầy yếu tố chính trị, đầy nội dung chính trị trong đó ngay từ đầu rồi? Chẳng khác nào các ông đòi đừng Việt hóa người Việt, Hán hóa người Hán, Mỹ hóa người Mỹ, Tây hóa bọn Tây. Các ông có bị khùng không vậy? Sự khùng điên ba trợn nào cũng phải có giới hạn.

Gần đây các ông có bao giờ đi khám thử bác sĩ tâm lý chưa vậy? Nếu chưa thì nên đi khám cho chắc ăn. Tôi nghĩ tâm lý các ông có gì đó bất ổn nên các ông mới có thể nghĩ ra được những khái niệm kỳ quái và không có một chút logic nào như vậy. Những khái niệm mà người ta chỉ thấy ở trong đầu óc của bọn tội phạm biến thái, không phải từ những người lành mạnh bình thường.

Các ông càng nói nhiều, càng viết nhiều thì càng bộc lộ ra cho mọi người thấy hết trình độ thật sự của các ông, nhiều lúc không hề tương xứng với bằng cấp, học vị, hay ít nhất là "trình độ" đáng kinh ngạc của các ông về những đề tài mà các ông hay nói leo vào, và những đề tài đó cũng không ăn nhập gì đến chuyên môn ngành học của các ông.

Tôi hỏi lại các ông: Tóm lại cụ thể là các thầy cô, giáo viên Việt Nam đã dạy sai cái gì, đã giảng "chính trị" sai cái gì, hay chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã sai cái gì? Tóm lại là mấy ông bà đó đã giáo dục sai chỗ nào, sai thế nào, sai cái gì, sai ra làm sao? Cái gì, chỗ nào, vấn đề gì, điều gì không tốt cho nước cho dân? Cái gì trong đó mà không tốt cho mục tiêu độc lập dân tộc? Hay các ông bảo rằng mục tiêu độc lập dân tộc là không quan trọng nhất và không cần đặt lên hàng đầu?

Lâu nay các chuyên gia và bậc phụ huynh than phiền, phàn nàn về giáo dục Việt Nam đều là ở các đề tài: Quản lý học sinh kém, hình thức giảng dạy, cách dạy lạc hậu, giáo điều, áp đặt, chất lượng nhân sự (hiệu trưởng, giáo viên). Không thấy ai chỉ ra được nhà trường VN dạy sai cái gì lớn, kể cả chính các ông cũng không chỉ ra được, nên chỉ biết nói chung chung, mơ hồ.

Nếu các ông không chỉ ra được chi tiết cụ thể, không nói vào cụ thể mà toàn là chửi đổng bâng quơ chung chung bằng những chụp mũ, vu khống sáo rỗng đạo đức giả của những kẻ ngụy quân tử, nghe không thấy một chút hợp tình hợp lý nào, thì đó chỉ là, xin lỗi, như người ta hay gọi là "chó sủa trăng".

1.6. Văn học nghệ thuật "ngóc đầu dậy"?

Theo tôi được biết qua nhiều người kể lại, thì ông Nguyên Ngọc hay có cái thói quen là mỗi khi bị ai phản đối thì ông có mỗi một câu lặp đi lặp lại, lặp tới lặp lui đại ý là nếu không nghe theo lời ông thì "văn học nghệ thuật cái xứ này còn lâu mới ngóc đầu dậy nổi". Thực tế có phải vậy không?

Nền văn học nghệ thuật có cho ra được một tác phẩm nào xuất sắc hay không là nằm ở con người, công tác nhân sự. Công tác nhân sự mà đưa những người có tư tưởng như Nguyên Ngọc lên chức cao ở Hội Nhà Văn và một tờ báo khá lớn như báo Văn Nghệ thì làm sao ngóc đầu lên được?

Việc ông Nguyên Ngọc một thời đã từng lên cao (sau đó là té nặng, té đau, nảy sinh tâm lý bất phục, chán ghét), được trọng dụng cao như vậy ở Hội Nhà Văn và báo Văn Nghệ là một sai lầm to lớn của Đảng. Dù rằng Đảng không phải là người trực tiếp bổ nhiệm ông ta, nhưng Đảng lãnh đạo thì nên có trách nhiệm trong những việc như thế.

Sau đó đưa ông ta ra khỏi những chức vụ này lại là những quyết định sáng suốt. May mà kịp thời sửa sai, nếu không, những nhân vật như thế này chui sâu trèo cao lên nữa thì đổ nợ, nguy hiểm cho sự ổn định chính trị xã hội của nước nhà.

Trở lại vấn đề văn học, nghệ thuật: Văn học nghệ thuật có "ngóc đầu" hay không là phụ thuộc vào yếu tố con người và nhiều yếu tố khác, trong đó có cả yếu tố văn hóa, lịch sử. Văn học nghệ thuật VN còn kém một phần lớn là vì lịch sử VN chiến tranh liên miên, phải đánh giặc thường xuyên, không có thời gian hòa bình lâu dài, không có thời gian rảnh để thả hồn mơ mộng bay bổng, để mà nghĩ đến văn học, nghệ thuật, kinh tế, hay bất cứ cái gì khác.

Văn học nghệ thuật VN còn kém còn phần lớn do từ xưa văn hóa VN không phải là một nền văn minh lớn, từ xưa kinh tế VN không phải là một nền kinh tế lớn như nền văn hóa, kinh tế của Tây, Tàu, Nga, Mỹ, Ấn.

Vấn đề này rất ít liên quan đến mức độ tự do sáng tác. Ví dụ: Trung Quốc, Liên Xô (và Nga ngày nay) có cùng quan điểm giống như Việt Nam về công tác văn học nghệ thuật, nhưng họ vẫn cho ra nhiều tác phẩm chất lượng cao, về văn học tiểu thuyết cũng như kịch bản điện ảnh.

Phong kiến Trung Hoa cấm đoán rất nghiêm ngặt nhưng các tác phẩm bất hủ, để đời, vượt thời gian đến ngày nay không thời nào là không có. Tam Quốc Diễn Nghĩa đang nằm trong tủ sách nhà ông Nguyên Ngọc và các bạn già của ông là có từ thời nhà Minh bên Trung Hoa, là một triều đại có những công cụ cấm đoán ngôn luận rùng rợn bậc nhất như Cẩm Y Vệ, Đông Xưởng. Vậy mà văn học vẫn phát triển rất thịnh trong thời nhà Minh.

Nói vậy không phải để cổ vũ hạn chế ngôn luận một cách quá đáng, mà là để cho thấy rằng mức độ chất lượng của một nền văn học nghệ thuật không liên quan nhiều đến yếu tố cấm đoán hay mức độ tự do.

Đương nhiên, những tác phẩm nghệ thuật liên quan đến lịch sử thì có thể "du di" về các thông tin, về mức độ chính xác của thiết kế, mỹ thuật, y phục, hoa văn, tạo không gian rộng rãi cho hư cấu nghệ thuật, nhưng vẫn không thể làm ảnh hưởng đến tinh thần chống xâm lược, đến bản chất chính nghĩa - phi nghĩa của người nạn nhân bị/chống xâm lược và kẻ hung đồ đi xâm lược. Còn giáo dục chính sử nghiêm túc thì càng phải đặt trọng tâm truyền đạt lại tinh thần chống ngoại xâm đó, lấy đó làm trung tâm.

Thực tiễn truyền thống văn hóa lịch sử Việt Nam, tinh thần chủ đạo của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam vốn đã như thế thì cần chấp nhận thực tế đó, không ai có quyền tự tiện sửa đổi, thay thế, bê yếu tố sử học nước ngoài xa lạ không phù hợp vào rồi tưởng đó là "văn minh", trong khi các thực tế của họ khác ta, xuất phát điểm của họ khác ta, tiền đề, nhu cầu của họ cũng khác xa ta.

2. Thói quen "ngậm máu phun người" của tiến sĩ hóa học Giáp Văn Dương

Một trong những thói quen dễ thấy nhất của Giáp Văn Dương là ông ta thường có những bài viết phán xét, "dạy dỗ" thiên hạ, nhưng lại dựa trên một tiền đề (premise) không có thật. Nói nôm na kiểu dân gian là "ngậm máu phun người".

Đến thần kinh như Lý Tống, Bùi Hằng mà còn ít nhiều gì đó dựa trên những tiền đề có thật. Ít nhất Lý Tống hô hào "cách mạng chống cộng đua xe" là dựa trên tiền đề về tệ nạn đua xe nhức nhối ở VN. Còn Giáp Văn Dương thì cũng chửi đổng nhưng tệ hơn, dựa trên một tiền đề không có thật.

Thí dụ bài "Thoát Trung Luận" năm ngoái, ngay cái tít cũng đã bịp bợm đặt điều và xuất phát từ một tiền đề không được chứng minh, rằng Việt Nam đang bị "bế tắc", đang bị bao trùm, bị nhốt bởi Trung Quốc và cần phải "thoát" ra khỏi Trung Quốc hay gì đó.

Nếu Việt Nam như vậy mà còn phải "thoát khỏi" Trung Quốc thì thử hỏi Thái Lan, Singapore, hay những nơi mà người Hoa nắm kinh tế, chính trị thì phải gọi là gì? Và nền văn hóa Việt Nam ngàn năm nay vốn ảnh hưởng, tiếp thu không ít các tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa, các cổ nhân Việt Nam, thấm nhuần văn hóa Tam giáo đồng nguyên từ Khổng - Phật - Lão, thì phải gọi là gì.

Ngày nay nhìn vào xã hội Việt Nam, và cả xã hội Trung Quốc, chỉ thấy thiên hạ mặc đồ Tây, đi xe Tây, coi phim Hollywood, Harry Potter, Siêu nhân, Người dơi, X-men, đọc sách Tây, học tiếng Anh, và đường phố đầy Tây ba lô. Mấy đứa choai choai thì tóc xanh tóc đỏ. Xã hội đang có nguy cơ Tây hóa, lai căng hóa. Truyện thiếu nhi thì toàn là Hentai Nhật Bản với Hàn Quốc. Thành ra tôi cũng không hiểu từ đâu mà Giáp Văn Dương nảy sinh ra một ý niệm quái đản phi thực tế rằng VN có một nhu cầu phải "thoát Trung". Thoát Trung cụ thể là thoát cái gì?

Bệnh hoạn hơn, trong bài "Thoát Trung Luận" có vài phần gán ghép vấn đề "thoát" Trung Quốc với "thoát" khỏi chủ nghĩa Marx Lenin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Trong khi trên thực tế các chủ nghĩa, học thuyết này không phải của Trung Quốc, và không phải chỉ có một mình Trung Quốc áp dụng. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, Đảng Cộng sản Pháp và cánh tả thế giới mà đọc ý này trong bài "Thoát Trung Luận" không biết họ sẽ nghĩ gì về tác giả Giáp Văn Dương, có lẽ họ sẽ nghĩ đây không phải là một người tỉnh táo, hoặc viết bài trong một trạng thái bất ổn định, thiếu tỉnh táo, hoang tưởng xa rời thực tế đến kinh ngạc, cứ như ông ta đang sống trong một thế giới ảo nào đó.

Một thí dụ nữa là bài với cái tít vu khống "Lịch sử không phải để đặt trên bàn thờ", chụp mũ rằng người Việt Nam đã đặt lịch sử lên trên bàn thờ. Nhưng nội dung lại không hề chứng minh hay giải thích cho sự cáo buộc, chỉ trích này. Sau đó làm một tràng y như thật, và viết toàn bộ nội dung luyên thuyên vì sao không được đặt lịch sử lên bàn thờ. Nhưng tuyệt nhiên không cần chứng minh, hay ít nhất giải thích cho sự cáo buộc đó ngay từ đầu. Cho thấy sự vô nghĩa và vô giá trị của bài, khi nội dung bài xuất phát từ một tiền đề vu khống.

Thế nào là đặt lịch sử lên trên bàn thờ? Tôn trọng lịch sử, phân biệt rõ ràng giữa nạn nhân bị xâm lược, giữa người chống xâm lược và kẻ đi xâm lược, ý thức được lợi ích quốc gia dân tộc và nhu cầu giữ nước không có nghĩa là thờ cúng lịch sử hay tín ngưỡng hóa lịch sử, mê tín hóa lịch sử, biến lịch sử thành mê tín dị đoan.

Tôn trọng lịch sử chống ngoại xâm của cha anh, tinh thần yêu lịch sử, tri ân người giữ nước, khinh ghét kẻ cướp nước và kẻ bán nước là truyền thống cao đẹp, thuần phong mỹ tục Việt Nam chứ không hề là mê tín dị đoan. Thật ra Giáp Văn Dương muốn thoát Trung hay là thoát Việt?

Nói chung, hai bài viết đó của Giáp Văn Dương đã "áp đặt tiền đề" và nội dung toàn bài xuất phát từ một "tiền đề vu khống", một thủ pháp ngụy biện xưa như trái đất mà bọn rận do được huấn luyện trong các "lớp học nhân quyền" tương tự các lớp học mà Lê Công Định từng mở trước đây (do các quỹ nước ngoài, nhất là từ Mỹ tài trợ), rất hay áp dụng, các bạn trẻ nên để ý.

Nhiều bạn trẻ rất yêu nước và thông minh, hay tham gia hướng dẫn, giáo dục bọn phản động để giúp bọn họ quay về đường ngay nẻo chánh, nhưng do không có nhiều kinh nghiệm tranh luận với người nước ngoài nên hay không để ý đến những trò ngụy biện áp đặt tiền đề, "ngậm máu phun người" sơ đẳng này.

Muốn ngăn chặn bọn phản động "ngậm máu phun người" thì khi bọn họ cáo buộc ta vấn đề gì đó thì chúng ta phải dừng họ lại ngay và yêu cầu chứng minh, hay ít nhất phải giải thích ra ngô ra khoai. Nếu chứng minh được hay ít nhất có lý lẽ gì đó hỗ trợ (backup) cho luận điệu đó thì hãy bàn tiếp, còn không thì cáo buộc đó không có ý nghĩa, không có giá trị gì cả và không cần bàn tiếp nữa. Không để bọn họ vu khống, chụp mũ.

Muốn viết bài "Thoát Trung Luận" thì ông trước hết phải chứng minh thành công rằng Việt Nam đang bị Trung Quốc nhốt nên phải thoát Trung, thoát ra khỏi Trung Quốc. Dư luận thế giới và sách báo quốc tế có ai nói VN đang bị TQ "nhốt" và cần phải "thoát khỏi" không? Nếu không thì cái "luận" đó của ông có giá trị ngang giấy gói xôi.

Cũng vậy, muốn viết bài "Lịch sử không phải để đặt lên bàn thờ" thì trước hết phải chứng minh được rằng người Việt Nam hay đối tượng nào đó mà ông công kích đã đặt lịch sử lên trên bàn thờ ra sao, thế nào là đặt lên bàn thờ, người VN đã thờ cúng lịch sử, đã mê tín lịch sử như thế nào. Còn không chứng minh được thì bài viết đó là giấy gói xôi, vô nghĩa, vô duyên và không có giá trị tham khảo, thậm chí không đáng để quan tâm.

Từ "Thoát Trung Luận" đến.... "Thoát Thân Luận", Thoát Việt Luận trong giáo dục Việt sử. Mai đây con bệnh tâm thần này sẽ còn hô hào "thoát" ra khỏi cái gì nữa đây? Khùng điên hơn với "Thoát Y Luận" hay cởi bỏ hẳn mặt nạ ra và nói huỵch toẹt ra đòi phải "Thoát Cộng Luận"? Nội cái tên bài "Thoát Trung Luận" cũng đã nói lên sự vĩ cuồng và đầu óc bất bình thường của con người này, như là vừa phát kiến ra một "học thuyết", "luận thuyết", "chủ nghĩa" gì đó to lớn. Giật tít đao to búa lớn.

Bài "Lịch sử không phải để đặt lên bàn thờ" (có thể gọi là Thoát Việt Luận) của Giáp Văn Dương cũng rất mâu thuẫn và như một bạt tai thật mạnh vào bài "Thoát Trung Luận". Ông đừng nói với tôi là Trung Quốc đặt lịch sử nước nó lên bàn thờ nhé, đọc các câu chuyện lịch sử Trung Quốc chỉ thấy hoàng đế là "thiên tử". Các văn thần thì người là Văn khúc tinh quân, Thái thượng lão quân, Thái bạch kim tinh, võ tướng thì phải là Vũ khúc tinh quân, Nhị thập bát tú, Nhị lang thần Dương Tiễn, Na Tra. Vua quan cùng vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng phàm. Lịch sử ở TQ gắn liền nhiều với dã sử, văn học, nghệ thuật, yếu tố giải trí, chứ không hề gắn liền với yếu tố kính trọng, biết ơn, nhớ ơnthuần Việt đặc thù VN, phù hợp với đạo lý, tình nghĩa, và tâm tư tình cảm của dân tộc VN.

Còn theo tiền đề của bài "Thoát Trung Luận", thì VN phải "thoát" ra khỏi TQ. Như vậy là hai bài viết của cùng một tác giả này đã có mâu thuẫn lớn về tiền đề, ý chính, nội dung chính. Bài viết thứ nhất muốn mượn con ngáo ọp "thoát Trung" để đòi VN phải bỏ con đường XHCN, chủ nghĩa Marx Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thứ hai là những ngụy biện quanh co nhằm hô hào: Người Việt đừng kính trọng sử Việt nữa. Lịch sử Việt Nam (bao gồm những anh hùng, chiến công, hy sinh, sự kiện, cuộc chiến liên quan) không phải để kính trọng!

Qua những quan điểm có dấu hiệu của sự mất trí, điên rồ này, ông ta đã biểu hiện như một con bệnh tâm thần, hoang tưởng. Đặt giả thuyết nếu đây không phải là một sự giả vờ, đóng kịch để nhồi sọ, "ngu hóa" người khác, thì có thể một số hóa chất độc hại đã ảnh hưởng ít nhiều đến não bộ của người tiến sĩ hóa học này, do cả đời tiếp xúc, thí nghiệm với đủ loại hóa chất từ nhỏ tới lớn.

Còn nếu đó là những tuyên truyền ác ý, thì cũng không có gì ngạc nhiên. Lâu nay luôn có một bộ phận "trí thức" lai căng, thân Tây, thân Mỹ, hoạt động DBHB, do nước ngoài gởi về. Để "thuần hóa" một dân tộc, xâm lược mềm một quốc gia, thì họ phải can thiệp, chống lại và triệt tiêu chủ nghĩa yêu nước của dân tộc đó.

Cách làm xưa nay của họ là ban phát các giá trị (value), ví dụ thời Pháp thì có rất nhiều nhà thương thí, thời Mỹ thì có rất nhiều học bổng. Tóm lại là ban ra gì đó, ban bố giá trị gì đó, để mị dân, lấy lòng, và gắn chặt lợi ích của một bộ phận thiểu số dân bản xứ với bọn họ. Thao túng, thâu tóm tầng lớp trí thức, có tham vọng tạo dựng lên một thế hệ, một tầng lớp trí thức lai căng, vọng ngoại, thân Tây, thân Mỹ mới, phi dân tộc hóa, phi Việt hóa, để phòng khi hữu sự, có biến động, biến loạn, biến cố chính trị sau này.

Do đó, bọn họ tìm mọi cách đánh phá chủ nghĩa yêu nước VN, trong đó có mục tiêu "lột trần huyền thoại Hồ Chí Minh". Hành động của bọn họ giống như lao đầu vào đá, giống như những con thiêu thân tự sát, nhưng họ vẫn phải cố gắng làm thử, vì không làm thì hầu như không thể nào thay thế được chế độ. Phải chăng đây là cơn điên dại, co giật, vô vọng, tuyệt vọng cuối cùng của bọn phản động?

Một trong những mục tiêu lớn của Diễn biến hòa bình là "phun nọc độc" phá hoại nhận thức lịch sử truyền thống của một dân tộc đang vững mạnh về chủ nghĩa yêu nước, có tinh thần dân tộc mạnh mẽ, mà họ khó xâm nhập vào được.

Họ muốn diệt đi tâm thức, ý thức chống giặc xâm lược của người Việt, để mở đường xâm nhập, từng bước "khai hóa" dân ta lần nữa, hoặc ít nhất tạo điều kiện thuận lợi để xâm lược cứng hoặc xâm lược mềm trong tương lai.

Xưa thì là "khai hóa văn minh", còn sắp tới sẽ là "khai hóa dân chủ". Và họ đang mua chuộc những tên tay sai bản xứ thăm dò, mở đường trước. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Văn Hoan tân thời đang là những đối tượng họ đặt vào trong tầm ngắm. Đồng thời, họ cũng muốn phá hoại và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, mà chủ nghĩa yêu nước VN chính là một trong những nhân tố hàn gắn, gắn kết sự hòa hợp đoàn kết dân tộc đó.

2.1. "Stick to your day job!"

Các bài viết của bọn ngụy và bọn phản động nói chung, cũng như một bộ phận dỏm đời tự coi mình là "nhân sĩ, trí thức" thường biểu lộ tình cảm tôn thờ sùng bái, trung thành và thầm yêu trộm nhớ Hoa Kỳ đơn phương nên tôi xin tặng câu này từ người Mỹ cho các bạn ấy: "Stick to your day job!" Biết đâu có thể làm cho các bạn ấy nghĩ lại. Không còn não trạng cái gì cũng hô "cộng sản tuyên truyền".

Tại Mỹ, những trí thức, đặc biệt là các tiến sĩ, giáo sư, giáo viên, chuyên gia, chuyên viên.... mà phán trên báo về những chủ đề không liên quan tới chuyên ngành, chuyên môn của họ thì là một hiện tượng vô duyên hi hữu và lạ lùng. Các chuyên gia và trí thức có học hàm, học vị cao, văn minh, biết điều, tự trọng, tôn trọng độc giả và người nghe thì không ai làm vậy. Cho nên trường hợp này hầu như không thấy trong xã hội Mỹ. Không chỉ là trí thức mà bất cứ ai nói ra ngoài kiến thức chuyên môn, hiểu biết chuyên ngành của mình thì đều bị bạn bè hay người nhà của họ nhắc nhở: "Stick to your day job!", ngụ ý rằng hãy lo công việc ban ngày của mày đi.

Một xã hội văn minh thì phải như vậy. Và chỉ có như vậy thì yếu tố tự do ngôn luận mới được phát huy hiệu quả và có ích. Còn nếu không, thì tự do ngôn luận sẽ trở nên phản tác dụng, tác dụng ngược và gây hại xã hội. Mọi người tự do thi đua phán bậy, tự do chém gió, tự do tuyên truyền ngoài lĩnh vực hiểu biết chuyên sâu, đầu độc lẫn nhau.

Tự do ngôn luận khác với tự do tẩy não, nhồi sọ, đầu độc nhau, tự do tuyên truyền sai sự thật hoặc xuyên tạc, bóp méo, uốn nắn, xào nấu sự thật. Nếu tự do ngôn luận không được đặt trong khuôn khổ pháp luật và cả khuôn khổ luật bất thành văn với đạo lý nói trên, thì tự do ngôn luận sẽ biến thành tiêu cực, bi kịch như thế.

Hiện tượng một ông tiến sĩ hóa học viết bài tuyên truyền về sử học chính là một trong những thí dụ bi hài đó. Ông ta có lẽ đủ tư cách và uy tín để viết về vật lý, hóa học. Còn tư cách và uy tín để viết về sử học thì ông ta không hơn gì một bác chạy xe ôm, một ông thợ sửa xe, một học sinh phổ thông. Thậm chí, những người kia do giao tiếp nhiều nên có thể hiểu biết hơn, có nhận thức lịch sử cao hơn.

Một số thế lực nước ngoài, dù ở xã hội đã phát triển của họ thì khác, song ở các xã hội nước nhỏ, nhược tiểu, chưa phát triển, kém phát triển, nhất là các xã hội thuộc địa và cựu thuộc địa, thì họ lại mượn danh "tự do ngôn luận" để khuyến khích giới trí thức phát ngôn, ăn nói bừa bãi, nói leo sang lĩnh vực, ngành học chuyên môn khác, như vậy chân giá trị của trí thức bị giảm thiểu, hoặc bị vô hiệu hóa, khi người trí thức đã nói khác với chuyên môn của mình, nói về những chủ đề mà họ không có học vấn, không có kinh nghiệm, thậm chí bỏ ra rất ít thời gian để suy nghĩ, tìm hiểu chính xác về chủ đề đó.

Những người nào thuộc loại trí thức giả cầy nói trên hãy nhìn các tấm gương đức tính của những nhân sĩ trí thức thật sự và đúng nghĩa, như giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa, giáo sư tiến sĩ Võ Hồng Anh (con gái Đại tướng Võ Nguyên Giáp), đó là đức tính khiêm tốn của kẻ sĩ và tinh thần trách nhiệm của người quân tử, họ có thể bàn luận nhiều vấn đề riêng với nhau, trên bàn nhậu, trong nhà với nhau, nhưng chỉ công khai nói, viết, trả lời phỏng vấn về những gì họ thật sự nắm vững, hiểu biết rõ ràng. Những nhân vật đó mới là những nhân sĩ trí thức thật sự, còn Giáp Văn Dương và các ông giả cầy kể trên thực chất chỉ là hạng bịp bợm mượn danh, tiếm danh, thậm chí mạo danh "chém gió" công khai, tuyên truyền bịp bợm về những đề tài bản thân chưa từng ăn học, trải nghiệm, thực nghiệm.

Hiện nay nhiều người nói về "văn hóa xấu hổ" trong xã hội nước ta, vậy thì bây giờ các ông "nhân sĩ trí thức" giả cầy nên rèn luyện đức tính "biết xấu hổ" này đi, bắt đầu từ sự có trách nhiệm với lời nói của mình trong lúc phát ngôn, và sự khiêm tốn của kẻ sĩ phu, "biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe" như ông bà mình đã dạy. Chứ đừng nên làm những kẻ thất phu "chém gió" phàm phu tục tử, gây cười hoặc gây phản cảm.

Chuyên ngành lĩnh vực này, nhưng lại nói leo sang lĩnh vực khác thì cũng giống như Einstein đi vẽ tranh, Picasso đi thí nghiệm khoa học, cầu thủ bóng rổ nổi tiếng nhất thế giới Micheal Jordan bỏ bóng rổ chơi bóng chày một thời gian và kết quả là chơi kém hơn cả bọn bóng chày đại học.

Đó cũng chỉ là những so sánh tương đối, vì Giáp Văn Dương và các "nhân sĩ trí thức" chuyên gia nói leo làm sao so sánh được với.... học trò của những học trò của người giúp việc của những nhân vật lỗi lạc trên. 

Ngay cả trình độ chuyên môn về hóa học thật sự của ông Dương cũng không rõ thực hư thế nào, hiểu biết đến đâu, cao thấp ra sao. Đặt trường hợp lai lịch đó của ông ta là thật, mà không phải là một lai lịch giả tạo được dàn dựng bởi các thế lực nào đó, điều này cũng không hề khó và không hề hiếm có, trong thời chiến tranh đã có rất nhiều lai lịch giả như thế, thậm chí lý lịch ba đời gia đình cách mạng mà Pháp - Mỹ còn dàn dựng được.

Hy vọng đó không phải là những bằng giả, một số Việt kiều về nước hoạt động thì rất hay thậm xưng là thế này thế kia, và ở nước ngoài cũng có rất nhiều bằng giả, thậm chí có thể dễ dàng tìm trên Google rồi đặt hàng online.

Nói chung, ngoài sự sáo rỗng chung chung thì có 2 điểm cơ bản vì sao những bài viết như vậy là vô giá trị: Ông ta phán "đừng đưa lịch sử lên bàn thờ" là muốn nói đến lịch sử nào? Lịch sử thế giới, lịch sử nước Mỹ, lịch sử nước Tàu? Nếu ông ta muốn nói lịch sử nước ta thì nên nói rõ ra. Còn hèn nhát không dám nói rõ đó là lịch sử Việt Nam thì đừng nên viết bài nữa càng làm trò cười cho thiên hạ.

Lịch sử Việt Nam là gắn liền với các chiến công vệ quốc, các hy sinh xương máu trong tiến trình dựng nước và giữ nước, trong quá trình chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, các anh hùng liệt sĩ và anh hùng dân tộc, ngàn năm nay người dân đã tự nguyện lập đền thờ cho bao nhiêu người có công với nước về chống ngoại xâm giữ gìn đất tổ. Bây giờ không xem những điều này là cái gì đó nên tôn thờ? Ông ta muốn dỡ bỏ các đền thờ anh hùng dân tộc trên khắp ba miền đất nước? Chẳng trách dân gian lâu nay gọi đó là những tư tưởng "đốt đền thờ".

Lịch sử thì có bao nhiêu cái, lịch sử xã hội, lịch sử cách mạng, lịch sử cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại, trong đó có quân sử, chiến sử, ông muốn nói đến lịch sử nào? Lịch sử nước nào, và vấn đề nào của lịch sử?

Và vẫn là cái khốn nạn nhất: Bài viết mới của Giáp Văn Dương vẫn lờ tịt đi vấn đề chống xâm lược và vấn đề đi xâm lược. Lịch sử cũng có lịch sử chiến tranh xâm lược và lịch sử chống xâm lược. Nói chung vẫn là một bài viết cào bằng vô giá trị và truyền tải những "giá trị" bất trung, bất nghĩa, bất nhân, bất hiếu, muốn "lật pháp" và lật ngược hệ giá trị đạo lý dân tộc, như đã phân tích trong phần nói về trò vô đạo cào bằng lịch sử ở trên.

Nghị định

Không biết có phải ngẫu nhiên trùng hợp kỳ lạ gì hay không, mà sau khi có thông tin rằng Nghị định 174/2013 sẽ có hiệu lực vào tháng 1 thì trên các trang phản động, chống cộng hải ngoại và cả một số trang web với nhãn hiệu "chính thống" trong nước như Vietnamnet, Tuanvietnam, Giáo dục Việt Nam bỗng dưng xuất hiện đồng loạt những bài viết có nội dung phủ nhận chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, xuyên tạc và cào bằng lịch sử, lẫn lộn trắng đen, tâng bốc quân ngụy, vàng thau lẫn lộn, cào bằng và lật ngược giá trị lịch sử, hệ giá trị văn hóa của một dân tộc.

Trong nghị định mới này có nội dung tôi đồng ý nhiều (như việc phạt xuyên tạc lịch sử), có nội dung tôi đồng ý ít, có nội dung tôi chưa đồng ý lắm (trên tinh thần tôn trọng và thông hiểu).

Tôi thấy tình trạng xã hội ta chưa tới mức lạm dụng blog vu khống, nói xấu và dồn người khác đến chỗ tự tử nhiều như Hàn Quốc, dư luận Việt Nam không quan tâm nhiều đến blog như Hàn Quốc, và cũng không có vượt khỏi tầm kiểm soát như ở HQ. Nên hiện nay tốt nhất là những việc người này người kia dùng blog đấu đá, nói xấu nhau thì nên cứ để cho họ tự giải quyết, nếu cần thì cứ kiện cáo nhau. Mức phạt hiện nay cao nhất là 100 triệu. Nếu ai đó bị vu khống và thưa kiện thì có thể đòi bồi thường hơn cả số tiền này. Kẻ nào nói xấu, chụp mũ người khác mà không có bằng chứng thuyết phục thì sẽ bị thưa kiện và sẽ phải bồi thường, vẫn đủ tính răn đe.

Ngược lại, những kẻ làm bậy hoặc dung túng, xử không nghiêm để cho kẻ khác làm bậy sẽ bị áp lực và bị dư luận, thông qua các blog phê phán và răn đe. Nói chung tình hình xã hội và blogger Việt Nam trong thời điểm lúc này thiết nghĩ chưa đến mức phải khắt khe quá như luật Hàn Quốc. Hãy cứ để ai đó làm bậy thì sẽ phải chùn tay vì sợ dư luận thiên hạ chửi mắng, lên án, phê phán, ném đá.

Còn tội xuyên tạc xúc phạm lịch sử thì lại khác, lịch sử là bao gồm hàng triệu anh hùng liệt sĩ. Lịch sử không thể tự minh oan cho mình. Những anh hùng liệt sĩ không còn tại thế để phản bác những sai trái của bọn kia. Hiện nay không có 1 cá nhân nào đủ tư cách đại diện cho lịch sử, cho vạn triệu anh hùng liệt sĩ, nên Quốc hội, Đảng, Nhà nước, Chính phủ cần phải có luật hoặc/và các biện pháp chế tài để đại diện nhân dân ngăn chặn những trò lố lăng có tính chất "đốt đền thờ" như thế này.

Dù cho không tính tới yếu tố tâm linh đi nữa thì vẫn cần để cho những người còn sống, những con cháu của các anh hùng liệt sĩ, những người có công với nền độc lập dân tộc, những người yêu nước và quý trọng sự nghiệp độc lập dân tộc, các giá trị của độc lập, thống nhất, hòa bình, được yên lòng.

Nên mình tán thành và ủng hộ bất cứ hình thức trừng trị nào đối với tội xuyên tạc cào bằng lịch sử, kỷ luật, phạt hành chính (phạt tiền), hay cả điều tra và truy tố trách nhiệm hình sự như luật nước Nga.

Phạt tiền như vậy là quá nhẹ so với một tội lỗi xâm hại văn hóa, xâm hại lịch sử, xâm hại độc lập dân tộc, xúc phạm các anh hùng liệt sĩ và các công lao ân đức của tiền nhân, cào bằng lịch sử, có tính chất tội ác văn hóa. Bên Nga họ điều tra hình sự và truy tố hình sự chứ không chỉ phạt tiền.

Phạt tiền là nhẹ nhất và chỉ có tính răn đe tương đối, giống như phạt những "nghệ sĩ", nhân vật công chúng ăn mặc quá hở hang gây phản cảm, góp phần truyền bá tư tưởng, nhận thức lệch lạc trong quần chúng, gây ảnh hưởng xấu đến nền văn hóa, văn hiến, thuần phong mỹ tục Việt Nam, chưa tương xứng lắm với tầm mức tác hại mà tội ác xâm phạm lịch sử, xâm phạm văn hóa, xúc phạm cộng đồng dân tộc do tội xuyên tạc cào bằng lịch sử gây ra.

Tại sao bọn phản động muốn đánh vào lịch sử cha ông?

Xuyên tạc lịch sử là một trong những khâu quan trọng bậc nhất của chiến lược Diễn biến hòa bình, công phá chính trị và nhân tâm. Để dễ bề "xâm lược cứng" (đem quân đánh) khi có cơ hội thích hợp. Hoặc "xâm lược mềm" (xâm lăng văn hóa, bành trướng quyền lực mềm, can thiệp mạnh chính trị và kinh tế).

Khi các thế lực chính trị, kinh tế, kinh doanh, tài chính nước lớn muốn thâm nhập vào các nước nhỏ để thủ lợi, khi các thế lực tài phiệt tư bản lớn, các thế lực "mafia" kinh tế, hay thậm chí là mafia thật sự, bọn tội phạm thật sự, hay các ông trùm tỷ phú, muốn xâm lăng kinh tế, thôn tính và thao túng một thị trường, một mục tiêu tài nguyên béo bở, một nguồn lao động tiềm năng nào đó, hay các quyền lực kinh tế quốc tế muốn thu mua, thâu tóm các cổ phiếu, cổ phần, doanh nghiệp nội địa trong một nước, có khi thông qua sự đứng tên, cộng tác của các thành phần tư sản mại bản trong một nước, hay lạm dụng, bóc lột sức lao động của một nước nhỏ, hay muốn xóa bỏ tinh thần "người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", muốn trần trụi tất cả, thị trường hóa sạch sẽ để cho những ông trùm khổng lồ nước ngoài có tiềm lực bạc tỷ có thể độc quyền, mặc sức thao túng thị trường, tư bản hóa cả gói, vận động hành lang (lobby), bỏ tiền ra thò tay vào cơ quan lập pháp để uốn nắn Quốc Hội các nước nhỏ làm luật có lợi cho doanh nghiệp nước ngoài của họ, hoặc bỏ tiền tỷ ra để "lái buôn tổng thống", xóa bỏ hoàn toàn CNXH ở nước nào đó, trong đó có VN, thì việc xóa bỏ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, tâm thức giữ gìn độc lập tự chủ của các công dân ở nơi đó là một khâu quan trọng.

Nó còn là một phần của chiến tranh tâm lý ngày nay. Những kẻ thực hành Diễn biến hòa bình lợi dụng mọi công cụ trên Internet để cho bọn tuyên truyền viên trà trộn vào xuyên tạc lịch sử, các kênh bao gồm Wikipedia (nhất là Tiếng Việt), Youtube, Yahoo Hỏi Đáp, các blogs, diễn đàn, sân chơi trên Internet, thậm chí cả game online.

Bên cạnh đó, có một bộ phận ban đầu không có ý xấu, nhưng có những tư tưởng lạc lõng và bị đào thải khỏi đại khối dân tộc Việt Nam, vì nguyên nhân nào đó mà họ không hòa nhập, hòa đồng nổi với truyền thống và văn hóa Việt Nam, đầu óc họ vẫn còn tồn đọng tư tưởng thuộc địa. Hoặc đơn giản là có những người không yêu nước, không có tinh thần dân tộc, vọng ngoại. Nói chung là những kẻ không ra gì, tư cách thấp kém, nhân phẩm tồi tàn.

Họ là người Việt Nam, nhưng lại tự "phi Việt hóa", "ngoại quốc hóa", lai căng hóa bản thân, không đứng trên lập trường, góc nhìn, quan điểm của dân tộc Việt Nam trong nhận thức, tiếp cận lịch sử. Họ cũng không đứng lên lập trường của độc lập dân tộc. Họ cũng không đứng trên lập trường nhân văn của người yếu thế, của nạn nhân bị xâm lược, những nạn nhân chịu tội ác, bất đắc dĩ phải đứng lên chống ngoại xâm, chống giặc ngoài, chống lại những thủ phạm gây tội ác, để giành lại chủ quyền độc lập dân tộc của họ và một lãnh thổ nguyên vẹn thống nhất không còn bị chia đôi, chia ba. Tức là người chủ nhà đánh đuổi bọn cướp ra ngoài để giành lại ngôi nhà và tài sản trong ngôi nhà đó.

Họ là con người mà họ không nhìn nhận được như vậy, nghĩa là họ kém nhân văn, thiếu văn hóa. Họ thuộc dân tộc Việt mà họ không nhìn nhận được như vậy, nghĩa là họ phi dân tộc, nếu chưa phản dân tộc.

Họ nặng nề tư tưởng hẹp hòi ích kỷ của chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết có thân mình, coi nhẹ lợi ích chung của dân tộc, coi sở thích riêng của bản thân và các quyền tự do cá nhân riêng biệt là quan trọng nhất, đặt nó lên trên lợi ích quốc gia dân tộc, quê hương đất nước, mục đích độc lập dân tộc và động lực, nhiệm vụ, trách nhiệm bảo vệ nước nhà.

Những phần tử ích kỷ hẹp hòi, xem nhẹ dân tộc, xem nhẹ chủ quyền độc lập của đất nước, xem nhẹ vấn đề chống quân xâm lược, xem nhẹ các yếu tố đó trong lịch sử như thế chính là những đối tượng tiềm năng mà giặc ngoại xâm luôn tìm kiếm tranh thủ, đặt vào trong đích ngắm để móc nối, lợi dụng, mua chuộc làm tay sai bù nhìn. Hiện tại chúng chỉ là những thành phần phi dân tộc, nhưng khi có chiến tranh xâm lược xảy ra trên quê hương xóm làng của chúng thì bọn ngoại xâm sẽ biến chúng thành phản dân tộc, phản quốc, bán nước, bán rẻ linh hồn và quê hương xứ sở, trở thành những tên Việt gian nhà nòi.

Nhân quyền

Có một số người nói rằng Việt Nam gia nhập Hội đồng Nhân quyền LHQ rồi lại ban ra Nghị định này là đi ngược lại nhân quyền. Trước hết, những bầy cừu cần dẹp bỏ ngay não trạng, hay nói đúng hơn là triệu chứng tâm thần chỉ quan tâm duy nhất đến vấn đề "quan điểm lề phải" hay "quan điểm lề trái", mà hãy mở mắt và mở đầu óc ra để quan tâm đến vấn đề "quan điểm đó đúng hay sai", "quan điểm nào đúng", "quan điểm nào sai". Vậy quan điểm "hạn chế quyền tự do cá nhân là đi ngược nhân quyền" này là đúng hay sai?

Nhân quyền là một phạm trù rộng lớn, nó liên quan bao quát tới các vấn đề pháp luật, công lý, đạo lý, đạo đức, truyền thống, văn hóa, giáo dục, tôn giáo/tín ngưỡng, kinh tế, xã hội, quyền công dân (dân quyền), quyền phụ nữ (nữ quyền), quyền lợi của người già, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, an sinh xã hội, công bằng xã hội, phúc lợi, yếu tố minh bạch (transparent), chống tra tấn/ép cung, giảm thiểu án oan, giảm thiểu quan tham, giảm thiểu tệ quan liêu - hách dịch - cửa quyền, giảm thiểu sự lạm dụng công quyền, giảm thiểu tệ quan - thương câu kết lấy đất của dân oan một cách trái pháp luật và trái tình người....

Các quyền tự do thể hiện cá nhân, bao gồm quyền tự do tuyên truyền mà nhiều bạn hay nâng quan điểm và xuyên tạc thành "tự do ngôn luận", chỉ là một phần nhỏ của chủ đề nhân quyền.

Trên thế giới này không có quốc gia nào, nhà nước nào, quốc hội nào mà không hạn chế, thậm chí cấm hẳn một số quyền tự do cá nhân. Do đó mới có luật pháp. Chứ nếu quyền tự do cá nhân là vô hạn thế thì có khác gì luật rừng, vậy thì cần gì luật pháp nữa, cần gì một thể chế pháp trị, pháp quyền nữa.

Nên các quyền tự do cá nhân ở VN và các nước phải được hiểu là "tự do trong khuôn khổ pháp luật". Áp dụng ra sao là phụ thuộc vào thực tiễn, văn hóa, nhu cầu, tình hình, trạng thái đặc trưng đặc thù khác nhau ở mỗi nơi, không nơi nào giống nơi nào.

Cho nên mỗi khi các bạn phản biện cái gì mà muốn cho thuyết phục thì các bạn cần phải chỉ ra cái sai của nó căn cứ trên thực tiễn Việt Nam, chứ các bạn không thể cứ lôi các nước ngoài ra, đứng núi này trông núi nọ, rồi thấy VN khác thì các bạn lại bảo VN là "ốc đảo dị thường", nghe thấy rất kém giá trị và ít thuyết phục. Khi nghe các bạn đem nước ngoài, đem Tây đem Mỹ ra làm chuẩn mực, làm hình mẫu, làm "khuôn vàng thước ngọc" rồi bảo VN phải bắt chước, cọp dê họ, thì người nghe chỉ nhận thấy các bạn quá vọng ngoại thôi chứ không nghe lọt tai nổi.

Nghị định là để cụ thể hóa chi tiết hơn, và nghị định này cũng không trái pháp luật. Luật pháp cũng không thể nào bao hàm hết được, phục vụ hết được cho công dân, luật pháp bao giờ cũng có kẽ hở, vùng xám, lấp lỗi này thì thực tiễn xã hội và dân sinh liền nảy sinh lỗi khác, giống như lỗ hổng bảo mật của một bộ máy computer vậy. Một bộ máy chính trị xã hội cũng vậy thôi. Cho nên ngoài pháp lý thì còn đạo lý, tình người.

Đạo lý vừa giúp hoàn thiện pháp lý, vừa có thể bổ sung giúp ích cho việc định hướng, điều chỉnh con người, xã hội theo hướng tích cực, lương thiện, đạo đức, hiếu - trung - nhân - nghĩa, nhân - nghĩa - lễ - trí - tín, hạn chế bớt cái xấu, cái sai, thậm chí cái ác. Một xã hội nhân văn của con người, một nền văn hóa đều cần phải hội tụ đầy đủ 2 yếu tố tinh thần và vật chất.

Đạo lý, pháp lý hay nghị định chi tiết của chính phủ đều hướng về sự bảo vệ lợi ích vật chất và cả yếu tố tinh thần nữa, do đó mà có luật bảo vệ lịch sử ở Nga, hay Nghị định chính phủ 174/2013 ở Việt Nam, cũng như đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây của dân tộc Việt.

Lấy ví dụ Libya cho dễ thấy, Libya "nhờ ơn" Mỹ và NATO "đem dân chủ tới", và 2 năm nay họ đã có cái mà người Mỹ và chính thể mới gọi là "dân chủ". Tại Libya bây giờ muốn viết lịch sử kiểu nào thì viết, lộn ngược cũng được chẳng sao cả. Libya ngày nay cũng không có Nghị định 174 đó, không ngăn cấm điều nào trong Nghị định đó, có thể họ có nhiều quyền cá nhân hơn VN. Nhưng họ có nhân quyền không?

Đất nước của nhân dân Libya, của những con người châu Phi khắc khổ đang là một bãi chiến trường hỗn chiến giữa tân chính phủ, các phe phái trong nội bộ tân chính phủ, và các thế lực, quân phiệt, bộ lạc, lãnh chúa trung thành với lãnh tụ, đại tá Gaddafi. Quyền lực chính phủ Libya ngày nay gần ở con số không. Trên muốn nói gì thì nói, dưới làm hay không lại là việc khác.

Đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. Mỗi đường phố là một quốc gia, mỗi khu nhà là một chính quyền. Xưa đi từ nước này sang nước kia dễ dàng bao nhiêu thì nay ngay cả khi đi từ phố này sang phố khác thậm chí còn nguy hiểm hơn, không biết sẽ bị ăn đạn, ăn bom, ăn mìn, ăn lựu đạn lúc nào.

Chưa bao giờ Libya phải ở trong tình trạng người dân xếp hàng dài để mua được vài lít xăng, mất điện thường xuyên hàng ngày vì các máy phát thiếu dầu. Nước sạch giờ đây cũng trở nên khan hiếm và đắt đỏ vì các máy bơm không thể hoạt động được cũng bởi thiếu dầu. Tình hình quẫn bách này đang xảy ra ở ngay thủ đô Tripoli.

Chế độ độc tài gia đình trị của Gaddafi chả phải là chế độ tốt đẹp hoàn mỹ, nhưng dưới chế độ này Libya chưa bao giờ bị thiếu dầu, việc thiếu dầu ở thủ đô Tripoli càng là điều không tưởng. Đó không phải là nhờ sự tài giỏi của chế độ Gaddafi, gia đình Gaddafi không thể tạo ra dầu được, mà là nhờ tài nguyên phong phú của Libya. Và bây giờ vẫn với tài nguyên phong phú đó thì Libya lại bị thiếu dầu tràn lan, ảnh hưởng đến nhiều cái khác trong xã hội cả nước. Lạ thật, dầu Libya "không cánh mà bay" đi đâu hết rồi, bốc hơi đi đâu hết rồi, thật quá "khó đoán" phải không các bạn.

Chính trị thời nay với thủ đoạn ăn cướp đã phát triển tầm cao thì đâu cần phải làm những hành động thô thiển trắng trợn như cầm roi quất bắt dân bản xứ lặn xuống biển mò ngọc trai, cầm roi quất vào những người thợ cạo mủ cao su thì mới là ăn cướp tài nguyên của ai đó. Với thủ thuật chính trị, kỹ thuật kinh tế, tài chính, kế toán phức tạp ngày nay thì có không ít biện pháp ăn cướp "hợp pháp", "hợp tình", "hợp lý".

Libya giờ đây trở nên muôn vàn nước nhỏ trong một nước lớn. Ở đâu có mỏ dầu, ở đâu có cảng, ở đó các phe cánh tài phiệt, chủ yếu là từ nước ngoài, từ phương Tây, hoặc các phe cánh tư sản mại bản của bản xứ liên kết phối hợp với bên ngoài, tìm cách khai thác và bán dầu thu lợi riêng, không thông qua chính quyền.

Việc nghiêm trọng tới mức thủ tướng Libya dọa miệng rằng sẽ đánh chìm bất cứ tàu nào chở dầu phi pháp. Nhưng cũng không có tác dụng và chính quyền không thể làm gì hơn được. "Thượng bất chính, hạ tắc loạn", người dân không phục và không coi trọng nhà chức trách, không coi chính quyền ra gì. Cảnh sát và quân đội Libya giờ đây tệ hại hơn các nhân viên công lực và lực lượng vũ trang của Gaddafi xưa. Sĩ quan, nhà báo, luật sư, quan tòa bị giết, bị bắt cóc là chuyện thường xuyên hàng ngày như cơm bữa.

Hiện tượng Libya và các nước đang có hoàn cảnh tương tự trên thế giới ngày nay nói lên điều gì? Nói lên rằng không được đánh đồng quyền tự do cá nhân với dân chủ, nhân quyền. Thực tế xã hội ở những nơi kể trên đã cho thấy rằng ở những nơi đó, quyền tự do cá nhân đi ngược lại và làm hại dân chủ, nhân quyền. Bởi vì tự do quá trớn, quyền lực trung ương nhạt nhòa yếu ớt, các cơ sở địa phương tha hồ đấu đá bắn giết, ai muốn làm gì thì làm, thế là sinh loạn, đưa đến tình trạng chẳng ai có nhân quyền. Ra đường không biết bị bắn chết hay trúng bom chết lúc nào. Ngay cả quyền sống cũng không có thì làm sao có nhân quyền? Quyền gì? Không có nhân quyền thì làm sao có dân quyền (quyền công dân), không có dân quyền thì làm sao có dân chủ? Libya và các nước tương tự đang có tự do cá nhân thả cửa nhưng lại không có nhân quyền, dân quyền và dân chủ.

Gần đây Bùi Hằng, Huỳnh Thục Vy, Mẹ Nấm, Đoan Trang và một số cô nàng đã sáng tác bày ra chiêu trò mới, nặn ra một danh nghĩa "đấu tranh", một tấm bình phong, một cái "phao", một chiêu bài mới: Đòi nữ quyền cho phụ nữ Việt Nam.

Dĩ nhiên chiêu này nhanh chóng trở thành trò hề kinh điển, trở thành trò cười cho thiên hạ, kể cả các băng nhóm phản động khác, và rất nhanh chìm vào quên lãng. Vì nó quá ngu đần và phi thực tế, nói láo thì cũng phải có căn cứ, trong khi đó trên thế giới không ai có vấn đề gì với VN về quyền phụ nữ, những bộ phận diều hâu trong các chính phủ Mỹ và phương Tây lâu nay thực hiện Diễn biến hòa bình chống Việt Nam cũng rất hiếm khi dám dùng chiêu bài "nữ quyền" để chống VN. Bởi vì như thế thì khác gì họ vả vào mồm các đồng minh, chư hầu thân tín của họ như Ả Rập Saudi, Hồi giáo Shia Iraq, Liên minh phương Bắc Afghanistan, khi phụ nữ ở những nơi này bị đối xử như nô lệ.

Không thể chạy xe bậy, bị phạt rồi hô là "không có quyền tự do cử động thân thể", "quyền tự do lái xe", "quyền tự do di chuyển", "tự do đi lại", hay bị bắt vì bắn người rồi hô là "không có quyền tự do dùng súng". Tương tự khi "linh mục" phản động Nguyễn Văn Lý bị đội phòng chống tệ nạn và mại dâm bắt quả tang cùng với sơ Nguyễn Thị Xuân Hà trong khách sạn ở Gò Vấp rồi bị đưa về trụ sở công an phường 3 để xác minh và xử lý thì bọn chống cộng hô hào là "CSVN không có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng". Tự do luôn nằm trong khuôn khổ pháp luật, nếu "tự do" nghĩa là muốn làm gì thì làm thì thế giới này đã không tồn tại và không cần đến luật pháp.

Vấn đề tự do viết lách và xuất bản

Tôi cũng thích tự do viết, ai chả thích tự do viết? Tôi không thích bị cấm, chả ai thích bị cấm, bị hạn chế. Nhưng phải nhìn nhận thực tế không đâu trên thế giới cổ kim này mà có cái tự do đó một cách thật sự, sẽ luôn luôn có những giới hạn, những ranh giới, điểm dừng. Các ông cần bình tĩnh xét đến từng vấn đề một chứ không thể cào bằng quy xuống hết thành "cấm với không cấm". 

Các ông cũng nên dùng từ cho đúng, các ông thật ra bị hạn chế quyền tự do tuyên truyền, đặc biệt là quyền tự do tuyên truyền chính trị, nhưng các ông lại nói xiên xẹo méo mó thành "quyền tự do ngôn luận". Trong khi thực tế thì ở VN người dân muốn chửi Nhà nước, chửi lãnh đạo thì cứ chửi thôi. Chẳng có ai chỉ vì nói, chỉ vì chửi mà bị bắt. Nhưng nếu tuyên truyền có tổ chức, có hệ thống, theo một chiến dịch thông tin nhằm ám sát tư cách, bôi nhọ uy tín của cá nhân, tổ chức, thì các ông đương nhiên sẽ bị hạn chế theo quy định của pháp luật.

Các ông muốn có quyền được tự do tuyên truyền, tự do bôi đen, tự do chửi bới, tự do công kích, hay tự do xuyên tạc, tự do cào bằng, nôm na tóm lại là tự do ngông luận, thì các ông ít ra cũng nên nói cụ thể từng vấn đề một. Chứ không thể cào bằng chung chung xuống hết thành "cấm với không cấm", "được viết hay không được viết", "được tuyên truyền hay không được tuyên truyền", như vậy nó rất phi thực tế và không thuyết phục được ai cả.

Bây giờ hãy lấy xứ Mỹ làm thí dụ. Mỹ lâu nay luôn là xứ sở mà các ông tin là hình mẫu chuẩn mực về các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tuyên truyền vận động.

Mỹ có luật nào cấm không cho phép ca ngợi, PR hình ảnh, nói tốt, phổ biến các quan điểm của các tổ chức Hồi giáo chống Mỹ, hoặc các tổ chức mà chính phủ Mỹ liệt vào danh sách khủng bố hay không? Không hề! Nhưng các ông qua Mỹ đi tuyên truyền như vậy thì sẽ bị FBI bắt ngay theo "đạo luật Ái Quốc" (Patriot Act), một đạo luật có nội dung rất mơ hồ, trừu tượng, chung chung, không hề cụ thể, rõ ràng, minh bạch, theo đó chính phủ Hoa Kỳ có quyền làm gần như bất kỳ chuyện gì để bảo đảm an ninh quốc phòng và chống các tổ chức mà chính phủ Mỹ coi là khủng bố, kể cả việc tống giam vào nhà tù Abu Ghraib, trại giam Guantánamo, hay hệ thống nhà tù bí mật Hoa Kỳ, chịu tra tấn nhục hình, cơ thể các ông bị đè ra thí nghiệm như loài chuột bạch, bị "tạm giam" vô thời hạn và không xét xử.

Chúng ta không có đủ thông tin để khẳng định, phán xét hay đi tới kết luận rằng các hành động cấm đoán, bắt bớ này của FBI và CIA là đúng hay sai. Nhưng việc này cho thấy rằng không đâu là có tự do hoàn toàn, mà chỉ là các quyền tự do có giới hạn, và luôn nằm trong những khuôn khổ nào đó, khuôn khổ pháp lý, khuôn khổ về đạo lý, văn hóa, quan niệm đạo đức, truyền thống, và có thể cả tôn giáo trong các quốc gia có quốc giáo, tùy theo tình hình thực tế của mỗi nước.

Chứ không thể cào bằng xuống hết thành "cấm với không cấm, bắt với không bắt". Các ông muốn phản đối VN nghe cho nó thuyết phục một chút thì các ông cần phải phân tích lý lẽ đầy đủ cho từng vấn đề một cách cụ thể, chi tiết, dựa trên nền tảng thực tiễn Việt Nam, thực tế xã hội Việt Nam, văn hóa Việt Nam, chứ không thể cái gì cũng cào bằng như vậy.

Luật Mỹ có điều nào cấm không được tổ chức điều tra độc lập, đưa ra các nhận định, kết luận cá nhân trái với quan điểm chính thức, chính thống của chính phủ Mỹ về sự kiện 911 "khủng bố" tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới hay không? Luật Mỹ có điều nào cấm không được tuyên truyền chống Cục Dự trữ Liên bang (FED) hay không? Đều không! Nhưng nếu các ông qua đây mà làm vậy thì các ông sẽ biết tự do ngôn luận kiểu Mỹ là thế nào.

Mỹ có những thực tiễn khác Việt Nam nên họ đã có những hạn chế, ngăn cấm, trấn áp ngôn luận bằng sức mạnh công quyền cho những vấn đề đó. Trong khi cùng các vấn đề đó thì ở VN lại thoải mái hơn. Tại VN các ông có thể nói thả ga về các quan điểm tuyên truyền của các thế lực Hồi giáo ở Trung Đông, Iraq, Áp, Libya, có thể nói thả cửa về CNTB, về nước Mỹ, trong đó có FED, nói xấu hay nói tốt cũng được. Các ông có thể nêu mọi nghi vấn về sự kiện Tòa tháp đôi mà không sợ bị ám sát.

Các ông nên thấy may mắn rằng ở VN các ông khi làm sai thì bị bắt và được ra tòa một cách quang minh chính đại theo pháp luật, chứ không phải bị bắn lén sau lưng như luật rừng chính trị Hoa Kỳ.

Nếu Mỹ mà có tự do ngôn luận thật sự như chính phủ Mỹ và những con vẹt sùng bái Mỹ tuyên truyền thì tôi đã viết những loạt bài nghiên cứu về FED và về sự thật vụ Tòa tháp đôi từ lâu. Đó là chủ đề có rất nhiều thông tin hay mà nhiều người thích tìm hiểu nghiên cứu thêm, nhưng "nhờ" tự do ngôn luận kiểu Mỹ nên dù cho tôi và các bạn người Mỹ có thêm mười lá gan nữa cũng không dám viết về các chủ đề nhạy cảm đó. Nhưng chúng tôi không vì đó mà thù ghét, chửi bới chính phủ Mỹ, chửi Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ, hay bảo rằng VN có tự do ngôn luận hơn Mỹ, nơi nào có thực tiễn của nơi đó, không thể áp đặt cách làm của nước này cho nước kia.

Tóm lược:

Có lẽ khuyết điểm lớn nhất và động cơ phản bội lớn nhất của bọn phản động cũng như các "nhân sĩ trí thức" chưa phản động, nửa phản động này chính là: Lòng ích kỷ!

Xưa cũng như nay. Ngày xưa, trong lúc quân dân miền Nam đang bị khủng bố, chặt đầu, máu đổ khắp nơi, trong lúc Phật giáo miền Nam đang bị đàn áp, các nhà cửa, chùa chiền không ngừng bị lùng sục, khủng bố. Vậy mà tại miền Bắc vẫn có những kẻ "nhân sĩ trí thức" nửa mùa, những kẻ vỗ ngực xưng tên ta đây là "sĩ phu Bắc Hà" càng quậy phá thêm lên, làm cho chính trị không yên, và đó cũng là một phần yếu tố vì sao mà Đảng chưa phát động đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Như vậy phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm cũng có trách nhiệm trong việc để cho quân dân miền Nam bị đổ máu, hy sinh, bị đàn áp, khủng bố.

Có kẻ là gián điệp cố ý quậy để làm hỗn loạn chính trị. Có kẻ ích kỷ chỉ muốn làm theo sở thích riêng của cá nhân mình, không cần biết đến ai khác, đến việc chung, đến miền Nam ruột thịt. Vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, cũng như cải cách ruộng đất, dưới tình cảnh tranh tối tranh sáng lúc đó thì khó tránh khỏi những trường hợp oan sai, nhưng không có nghĩa là các trường hợp khác cũng bị oan, không đúng người đúng tội.

Nói chung, tất cả những phần tử trên là người Việt nhưng không bao giờ đứng trên lập trường dân tộc. Họ là “những đứa con tự nhận mình trong sạch, đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân!”

Mà đáng xấu hổ hơn nữa cho bọn này là ngay cả những ngoại nhân chính gốc lại nói về sử Việt đúng đắn, trung thực và khách quan hơn bọn Việt gian nhiều.

Trong số những thành phần này, có không ít kẻ ở Mỹ, ở Tây, chẳng những nói về quê cha đất tổ của họ như một người ngoài xa lạ, mà họ còn chê bai, lườm nguýt đủ điều. Nghe họ nói cứ như là quê hương cái gì cũng dở tệ, còn họ nhờ sống ở Tây nên họ "ngon", họ tin rằng họ "ngon" hơn đồng bào, đồng hương của họ ở quê nhà.

Họ ỷ có vài mươi năm sống bên Mỹ, bên Tây thế là tự cho mình cái quyền phán xét bố tướng cứ như là bố đời, phách lối, tinh tướng, không coi ai ra gì, nghênh ngang, vênh váo. Họ ngu dốt không biết định luật thích nghi và tiến hóa, cũng như điểm xuất phát, hoàn cảnh phát triển, quá trình phát triển, tiến trình văn hóa, sự hình thành xã hội của mỗi nơi, mỗi quốc gia dân tộc. Và từ cái sự ngu dốt thiếu hiểu biết đó, họ chê bai, khó chịu, phản cảm với chính quê nhà, nơi chôn nhau cắt rốn của họ.

Họ sống trong những môi trường phát triển hơn Việt Nam mấy trăm năm, nhờ may mắn, nhờ hòa bình lâu dài, dân trí (văn minh đô thị), quan trí đều cao hơn VN gấp nhiều lần. Nhưng do tầm nhìn hẹp không qua khỏi kiếng cửa sổ McDonald, kiến thức nông cạn, nên họ không cần biết lịch sử hình thành mỗi nơi như thế nào, vì sao nơi này nghèo, do đâu nơi kia giàu. Họ chỉ biết nhận thức và phán xét theo những gì trước mắt trong hiện tại, theo kiểu "sâu sắc như khơi đựng trầu". Giống như một kẻ sống ở thành thị lâu năm rồi về quê lại chê bai chửi bới ầm lên và hỏi tại sao miền quê không phát triển như thành phố, chửi cha mắng mẹ của mình ở dưới quê.

Thay vì họ ăn nói, góp ý với thái độ cầu thị, xây dựng, khiêm tốn, thì họ lại có giọng điệu hống hách, vênh váo, có tính cách "từ trên phán xét xuống dưới", nói thẳng ra là rất ngu và láo. Chẳng những ngu về nội dung (như đã phân tích ở trên), mà còn ngu về cách thể hiện. Tự biến bản thân thành một thằng hề say xỉn khùng điên ba trợn dưới mắt mọi người.

Các bạn nên quay về với dân tộc tính, và khiêm tốn lại một chút. Đã háo danh thì đừng để bị ô danh thêm.

Thiếu Long