Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Vài nhận xét về “thành phần thứ ba” và “hòa hợp, hòa giải dân tộc”- phần 2





Ngô Vĩnh Long

PHẦN 2

3. Vài đóng góp trong thời kỳ 1973-1975



Ngoài việc thiết lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau” như điều khoản 12 đã được trích ở trên, Hiệp Định Paris còn công nhận hai thực thể chính trị ngang nhau ở miền Nam là chính quyền Sài Gòn và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời; và hai chính thể này phải tiến đến một giải pháp chính trị trong tình trạng có đầy đủ các quyền dân chủ và không có sự can thiệp của Mỹ (các điều khoản 1. 4. 8, 9 và 11.) Điều khoản 8c nói rõ rằng tất cả các tù chính trị đều phải được thả “trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình.” Nhưng đối với chính quyền Thiệu thả tù chính trị tức là giúp cho phong trào chống đối càng có thêm nhiều người tham gia. Nguyên văn điều khoản 11 như sau:

Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều này có nghĩa bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cho mình không theo chính quyền Sài Gòn hay Chính phủ Cách Lâm Thời đều có quyền đi truyền bá một chủ nghĩa trung lập. hay một chính phủ liên hiệp mà không bị đàn áp. Nhưng ba ngày trước khi ký Hiệp Định Paris Kissinger còn tuyên bố tại một cuộc họp báo rằng chính sách của chính phủ Mỹ là không “áp đặt một chính phủ liên hiệp hay một chính phủ liên hiệp trá hình trên nhân dân Việt Nam” (“imposing a coalition government or a disguised coalition government on the people of South Vietnam.”)[45] Trong khi đó thì vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973 Nixon tuyên bố trên các đài truyền thanh và truyền hình rằng Hoa Kỳ “vẫn tiếp tục công nhận chính phủ Cộng Hòa Việt Nam như là chính phủ chính danh độc nhất” (“continue to recognize the government of the Republic of Vietnam as the sole legitimate government of South Vietnam.”[46])

Được thể, Tổng thống Thiệu lập tức nhấn mạnh lại lập trường “bốn không.” Sau đó, trong một bài phỏng vấn đăng trong Vietnam Report (số 15 tháng 7 năm 1973), ông Thiệu nói rằng “bọn Việt Cộng muốn thiết lập trong vùng họ kiểm soát một chính quyền, một chính quyền thứ hai ở miền Nam” được nhiều sự ủng hộ quốc tế để dẫn đến một “chính phủ liên hiệp màu hồng.”[47] Do đó, ông Thiệu nói tiếp: “Thứ nhất, chúng ta phải ráng hết sức để Mặt Trận Giải Phóng không có thể thiết lập một quốc gia, một quốc gia thứ hai ở miền Nam.” (Nguyên văn tiếng Anh: “In the first place, we have to do our best so that the NLF cannot build itself into a state, a second state within the South.”) Và thứ hai là dùng mọi hình thức và điều kiện trong tay để ngăn cấm không cho một lực lượng thứ ba hình thành vì tất cả các nhân vật trong thành phần thứ ba đều thiên cộng và phản quốc. Cuối tháng 4 năm 1972, Hoàng Đức Nhã tuyên bố là nếu không phải quốc gia thì là Cộng sản, chứ không có thành phần thứ ba thứ tư gì hết.[48] Và Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn, chủ tịch hạ viện của Quốc hội, nói là “không có chuyện hòa giải, hòa hợp dân tộc” với các lực lượng chính trị đối lập.[49]

Để đối với “bốn không” của chính quyền Thiệu thì chính phủ miền Bắc đã đưa ra chủ trương “5 cấm” cho quân đội của họ ở miền Nam cũng như quân lính của Chính phủ Cách Mạng Lâm thời: không được tấn công địch, không được tấn công quân địch khi nó hành quân chiếm đất, không được bao vây đồn địch, không được pháo đồn địch, và không được xây ấp chiến đấu. Sau này, trong một bài viết đăng trên Tạp Chí Lịch Sử Quân Đội (số tháng 3 năm 1988), ông Lê Đức Thọ giải thích là một trong những lý do lúc đó chính phủ miền Bắc có chính sách dè dặt là vì Liên Xô đã giảm viện trợ cho Việt Nam và Trung Quốc đã cắt hết tất cả các chương trình viện trợ kinh tế. Nixon và Kissinger đã cho Thiệu biết trong cuộc viếng thăm Nhà Trắng vào tháng 3 năm 1973 là Liên Xô và Trung Quốc sẽ kiềm chế Hà Nội bằng cách giảm viện trợ.[50]

Trong khi phía cách mạng gặp phải những hạn chế kể trên thì chính quyền Sài Gòn được Mỹ cung cấp viện trợ quân sự cho đến mức mà, theo lời điều trần của Trung Tướng Peter Olenchuck trước Quốc hội Mỹ, thì các quân chủng của Mỹ đã bị thiếu hụt trang bị ngay trong nước và cả ở bên Âu Châu.[51] Do đó chính quyền Thiệu đã lập tức điều hành các cuộc “hành quân tràn ngập lãnh thổ” để chiếm các vùng dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời và tha hồ dội bom và nả pháo vào các vùng đó. Một báo cáo của Thượng Viện Mỹ tháng 6 năm 1973 cho biết quân đội Sài Gòn mỗi ngày bắn pháo 105 ly vào các vùng giải phóng ở các tỉnh miền Trung với tỷ lệ nhiều hơn là tổng số các đầu đạn đó được sản xuất mỗi ngày tại Mỹ.[52] Tờ Washington Post ngày 16 tháng 2 năm 1974 trích một báo cáo của Lầu Năm Góc (Pentagon) cho biết là quân đội Sài Gòn “nhắm mắt mà bắn” (“fire blindly”) vào các vùng của phía cách mạng vì họ thừa biết là sẽ được Mỹ tái cung cấp (“knew full well they would get all the replacement supplies they needed from the United States”). Ngoài việc nả pháo và dội khoảng 15 ngàn trái bom mỗi tháng, chính quyền Sài Gòn còn khoe là mỗi tháng có hàng ngàn cuộc hành quân để tái chiếm các vùng quê miền Nam. Một báo cáo của Tỉnh Ủy Long An sau này cho biết là sau khi Hiệp Định Paris được ký mỗi ngày mỗi làng trong tỉnh dưới sự kiểm soát của cách mạng đã bị dội bom 4 đến 5 lần và bị nả pháo trung bình khoảng một ngàn quả. Từ tháng 5 cho đến tháng 8 năm 1973 phía cách mạng phải đương đầu với 3300 (ba ngàn ba trăm) cuộc hành quân của địch và nhiều cuộc hành quân này đã gồm vài sư đoàn.[53] Nói chung, các vùng giải phóng đã bị thiệt hại nặng nề trong hai năm 1973-1974.

Trước tình hình nói trên, các cá nhân và các nhóm trong phong trào đô thị đã dựa vào các điều khoản được đảm bảo trong Hiệp Định Paris về các quyền tự do đã được trích ở trên cho các thành phần chính trị ở miền Nam, trong đó có “thành phần thứ ba”, để tranh đấu với chính quyền Sài Gòn trên nhiều lãnh vực. Một trong những lãnh vực đó là vấn đề trả tự do cho các người tù chính trị. Một ví dụ là “Ủy ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao tù miền Nam Việt Nam” đã cho ra đời tờ Tin Lao Tù (bằng ronéo) và tại Mỹ bản tin này đã được Vietnam Resource Center thường xuyên dịch ra và đưa cho các báo chí Mỹ cũng như nhiều hạ, thượng nghị sĩ Mỹ. Tháng Giêng năm 1972 Ngô Công Đức, lúc đó đang ở Stockholm (Thụy Điển), tung ra một bài khá chi tiết về chế độ lao tù ở miền Nam và con số khoảng 200 ngàn tù chính trị tại các nhà tù lớn như Chí Hòa, Phú Quốc, Thủ Đức, Tân Hiệp và Côn Sơn cũng như các trại giam ở các tỉnh. Vietnam Resource Center đã dịch và chú thích tài liệu này và gởi đến cho các báo cũng như đưa cho các tổ chức tại Mỹ để họ gặp các đại diện của họ ở Quốc hội làm “lobby.”

Một kết quả là giữa tháng 3 năm 1973 Jerry Tinker, một trợ lý của Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy, đã hướng dẫn một phái đoàn điều tra của Quốc hội Mỹ sang Việt Nam. Phái đoàn đã gặp “Ủy Ban Vận động Chế Độ Lao tù miền Nam Việt Nam” ngày 18 tháng 3 và hứa sẽ phổ biến tin tức về chế độ lao tù và tình trạng của các tù nhân chính trị cho nhân dân Mỹ biết. Trong một bài diễn văn tại thượng viện Thượng Nghị Sĩ Kennedy cho biết là chính quyền Sài Gòn đã thay đổi các hồ sơ tù nhân chính trị thành “thường phạm” (common criminals). Kennedy trích một báo cáo của Đại Sứ Quán Mỹ tại Sài Gòn cho ủy ban do ông làm chủ tịch rằng trước và sau Hiệp Định Paris được ký chính quyền Thiệu đã thay đổi hồ sơ của các tù chính trị thành thường phạm bằng cách nói là họ đã bị tù vì đã có vi phạm về thẻ căn cước hay vì trốn lính.[54] Thượng Nghị Sĩ Kennedy cho biết là trong khi Đại Sứ Quán của Mỹ ở Sài Gòn và Bộ Ngoại Giao của Mỹ công nhận là có tù chính trị và họ có bị tra tấn, hai cơ quan này nói chuyện tù nhân là chuyện nội bộ của Nam Việt Nam. Thương Nghị Sĩ Kennedy nói rằng ông không hiểu nổi lý luận này vì chính phủ Mỹ vẫn chi tiền cho hệ thống lao tù ở Việt Nam và vẫn đào tạo cảnh sát và các nhân viên tra tấn trong tù. Theo Kennedy, tài liệu của chương trình viện trợ cho hệ thống lao tù ở Việt Nam mà AID (Agency for International Development) nộp cho ủy ban của ông tại Thượng Viện cho biết là trong năm 1973 Mỹ đã chi tiền để thiết lập 329 trại giam (“detention centers”) và định sẽ dùng thêm 12,2 triệu USD nữa cho “Fiscal Year 1974” (“Năm Tài Chính,” bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 1973 cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1974) cho hệ thống lao tù ở Nam Việt Nam. Kennedy lưu ý là số tiền chính phủ Hoa Kỳ thông báo cho ủy ban của ông chỉ là một số tiền rất nhỏ so với tổng số được chi tiêu cho việc đàn áp của chính quyền Sài Gòn trong hệ thống nhà tù. Kennedy nói tiếp là việc che đậy và tráo trở của chính quyền Mỹ đối với việc tiếp tục tài trợ cho hệ thống cảnh sát và lao tù tại Nam Việt Nam là việc không thể hiểu được. (Nguyên văn lời nói của Kennedy: “The administration’s cover-up and deception on continuing support of the police and prison system in South Vietnam defies understanding.”)[55]

Ngoài vấn đề tù chính trị các cá nhân và nhóm trong phong trào đô thị miền Nam cũng đã dùng các quyền “tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống” được bảo đảm trong điều khoản 11 của Hiệp Định Paris để tranh đấu cho những người trong các “trại tị nạn Cộng sản” và những người tị nạn chiến tranh đang sinh sống chung quanh các thành phố được trở về quê quán. Theo một nghiên cứu của thượng viện Mỹ thì đến năm 1972 ở miền Nam đã có 10 triệu người tị nan trong tổng số dân là 18,2 triệu.[56] Năm ngày trước khi Hiệp Định Paris được ký chính quyền Thiệu đã cho đăng một số công bố ngày 22 tháng Giêng năm 1973 trên tờ Tin Sống, cơ quan ngôn luận bán chính thức của chính quyền, rằng ai xúi dục dân chúng ra khỏi vùng kiểm soát của chính quyền sẽ bị bắt và bị xử tử tại chỗ.

Một vài cá nhân trong phong trào đô thị vội báo cho các ký giả nổi tiếng của các tờ báo lớn tại Mỹ về việc này và vận động họ sang Việt Nam để điều tra. Daniel Sutherland, lúc đó đang ở Hồng Công, lập tức sang miền Nam đi điền dã và sau đó đã viết trên tờ Christian Science Monitor ngày 29 tháng Giêng năm 1973 là không những chính quyền Sài Gòn cấm dân chúng trở về nông thôn mà tại nhiều nơi còn cấm họ không được làm việc ngoài đồng ruộng cách xa làng (“being prohibited from working in the outlying fields”) vì sợ là những vùng này sẽ rơi vào tay Cộng sản. Đến giữa tháng 3 năm 1973 Sutherland lại viết một bài cho biết là chính quyền Sài Gòn đã dùng mọi cách để cấm các người tị nạn chiến tranh trở về quê, kể cả việc bắt họ đứng chụp hình dưới lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng để vu khống họ nếu họ bỏ đi.[57] Frances FitzGerald, tác giả cuốn Fire in the Lake đã được giải Pulitzer, sang Việt Nam viết một loạt bài cho tờ New York Times, đã viết trong số ngày 4 tháng 5 năm 1973 rằng chính quyền Sài Gòn đã tịch thu thẻ căn cước của những người trong các trại tị nạn và dọa sẽ bắt họ và dùng bạo lực đối với họ nếu họ bỏ đi. Cảnh sát và lính phòng biên đã bắt những người đi chợ, nói rằng họ gánh đồ cho Việt Cộng và trong những trường hợp như thế này không những hành trang của các người nông dân bị tịch thu mà họ còn bị tra khảo.[58]

Ngoài việc cấm không cho dân tị nạn trở về quê, tờ New York Times ngày 22 tháng 3 năm 1973 cho biết rằng chính quyền Sài Gòn tuyên bố là họ đã chuyển 100 ngàn người tị nạn trong số 660 ngàn ở một số tỉnh miền Trung về khu vực phía bắc của thành phố Sài Gòn. Đây là chương trình di dân mà cơ quan của Mỹ gọi là “Cơ quan Điều phối Dân sự Vụ và Phát triển Nông thôn” (Civil Operations and Rural Development Support, CORDS) cùng chính quyền Sài Gòn đã thiết lập. Trong kế hoạch năm 1973 chi phí cho 600 ngàn người bị di chuyển là 14 USD một người. Nhưng như các báo Sài Gòn cho biết thì cuối cùng người dân không được hưởng gì cả vì tham nhũng. Tờ Hòa Bình số ngày 6 tháng 6 năm 1973, chẳng hạn, cho biết rằng chỉ ở một trại tị nạn ở Đà Nẵng thôi thì khoảng nửa triệu đô la đã bị lấy mất. Các báo Sài Gòn đưa tin, gần như hằng ngày, rằng một phần do tham nhũng và một phần do thiếu lương thực ở các tỉnh miền Trung nạn đói đã hoành hành dữ dội và các báo này thường có những bài rất chi tiết về hoàn cảnh bi đát của những người trong các trại tị nạn. Các báo lớn tại Mỹ cũng đã có những bài về vấn đề này, trong đó cho biết là vào tháng 9 năm 1973 đã có những cuộc biểu tình của dân tị nạn tại ba tỉnh miền Trung (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam) và tỉnh Long Khánh đòi được trả tự do.[59] Qua đến đầu năm 1974 các báo Sài Gòn đã gắn việc thiếu đói ở các tỉnh với sự tham nhũng của các quan chức chính quyền Sài Gòn, trong đó có Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Xã Hội Phan Quang Đán (người mà được chính phủ Mỹ rất tin cậy và nói là không có thể bị tham nhũng được).[60]

Nói chung là trong giai đoạn 1973-1975 nhiều cá nhân và nhóm tại miền Nam đã dùng Hiệp Định Paris và việc không thi hành các điều khoản trong hiệp định ấy để đấu tranh với chính quyền Sài Gòn và Mỹ trên nhiều lãnh vực. Nhiều “phong trào,” “mặt trận,” “lực lượng,” “ủy ban,” và “nhóm” đã được sáng lập với mục đích làm suy yếu chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Sau đây là tên của một vài tổ chức được sáng lập từ cuối năm 1973:

Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống. (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).
Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.
Mặt trận Nhân dân Cứu đói. (Tổ chức lớn nhất ở miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)
Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải. (Dương Văn Minh sáng lập).
Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).
Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris. (Ngô Bá Thành sáng lập).
Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản. (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).
Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.
Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).
Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.
Các tổ chức này có thể là “năm cha bảy mẹ” và trong đó có một số “lực lượng không có lực lượng” (như có người đã mỉa mai), hay là “rất đa dạng” như báo Đại Đoàn Kết trích bà Nguyễn Thị Bình nói phía trên. Nhưng tất cả đều chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và các chính sách của Mỹ tại Việt Nam.[61] Những cá nhân trong các tổ chức này, như Tướng Dương Văn Minh, đã thay đổi lập trường chính trị của họ từ chống Cộng đến chống Thiệu và chống Mỹ vì hoàn cảnh bi đát của đất nước và dân tộc. Đầu tháng 10 năm 1974, trong một cuộc phỏng vấn với tuần san Far Eastern Economic Review, Tướng Minh tuyên bố: “Chiến tranh đã kéo dài quá lâu. Nhân dân đã chịu khổ đến hết mức rồi. Do đó, chiến tranh ý thức hệ đã mất hết ý nghĩa. Vấn đề khẩn cấp không còn là sự chiến thắng của lập trường chính trị này hay ý thức hệ kia mà là sự sống còn của dân tộc.”[62] Lẽ dĩ nhiên là những cá nhân và nhóm bao quanh ông Minh trong những năm 1973-1975 có lập trường chính trị khác nhau, có các cá nhân “tả khuynh” như Ngô Công Đức và Lý Quí Chung và “hữu khuynh” như Thượng nghị sĩ Vũ Văn Mẫu và Dương Minh Đức (con trai ông Dương Văn Minh.) Nhưng đây là vấn đề khá “phức tạp”. Khó có thể xác định lập trường chính trị thật sự của các cá nhân dựa trên những lời tuyên bố của họ lúc này hay lúc khác vì có thể trong thời điểm đó họ đang cần vận động dư luận về một vấn đề nào đó, hay một tổ chức chính trị đặc biệt nào đó.

Ông Dương Văn Minh có lập một “văn phòng chính trị” tại Sài Gòn do Dương Minh Đức và một số nhân vật khác điều khiển. Dương Minh Đức thường chạy sang Pháp, và sau đó sang Mỹ, nói là đại diện bố để gọi là trao đổi ý kiến với một vài nhóm chính trị.[63] Tháng Giêng năm 1975 Ngô Công Đức được mời sang Mỹ để gặp các tờ báo Mỹ và các chính trị gia Mỹ để nói về chế độ lao tù ở miền Nam và để dự “The Assembly to Save the Peace Agreement” tại Hoa Thịnh Đốn. Sau cuộc họp này, mấy ngàn người đã đi đến văn phòng của các hạ, thượng nghị sĩ để đòi họ cắt viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Lúc đó chính quyền Sài Gòn và Nhà Trắng đòi Quốc hội Mỹ chi thêm 300 triệu USD quân viện cho Sài Gòn. Ngô Công Đức được mời đi gặp các hạ và thượng nghị sĩ và đã yêu cầu họ là không nên viện trợ cho chính quyền Sài Gòn để tiếp tục chiến tranh nữa.[64] Dương Minh Đức nhất định tháp tùng Ngô Công Đức sang Mỹ mặc dầu không được ai mời để mong kềm kẹp hoạt động của Ngô Công Đức. Nhưng trước cuộc họp ở Hoa Thịnh Đốn Ngô Công Đức quyết định mời Dương Minh Đức trở về Pháp.[65]

Ông Vũ Văn Mẫu cho mình là người “quốc gia,” có lẽ vì ông là thượng nghị sĩ của chính quyền Sài Gòn hay là đại diện của nhóm Phật giáo Ấn Quang. Ông Mẫu đã có những tuyên bố “lúc này lúc kia.” Khi ông công bố “Lực lượng Hòa hợp Dân tộc” đầu tháng 9 năm 1974 thì ông nói mục đích chính tổ chức này là tạo một “bầu không khí hòa hoãn” trong nước và ngoài nước hòng để chấm dứt chiến tranh.[66] Tháng 9 năm 1974 ông tuyên bố rằng dân chúng miền Nam có thể sống trong đoàn kết và không có một lực lượng nào được khống chế lực lượng khác và tự gắn cho mình danh nghĩa đại diện cho tất cả.[67] Hai tuyên bố trên rõ ràng là tiến bộ hay “tả khuynh” hơn tuyên bố cùng tháng 9 này của ông Dương Văn Minh là muốn lãnh đạo các lực lượng thứ ba bằng cách kết hợp tất cả các lực lượng chống chính quyền Thiệu vì tự do báo chí, vì hòa bình và vì một chính quyền trong sạch.[68] Sang năm 1975 thì có vẻ ông Mẫu “hữu khuynh” và “quốc gia” hơn trong như trong hai ví dụ sau đây: Cuối tháng 3 năm 1975 Vũ Văn Mẫu đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức để cho “những lực lượng quốc gia thật sự” có thể hình thành.[69] Ngày sau đó ông Mẫu tố cáo ông Thiệu là “đã đánh mất trong dưới hai tuần nhiều đất đai và nhiều dân số hơn hai mươi năm trước đó.”[70] Nhưng vài ngày sau đó, khi gặp một phái đoàn Quốc hội Mỹ sang Sài Gòn tìm hiểu tình hình thì ông Mẫu đã yêu cầu họ cắt viện trợ cho chính quyền Thiệu.[71]

Không những các cá nhân “tả khuynh” và “hữu khuynh” chung quanh Dương Văn Minh đã gặp nhau trên vấn đề Thiệu phải ra đi và Mỹ phải cắt viện trợ như trên, những nhân vật lúc trước cực kỳ chống Cộng như Linh mục Nguyễn Quang Lãm đã đi đến nhận định rằng chính quyền Sài Gòn đã thối nát đến tận xương tủy và dẫu có thêm 3000 tỷ thay vì 300 triệu Mỹ kim thì cũng không có thể cứu vãn được nữa. Linh mục Lãm viết tiếp là càng có thêm nhiều tiền càng sụp đổ mau hơn.[72] Trước tình thế trên, Mỹ không có lựa chọn nào khác ngoài việc bắt Thiệu từ chức tối ngày 21 tháng 4 năm 1975 và mời ông Trần Văn Hương thay thế. Ông Hương là ứng cử viên phó tổng thống trong cuộc “độc diễn” của ông Thiệu năm 1971. Ông Hương yêu cầu Quốc hội bổ nhiệm ông Dương Văn Minh làm tổng thống. Lưỡng viện và các phe phái tranh nhau ghế ngồi trong chính quyền mới cho đến ngày 27 mới thông qua yêu cầu của ông Hương; và ngày 28, trong lúc 14 sư đoàn Quân đội Nhân Dân đang tiến vào Sài Gòn thì ông Dương Văn Minh mới chính thức thành tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vì “tử thủ” như một số người kêu gọi hay chịu theo áp lực của Đại sứ Jean-Marie Mérillon của Pháp đòi thương lượng với phía cách mạng vào giờ chót để lập một chính phủ liên hiệp, ông Dương Văn Minh quyết định đầu hàng vô điều kiện. Trong khi ngồi chờ đại diện phía cách mạng đến gặp để nhận đầu hàng, ông Minh nói với một ký giả của hãng thông tấn Pháp rằng: “Sinh mạng con người, sinh mạng người Việt, sinh mạng người Pháp, phải được cứu. Bảo đại sứ Pháp là anh đã gặp tôi ở đây.”[73]



4. Thay lời kết



Mặc dầu quyết định đầu hàng của ông Dương Văn Minh đã giúp cứu được bao sinh mạng, trình bày ở trên cho thấy các thành phần trong phong trào đấu tranh đô thị đã có những “đóng góp nhất định” trong giai đoạn từ 1968-1975 như ông Võ Văn Kiệt và bà Nguyễn Thị Bình đã khẳng định. Các cá nhân và tổ chức đã giúp tranh thủ dư luận quần chúng tại Việt Nam và trên thế giới chống các chính sách chiến tranh của chính quyền Sài Gòn và chính phủ Mỹ. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và chính phủ Mỹ không muốn có một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần ở miền Nam vì họ sợ thua trong một cuộc đấu tranh chính trị. Họ đã sử dụng vũ lực và nhiều hình thức đàn áp khác với hy vọng triệt tiêu cách mạng và phong trào đối kháng tại đô thị. Nhưng, ngược lại, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ cho nên không còn điều kiện thành lập một chính phủ liên hiệp gồm “ba thành phần” như Hiệp Định Paris đã qui định và như chính phủ miền Bắc cũng như Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời đã kêu gọi. Không có một chính phủ liên hiệp thì không có “thành phần thứ ba” trong ngoặc kép như báo Đại Đoàn Kết đã đề cập đến ở đầu bài này. Và không có “thành phần thứ ba” thì không có chuyện cái thành phần không được hình thành này đóng vai trò hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Tuy nhiên, trong khi chiến tranh chưa kết thúc và miền Nam có hai lực lượng quân sự và chính trị ̶ Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời và Chính quyền Sài Gòn ̶ thì người ta có thể gọi chung các tổ chức và các nhóm không thuộc hai chính phủ này là lực lượng thứ ba. Trong thời gian từ năm 1968, tức là thời gian chiến tranh cao độ dẫn đến phân cực ghê gớm, các nhóm “rất đa dạng” lúc đó đã cùng nhau chống chính quyền Sài Gòn và các chính sách của Mỹ và tranh đấu cho các quyền con người, cho hòa bình, và cho hòa hợp, hòa giải dân tộc. Các hoạt động của các cá nhân trong phong trào đô thị lúc ấy đã có những “đóng góp nhất định” cho “ngày chiến thắng” mà tít báo Đại Đoàn Kết trích đầu bài này đã viết rất đúng. Nhưng đã chiến thắng, đặc biệt qua hình thức quân sự, thì việc hòa hợp, hòa giải là của phe chiến thắng chứ không phải của các nhóm tranh đấu trong thời kỳ còn chiến tranh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 chính phủ mới đã ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị được thành lập dưới chế độ cũ.[74] Các tổ chức có thể gọi là “xã hội công dân” như “Phong trào Phụ nữ Đòi Quyền Sống” tự giải thể vì, như bà Ngô Bá Thành đã tuyên bố, sau chiến tranh nó không còn lý do để tồn tại nữa.[75] Tất cả các nhóm phụ nữ khác được sát nhập vào “Hội Phụ Nữ Giải Phóng,” các tổ chức công nhân được sát nhập vào các “Ủy Ban Cách Mạng Nhân Dân,” và các tổ chức tôn giáo được sát nhập vào các tổ chức tôn giáo của Mặt Trận Giải Phóng.

Việc giải tán và tự giải thể kể trên lúc đó không có một lời phản đối nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã đương đầu rất gay gắt với chế độ cũ mà không hề tỏ ra sợ sệt gì cả. Vậy không rõ tại sao, như bà Nguyễn Thị Bình thừa nhận ở trên rằng, 36 năm sau ngày chiến thắng, còn “nhiều người ngại nói đến lực lượng thứ ba”? Sợ kể công họ ra là mất hào quang chiến thắng cho mình chăng? Hay sợ không còn được độc quyền chia chiến lợi phẩm? Chiến tranh càng lâu dài càng tạo phân cực ngày càng lớn trong xã hội. Do đó, muốn hàn gắn vết thương chiến tranh và tạo điều kiện cho việc hòa hợp, hòa giải dân tộc thì người chiến thắng thường nên tỏ ra hào hiệp. Ít nhất thì cũng nên mở cửa cho tương lai bằng xét lại quá khứ (chứ không phải khép kín) một cách trung thực và công bằng. Không có công bằng khó có thể có một xã hội dân chủ và hài hòa.

"Vài nhận xét về “thành phần thứ ba” và “hòa hợp, hòa giải dân tộc”





Ngô Vĩnh Long


PHẦN 1


Báo Đại Đoàn Kết, cơ quan trung ương của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, trong bài với tựa đề “Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/2011): Đóng góp của ‘thành phần thứ ba’ cho ngày chiến thắng” có viết như sau:[1]

Nhắc lại sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, cũng như con đường tất yếu để đi đến hòa hợp, hòa giải dân tộc, ông Kiệt cho rằng: “Theo tôi, đã đến lúc ta phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong nước hay ở bên ngoài. Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ .… Sự xuất hiện trở lại trên chính trường của ông Dương Văn Minh chính là kết quả hoạt động tích cực của lực lượng thứ ba, lực lượng những người đấu tranh với Mỹ - Thiệu ngay trong lòng chế độ Sài Gòn bấy giờ.”

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thẳng thắn thừa nhận: “Nhiều người ngại nói đến lực lượng thứ ba, nhưng theo tôi, lực lượng này đã có những đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta”. Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch là một liên minh rộng lớn đại diện cho nhiều tổ chức, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, các cá nhân yêu nước thuộc nhiều thành phần trong xã hội trong và ngoài nước, sĩ quan và viên chức kể cả cấp cao của chính quyền Ngô Đình Diệm. Với chính sách ngoại giao “hòa bình và trung lập”, Mặt trận đã tranh thủ được đông đảo các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, bao gồm cả phong trào phản chiến ở Mỹ, kể cả những người khác xa về chính kiến, tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn chưa từng có, đoàn kết với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nước, châu Á, Phi, Mỹ La-tinh đã chính thức công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam về mặt chính phủ. Cách mạng miền Nam ngày càng thắng lớn, Mặt trận càng có điều kiện mở rộng, tập hợp thêm lực lượng. Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời do Luật sư Trịnh Đình Thảo, nhà trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam làm Chủ tịch. Thắng lợi mang tính chiến lược của cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 buộc đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đại diện cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta ở miền Nam. Với sự lớn mạnh về mọi mặt của cách mạng miền Nam, ngày 06-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, kịp thời phục vụ cuộc đấu tranh về ngoại giao trên bàn đàm phán bốn bên, đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27-01-1973. Ký Hiệp định Paris, Chính phủ Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân ta ở miền Nam, rút quân về nước, công nhận tình hình thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị. Theo bà Nguyễn Thị Bình, trong thời gian đàm phán ký kết Hiệp định Paris 1973, nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành, có người và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có người và nhóm không có liên hệ gì với Mặt trận, nhưng hoạt động có xu hướng theo mục tiêu đấu tranh của Mặt trận, đó chính là lực lượng thứ ba. Bà Ngô Bá Thành, Luật sư Trần Ngọc Liểng, một số người trong nhóm tướng Dương Văn Minh... là một trong những lực lượng đó.

Những năm cuối thập kỷ 60 và đầu 70 của thế kỷ trước người ta chú trọng đến vai trò của lực lượng thứ ba trong việc “hòa hợp, hòa giải dân tộc.” Sau đó tôi sẽ đưa ra một vài dẫn chứng tại sao chính quyền Sài Gòn đã ra sức tấn công các cá nhân và các nhóm trong lực lượng thứ ba sau khi Hiệp Định Paris được ký kết cuối tháng Giêng năm 1973 và hậu quả là gì sau này đối với vấn đề đoàn kết dân tộc và việc xây dựng một xã hội dân chủ, hài hòa.



1. Vài lời về tên gọi



Trước hết xin nói qua về tên gọi. Cái tên gọi “lực lượng thứ ba” (tiếng Anh là “Third Force”) đã có từ những năm đầu của thập kỷ 60 và đã được sử dụng ở nước ngoài cho đến những năm đầu thập kỷ 70. Jean-Claude Pomonti, một phóng viên của báo Le Monde bên Pháp đã viết là tên gọi “lực lượng thứ ba” được dùng năm 1960 sau khi một nhóm 18 chính khách chống chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chống Cộng, họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn và đưa ra một bản tuyên ngôn đòi “giải phóng” và đòi ông Diệm chấm dứt chế độ gia đình trị.[2] André Menras, một giáo viên người Pháp có tham gia phong trào đô thị ở Sài Gòn, nói rằng một lực lượng thứ ba là “một phong trào hòa bình đã hình thành và lớn mạnh từ năm 1963 trong cuộc đấu tranh chống các chính sách của Ngô Đình Diệm.”[3] Theo một số nhân vật trong phong trào phản chiến của Mỹ thì tên gọi “lực lượng thứ ba” hay “giải pháp thứ ba” (Third Solution) đã được nhiều người trong phong trào đô thị miền Nam dùng từ năm 1965.[4]

Tên gọi “thành phần thứ ba” thì theo ký giả Jacques Decornoy của báo Le Monde đã xuất hiện vào mùa thu năm 1969 với một nhóm người chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và đi theo hướng hòa giải dân tộc mà ông Dương Văn Minh được coi là đại diện. Decornoy dùng từ “troisième composante” (tức “thành phần thứ ba”).[5] Theo hồi ký của Nguyễn Hữu Thái, người đã giúp phần tác động ông Dương Văn Minh đơn phương ngừng bắn và dẫn ông Dương Văn Minh đến Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 để ghi âm và phát lời tuyên bố đầu hàng, thì:

Trong lúc này [từ cuối năm 1968] tôi tiếp xúc được với những bạn bè đối lập chính quyền và bắt đầu viết cho những tờ báo có khuynh hướng hòa bình, hòa giải dân tộc. Họ là một nhóm dân biểu Quốc hội Sài Gòn chống đối lại tướng Nguyễn Văn Thiệu, ngả theo đường lối hòa giải dân tộc của tướng Dương Văn Minh, trong số họ có người móc nối phối hợp hành động với phía Mặt trận Giải phóng. Cơ quan ngôn luận của họ là tờ báo Tin sáng, nơi quy tụ hàng chục cây bút chống đối chế độ và tôi trở thành một trong các cây bút chủ lực.[6]

Nguyễn Hữu Thái không có đề cập gì đến việc nhóm trên có tự gọi mình là “thành phần thứ ba” hay không, nhưng hai trang sau đó ông viết tiếp:

Năm 1971 có bầu cử Quốc hội Sài Gòn, Mặt trận Giải phóng bí mật đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình đứng giữa, chuẩn bị cho 'Thành phần thứ ba'. Hội nghị Paris về vấn đề Việt Nam chưa ngã ngũ nhưng đang bàn đến việc lập chính phủ 3 thành phần, trong đó có thành phần đứng giữa làm trung gian hòa giải trong chính phủ liên hiệp tương lai.[7]

Tên gọi “thành phần thứ ba” được bắt đầu dùng là do đề nghị của chính phủ miền Bắc tại hòa đàm Paris về thành lập một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần, nhưng không phải để áp dụng cho các nhóm trong phong trào đô thị vận động cho hòa bình, hòa hợp và hòa giải. Từ năm 1968 các tập san ngoại ngữ miền Bắc và của Mặt Trận Giải Phóng nói rất nhiều đến phong trào đô thị miền Nam, nhưng không dùng tên “thành phần thứ ba” hay “lực lượng thứ ba” cho mãi đến năm 1972. Ví dụ, Vietnam Courier (một nguyệt san của Bộ Ngoại Giao) trong số tháng 12 năm 1972 viết: “Tại Sài Gòn một lực lượng thứ ba đã hình thành như là một thách thức đối với tên độc tài sừng thiếc [tức ông Nguyễn Văn Thiệu], người mà vẫn cứ phủ nhận sự tồn tại của lực lượng này.”[8]

Trong suốt thời gian đàm phán, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhất quyết không đồng ý có một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần như phía cách mạng đề nghị. Tuy nhiên, cuối cùng, khi “Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh Lập Lại Hòa Bình ở Việt Nam” được ký ở Paris cuối tháng Giêng năm 1973 thì điều 12 của Hiệp Định này có nói đến việc thiết lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau”:

a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập và dân chủ.

b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.

Do đó, các cá nhân và các lực lượng không thuộc chính quyền Sài Gòn hay Chính phủ Cách mạng Lâm thời được coi là “thành phần thứ ba.” Tuy rằng danh từ “thành phần” (tiếng Anh là “segment” hay “component”) được dùng trong Hiệp Định Paris và một số văn bản, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn thường gọi các thành phần không theo bên này hoặc bên kia ở miền Nam là “lực lượng thứ ba” và đề cao vai trò của chúng mãi đến đầu năm 1975 trong việc hòa giải, hòa hợp và việc thành lập một chính phủ liên hiệp. Sau đây là lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo nổi tiếng Pháp tên Jean Lacouture được đăng trên tập san Vietnamese Studies do Nguyễn Khắc Viện chủ biên: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này. Vì chính trị là nghệ thuật để tạo ra cái gì có thể thực hiện được, chúng tôi đã đi đến kết luận đây là phương pháp độc nhất có thể dẫn đến hòa bình. Tôi có thể nói đây là một giải pháp cơ may. Ngoài ra không có giải pháp nào khác, chỉ có chiến tranh.”[9]

Lời nói trên của ông Phạm Văn Đồng cho thấy rõ là chính phủ miền Bắc lúc đó coi trọng lực lượng thứ ba vì họ muốn có một giải pháp hòa bình theo Hiệp Định Paris và không muốn tiếp tục có chiến tranh. Nhưng, như mọi người đã biết, điều này không thành và cuối cùng giải pháp quân sự đã được dùng để giải phóng miền Nam. Hậu quả ra sao đối với lực lượng thứ ba và vấn đề hòa giải, hòa hợp sẽ được đề cập đến ở phần cuối của bài này. Dưới đây tôi sẽ trình bày sự phát triển của vài nhóm trong thành phần này cũng như một số đóng góp của các cá nhân trong đó vào giai đoạn 1968 đến 1975.



2. Một số đóng góp trong giai đoạn 1968-1972



Như báo Đại Đoàn Kết đề cập đến ở trên, năm 1968 là cái mốc lớn. Tết Mậu Thân chứng minh cho dân chúng Mỹ cũng như cho nhiều người Việt Nam trong các thành phố sự phá sản của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trước Tết Mậu Thân các chính khách Mỹ, kể cả Tổng Thống Lyndon B. Johnson, thường lên truyền hình nói rằng họ đến Việt Nam là để giúp đỡ dân chúng Việt Nam xây dựng một đất nước dân chủ và thịnh vượng. Họ nói rằng phần lớn người Việt hiểu ý tốt của họ nên ủng hộ chính phủ Sài Gòn và vì thế “bọn Việt Cộng” chỉ có thể kiểm soát một phần dân chúng nông thôn ban đêm qua các “hoạt động khủng bố” (terrorist activities) mà thôi. Nhiều người Mỹ lúc đó tin những lời tuyên truyền như thế, một phần vì số đông theo đạo Thiên chúa và chống Cộng sản. Thêm vào đó là phần lớn người Mỹ ở trong các thành thị cho nên khó thông cảm với nông dân Việt Nam mặc áo bà ba đen hay quần xà lỏn và đi chân đất, mà các phương tiện truyền thông của Mỹ thường gọi chung là “Việt Cộng” khi họ bị giết chóc hay tàn sát. Nhưng khi quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn thả bom tàn phá hàng loạt các thành thị miền Nam trong Tết Mậu Thân thì hàng triệu người xuống đường biểu tình ở Hoa Thịnh Đốn (cũng như một số thành phố lớn khác) đòi chính phủ Mỹ phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong những người biểu tình này có sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ và cuối tháng 2 năm 1968 một số người này đã thâu thập được 16 chữ ký cho một bản tuyên bố đòi chính phủ Mỹ và các nước đồng minh phải rút hết quân đội của họ ra khỏi Việt Nam để người Việt Nam có thể quyết định tương lai của mình. Nhóm sinh viên này đã đến gặp đại sứ của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Thịnh Đốn và các quan chức tại Nhà Trắng ngày 2 tháng 3 để chuyển bản tuyên bố. Trưa hôm đó các đại diện của nhóm có cuộc họp báo tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (the National Press Club).[10] Sau đó một số sinh viên này càng ngày càng hoạt động tích cực và đã giúp các nhóm trong phong trào chống chiến tranh của Mỹ tìm hiểu, móc nối, và kết hợp hoạt động nhiều hơn với các nhóm trong phong trào đô thị ở miền Nam.

Tại Việt Nam vào tháng 2 và tháng 3 năm 1968 trong những thành phố mà Mặt Trận Giải Phóng (kết hợp với quân đội của miền Bắc ở vài nơi, như Huế) chiếm đóng, hàng loạt các tổ chức địa phương tự gọi mình là “Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình” ra đời. Riêng tại Huế, liên minh này đã trụ được đến 3 tuần.[11] Các liên minh này bắt nguồn từ những lực lượng trong phong trào đô thị trước đó chứ không phải tự phát trong một thời gian ngắn. Sau khi quân giải phóng rút khỏi các thành phố thì các tổ chức vừa thành lập nói trên nhập lại thành “Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam” trong một cuộc họp ngày 20-21 tháng 4 năm 1968 tại một địa điểm gần Sài Gòn. Những người tham dự gồm nhiều trí thức, học giả, sinh viên, nhà văn, nhà báo, thương gia, công chức, v.v., đại diện cho các thành phần xã hội, chính trị ở các thành phố miền Nam. Bốn mươi người đã được bầu vào Ủy Ban Trung Ương của Liên Minh, nhưng chỉ có tên của 10 người được công bố, vì những người kia thì hoặc là có địa vị cao trong chính quyền Sài Gòn, hoặc có những vị trí quan trọng trong các thành phố nên sự an toàn của họ cần được bảo vệ.[12] Hầu hết những người có tên được công bố là những người gia đình khá giả ở miền Nam; họ có bằng cấp cao và phần lớn đã du học ở các đại học bên Pháp. Chủ tịch Liên Minh là ông Trịnh Đình Thảo, một luật sư nổi tiếng ở Sài Gòn, xuất thân từ một gia đình địa chủ giàu có ở miền Nam. Ông đã được đi Pháp học và vợ ông là một thương gia. Ông Tôn Thất Dương Kỵ, tổng thư ký Ủy ban trung ương Liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình, nguyên là giáo sư sử học tại đại học Huế và đại học Sài Gòn. Bà Dương Quỳnh Hoa, phó tổng thư ký, là một bác sĩ sản khoa được đào tạo ở Pháp. Bà này đã có liên hệ với đảng Cộng sản Pháp khi còn đi học. Nhưng không người nào trong 40 người trong ủy ban trung ương của Liên Minh là đảng viên của đảng Cộng sản (đảng Lao Động hay các nhánh khác) ở miền Nam.[13] Trái lại, theo Wilfred Burchett (một nhà báo Úc có quan hệ mật thiết với chính phủ miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng) và Douglas Pike (tình báo CIA chuyên về phong trào Cộng sản tại Việt Nam), các thành viên của Liên Minh luôn luôn phủ nhận là họ có quan hệ tổ chức gì với Mặt Trận Giải Phóng cả, mặc dầu họ chấp nhận những mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc của Mặt Trận.[14]

Bản tuyên ngôn của Liên Minh có những mục tiêu nói chung cũng giống như của Mặt Trận, nhưng những chính sách đưa ra thì hướng về việc mở rộng ra các vấn đề có thể được đem ra thảo luận giữa Mỹ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi có hòa đàm. Liên Minh nhấn mạnh vấn đề hòa bình và trung lập, và muốn làm cầu nối giữa các thành phần chính trị chống đối nhau để giúp Mỹ có thể liên lạc với Mặt Trận trong khi vẫn không thừa nhận Mặt Trận hay nói chuyện thẳng với Mặt Trận.[15] Có thể vì những lý do này cho nên chính phủ miền Bắc đã cho phổ biến bản tuyên ngôn của Liên Minh trên các phương tiện truyền thông của mình và thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có lời chào mừng sự ra đời của Liên Minh.[16] Sau này ông Đồng có viết rằng từ khi Liên Minh được thành lập “xu hướng cho hòa bình và trung lập đã phát triển rất nhanh trong các tầng lớp trí thức và tư sản chống chính quyền bù nhìn Sài Gòn.”[17] Wilfred Burchett báo cáo rằng Liên Minh đã liên hệ được với các tầng lớp nhân dân mà Mặt Trận khó vận động được và vì thế đã giúp làm cầu nối giữa cách mạng với các thành phần yêu nước trong chính quyền và quân đội Sài Gòn.[18]

Hơn nữa, Liên Minh giúp liên kết với các thành phần nhân dân miền Nam không có quan hệ với Mặt Trận Giải Phóng nhưng muốn có một giải pháp hòa bình dựa trên việc thành lập một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần mà chính phủ miền Bắc lúc đó đang đề nghị tại bàn đàm phán Paris. Do đó, Liên Minh có thể trở thành một đại diện của “thành phần thứ ba”. Mùa hè năm 1968 Wilfred Burchett đã cho biết rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng nghĩ rằng Liên Minh có thể đóng một vai trò quan trọng cho giải pháp hòa bình trong quá trình đàm phán.[19] Các quan chức chính phủ miền Bắc tại Paris cũng cho hai đại diện của phong trào hòa bình Mỹ biết rằng Liên Minh có thể là một thành phần trọng yếu của một chính phủ liên hiệp.[20]

Đúng như báo Đại Đoàn Kết viết ở trên, cuộc “tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 buộc đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.” Nhưng những đợt tấn công sau đó đã làm cho Mặt Trận bị thiệt hại nặng nề và không những bị đẩy ra khỏi nhiều vùng nông thôn miền Nam mà còn phải rút quân sang các vùng biên giới. Do đó, phong trào đô thị đã có “đóng góp nhất định” trong việc chi phối sức mạnh quân sự và chính trị của Mỹ và của chính quyền Sài Gòn, giúp cho Mặt Trận có thời gian và không gian để hồi phục.[21] Hoạt động của phong trào đô thị, trong đó có Liên Minh, đã giúp cho cách mạng phát huy vai trò chính trị của mình trong nước và trên thế giới trong khi Mặt trận đang suy yếu trên lãnh vực quân sự và trong khi chính quyền Mỹ đang đẩy mạnh “chương trình Việt Nam hóa” (Vietnamization Program) và “chương trình bình định cấp tốc” (Accelerated Pacification Program) với trung bình khoảng 300 cuộc hành binh “bình định nông thôn” mỗi ngày theo các báo cáo chính thức.[22] Việc bắt lính và tàn phá nông thôn đã gây ra hàng loạt cuộc biểu tình tại các thành phố miền Nam chống bắt lính, chống càn quét, và đòi chính phủ Sài Gòn và Mỹ phải kết thúc chiến tranh “ngay lập tức”. Những đòi hỏi này còn có phần mạnh hơn đề nghị 10 điểm mà ông Trần Bửu Kiếm, trưởng phái đoàn đàm phán của Mặt Trận Giải Phóng tại Paris, đã đưa ra vào ngày 8 tháng 5 năm 1969. Trong đề nghị này Mặt Trận có đòi Mỹ và các nước ngoài khác rút quân nhưng không bắt buộc đúng thời điểm nào. Hai vấn đề quan trọng nhất trong đề nghị 10 điểm này là có những cuộc bầu cử tự do và dân chủ để quyết định một chính thể mới cho miền Nam và việc thiết lập một chính phủ liên hiệp lâm thời trong thời gian các quân đội nước ngoài đang rút ra khỏi Việt Nam để bảo đảm việc rút quân và tuyển cử.[23] Mặc đầu đây là một đề nghị có tính chất bao quát và thỏa hiệp cao nhất đến thời điểm đó, chính quyền Nixon lập tức bác bỏ và nói đó chỉ là việc “trở lại Hiệp Định Genève” năm 1954. Thêm nữa, ngày 14 tháng 5 năm 1969 tổng thống Nixon công bố một “kế hoạch cho hòa bình” (plan for peace) trong đó có những điểm chính sau đây: tất cả các binh lính không phải từ miền Nam (all non-South Vietnamese troops) sẽ phải rút đi trong hai giai đoạn; các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức bởi “chính phủ theo hiến pháp và hợp pháp” (constitutional and legal government) của Miền Nam Việt Nam (tức chính quyền Sài Gòn); và tất cả các thành viên của Mặt Mặt Trận Giải Phóng phải lột bỏ vũ khí, từ bỏ việc dùng bạo lực, và trở về với “cộng đồng quốc gia” (national community). Như thế Nixon không những không chấp nhận Mặt Trận là một thực thể chính trị ở miền Nam mà còn cho là bất hợp pháp nên các thành viên muốn có quyền công dân trở lại thì phải đầu hàng.

Để chứng minh Mặt Trận là một thực thể chính trị có sự ủng hộ rộng lớn của nhiều thành phần nhân dân miền Nam và để làm áp lực Mỹ tại bàn đám phán, Mặt Trận đã cùng Liên Minh thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm thời tháng 6 năm 1969 với ông Nguyễn Hữu Thọ (chủ tịch Mặt Trận) làm Chủ tịch Hội Đồng Cố vấn và ông Trịnh Đình Thảo làm phó chủ tịch. Nhiều ủy ban của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời sau đó được thành lập từ làng đến tỉnh trên khắp miền Nam trong khi nhiều chính phủ trên thế giới và nhiều cơ quan quốc tế đã nhanh chóng công nhận thực thể chính phủ này. Trong khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm thời tạo được thêm hậu thuẫn thì chính quyền Sài Gòn lại càng bị phản đối vì chính sách hiếu chiến. Những cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn đòi hòa bình và những cuộc đình công đòi quyền sống càng ngày càng nhiều và càng lớn trong các thành phố miền Nam, tạo nên sự liên kết của nhiều thành phần trong xã hội. Một ví dụ là vào ngày 25 tháng 6 năm 1970 124 công đoàn với tổng số hơn 100 ngàn công nhân trong vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định tuyên bố sẽ tổng đình công. Những công đoàn khác, Phong trào Thương Chiến Binh, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, và một vài tổ chức khác lập tức hứa ủng hộ đình công. Trong cùng ngày Huỳnh Tấn Mẫm, một sinh viên đã bị chính quyền Thiệu-Kỳ bắt giam và tra tấn dã man, sau khi được bầu làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn dẫn một đoàn đại diện sinh viên đến trụ sở Tổng Liên Đòan Lao Công Việt Nam để gặp các lãnh tụ của các công đoàn đình công và cam kết sự ủng hộ hoàn toàn của toàn thể sinh viên. Trước đó, trong cùng ngày, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã đưa ra một nghị quyết trong đó có những điểm như sau: (1) lập tức ngưng chiến tranh; (2) lập tức rút toàn bộ quân đội Mỹ và đồng minh; (3) lập tức trả độc lập lại cho Việt Nam; và (4) lập tức bỏ hẳn các chương trình đào tạo quân sự. Sau cuộc gặp mặt giữa các lãnh tụ sinh viên và công đoàn, hai bên ra một thông cáo chung trong đó nhiều điểm giống như công bố của sinh viên ngày 22 tháng 6 và nghị quyết ngày 25 tháng 6. Hai bên kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam cho sự tranh đấu của công nhân.[24] Theo báo New York Times ngày 17 tháng 7 năm 1970 Tổng thống Thiệu lo sợ đến nổi đã ra lịnh đàn áp tất cả các phong trào đòi hòa bình. Tờ báo trích lời tuyên bố của ông Thiệu: “Tôi sẵn sàng đập tan tất cả các phong trào đòi hòa bình với bất cứ giá nào bởi vì tôi vẫn thật sự là một chiến sĩ….Chúng tôi sẽ đánh chết những ai đòi lập tức có hòa bình” [I am ready to smash all movements calling for peace at any price because I’m still much of a soldier…. We will beat to death the people who are demanding immediate peace.] Tờ New York Times vừa trích cũng cho biết là trong cùng ngày Trung tướng Trần Văn Hai, tổng tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, đã ra lệnh cho các cảnh sát trưởng dùng “các biện pháp mạnh, kể cả lưỡi lê và đạn” [strong measures, including bayonets and bullets] để đập tan các cuộc biểu tình.[25]

Trước tình hình kể trên, ngày 17 tháng 9 năm 1970 Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” trong đó có nói đến việc bầu cử để thành lập một chính phủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc. Điểm 5 đề cập đến một chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 thành phần: những nhân vật của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời; những nhân vật yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính quyền Sài Gòn; và những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ.[26]

Đề nghị “8 điểm”, mà sau này phần lớn đã được đưa vào Hiệp Định Paris năm 1973, tạo được rất nhiều dư luận ủng hộ trên thế giới và cả ở nước Mỹ nên Nixon ngày 7 tháng 10 năm 1970 buộc phải trả lời bằng cách tuyên bố trên các đài truyền hình Mỹ một “phương án hòa bình” nữa. Trong đó Nixon đòi rằng điều kiện tiên quyết cho một cuộc đàm phán là một “cuộc ngưng bắn tại chỗ” (ceasefire-in-place) và việc thả hết tất cả các tù binh của Mỹ; rằng cuộc đàm phán là phải với hết tất cả các nước Đông Dương (tức hai miền Việt Nam, Lào và Kampuchia) chứ không chỉ có với Việt Nam; rằng Mỹ và miền Bắc “rút quân cùng lúc” (mutual troop withdrawal) khỏi miền Nam; rằng một giải pháp chính trị cho miền Nam sẽ theo các thủ tục được đồng ý trong tương lai.[27]

Nhiều thành phần nhân dân miền Nam lúc ấy phản đối đòi hỏi vô lý của Nixon. Sau một thời gian vận động, ngày 11 tháng 11 năm 1970 khoảng 1000 đồng bào gồm đủ các giới tham dự buổi hợp do Ủy Ban Đòi Quyền Sống Đồng Bào, Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, và Nghiệp Đoàn Giáo Chức Tư Thục tổ chức tại đại học xá Minh Mạng thành lập “Mặt Trận Nhân Dân Tranh Thủ Hòa Bình” (MTNDTTHB). Tuyên ngôn cho biết là MTNDTTHB “được thành lập với mục đích kết hợp mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, xu hướng và quá khứ cùng chung một ý chí đem lại Hòa bình cho đất nước.”[28]

Sự ra đời của MTNDTTHB giúp Mặt Trận Giải Phóng chứng minh rằng một giải pháp ngưng chiến tranh dựa vào giải pháp hòa đàm sẽ được sự ủng hộ của nhân dân trong nước và trên thế giới. Ngày 10 tháng 12 năm 1970 bà Nguyễn Thị Bình tuyên bố là sẽ có đình chiến giữa quân đội Giải Phóng và quân đội của Mỹ và đồng minh nếu họ hứa sẽ rút quân trước ngày 30 tháng 6 năm 1971. Bà Bình cũng nói là sẽ có ngưng bắn giữa quân đội Giải Phóng và Sài Gòn sau khi hai bên đồng ý thành lập một chính phủ lâm thời gồm 3 thành phần như đã được nêu trong đề nghị “8 điểm.” Nhưng Nixon không muốn có đình chiến, chỉ muốn leo thang chiến tranh hòng làm suy yếu phe cách mạng và củng cố chính quyền Sài Gòn vì Nixon không tin tưởng ở khả năng chính quyền này có thể tồn tại trong một giải pháp hòa bình dựa vào đấu tranh chính trị trong một chính phủ liên hiệp. Do đó, ngày 8 tháng 2 năm 1971 Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đưa hơn 45 ngàn quân vào khu vực đường 9 nam Lào, với ý định chiếm đóng toàn khu vực đó hòng cắt đứt mọi chi viện cho Mặt Trận từ miền Bắc. Nhưng lý do mà Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird tuyên bố là để bảo vệ sinh mạng của Mỹ và để “bảo vệ chương trình Việt Nam hóa” (to protect the Vietnamization program.)[29]

Mặc dầu đây là một cuộc hành quân với quy mô rất lớn, tin tức về cuộc hành quân này đã bị lộ ra nhiều ngày trước. Do đó, theo hầu hết các báo Sài Gòn đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 1971, Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, và Mặt Trận Nhân Dân Tranh Thủ Hòa Bình đã ra thông cáo chung phản đối việc Mỹ và chính quyền Thiệu mở rộng chiến tranh sang Lào. Thông cáo nói rằng đây là một cuộc leo thang chiến tranh rất nguy hiểm theo học thuyết Nixon về việc dùng người Đông Dương để giết nhau. Do đó, thông cáo nói là để chấm dứt cuộc tàn sát vô nghĩa tất cả quân đội Mỹ và đồng minh phải lập tức và hoàn toàn rút khỏi Đông Dương. Theo báo Tin Sáng, tờ báo của nhóm dân biểu Công giáo trong Quốc hội Sài Gòn và là tờ báo lớn nhất ở miền Nam lúc ấy, ngày 8 tháng 2 hơn 8000 người biểu tình chống việc đưa quân sang Lào. Đại diện của nhiều nhóm thuộc nhiều thành phần (phụ nữ, sinh viên, công nhân, chính trị, tôn giáo) đòi chồng con, anh em của họ phải được trở về với gia đình. Chính quyền Sài Gòn bắt giữ và đánh đập nhiều người biểu tình, số lớn là sinh viên. Do đó, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn buộc công bố một “tối hậu thư” đòi những sinh viên và bạn bè của họ phải được trả tự do trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Nhưng chính quyền Sài Gòn trả lời bằng cách đưa cảnh sát dã chiến và quân cảnh của Mỹ đến tấn công cư xá sinh viên Minh Mạng. Sinh viên trả thù bằng cách đốt các xe quân cảnh của Mỹ trên đường phố.[30] Ngày 14 tháng 2 năm 1971 sinh viên đốt 15 chiếc xe quân sự của Mỹ tại Sài Gòn và phát hơn 250 nghìn truyền đơn chống việc Nixon leo thang chiến tranh.[31] Ngày 15 tháng 2 năm 1971 tại Sài Gòn 14 tổ chức đã đưa ra một thông cáo chung trong đó họ đòi Mỹ phải rút quân ngay lập tức khỏi Đông Dương và ngưng mọi hoạt động trá hình nhằm mở rộng chiến tranh và cản trở việc tái lập hòa bình. Khẩn hiệu của các nhóm này đã đổi từ “chống Mỹ cứu nước”, “đuổi Mỹ cứu nước,” sang “diệt Mỹ cứu nước.” Từ đó trở đi hầu như mỗi ngày là có xe quân đội Mỹ bị đốt cháy trên đường phố Sài Gòn như các báo Sài Gòn đã đăng tin. Báo Dân Chủ Mới ngày 26 tháng 10 năm 1970 đăng một bài dài của GS Nguyễn Văn Trung, khoa trưởng Đại học Văn Khoa và là một người Công giáo, giải thích tại sao nhiều người Việt Nam đã trở thành những người thù Mỹ đến độ thấy xe Mỹ là đốt, thấy lính Mỹ là đánh.

Thông tin về phong trào đô thị và hoạt động của sinh viên miền Nam trong thời gian này được phổ biến rất rộng rãi tại Mỹ một phần vì người đại diện chính thức của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã thiết lập quan hệ tốt với báo chí Mỹ, với các tổ chức trong phong trào chống chiến tranh tại các đại học, và với Hiệp Hội Sinh Viên Quốc Gia Hoa Kỳ (United States National Student Association, USNSA). Một ví dụ điển hình là đại diện này đã thúc đẩy USNSA tổ chức một hội thảo quốc tế tại Georgetown University ở Hoa Thịnh Đốn ngày 13-16 tháng 10 năm 1971 gồm đại diện của hơn 30 nước trên thế giới và hơn 40 đại học tại Mỹ để chủ yếu bàn tình hình ở Nam Việt Nam và tình trạng của sinh viên Việt Nam trước sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn.[32]

Như đã thấy ở trên, thông tin về phong trào đô thị được nhiều báo và tập san viết đến, trong đó một trong những tờ báo quan trọng là tờ Tin Sáng không phải vì nó là tờ báo lớn nhứt trong khoảng 30 tờ báo ở miền Nam, nhưng vì nó là một tờ báo tiến bộ với sự cộng tác của nhiều nhân vật quan trọng trong Quốc hội và trong nhiều thành phần chính trị và tôn giáo tại miền Nam. Thêm vào đó những nhân vật này phần lớn là người Công giáo, như hai ông chủ biên Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận, cho nên lời nói của họ được nhiều người Mỹ tin tưởng. Mặc dầu là dân biểu Quốc hội (nên được hưởng quyền bất khả xâm phạm) và là cháu của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Tổng thống Thiệu gọi ông Ngô Công Đức là tay sai Cộng sản và bắt giam ông Đức 5 ngày năm 1971. Văn phòng của ông Đức bị đặt bom plastic hai lần trong năm 1970 và cuối cùng bị thiêu rụi vào tháng ba năm 1971. Từ tháng 3 năm 1970 cho đến tháng hai năm 1972 tờ Tin Sáng bị tịch thu 295 lần, nhưng hầu hết các số bị tịch thu đã được ban biên tập tìm cách gởi sang cho Vietnam Resource Center qua hệ thống bưu điện quân sự của Mỹ (APO) cho nên chỉ vài ngày sau là nhận được. Các báo khác và các thông tin khác cũng phần lớn qua ngả này và sau đó được nhanh chóng dịch, phân tích, và phổ biến.[33] Ngô Công Đức cũng có quan hệ tốt với nhiều ký giả nước ngoài và nhiều lần được các tờ báo nước ngoài mời viết bài. Một ví dụ là bài “Anti-Americanism: Common Cause in Vietnam” (Chống Mỹ: Mục Đích Chung ở Việt Nam) đăng trong số tháng 2 năm 1971 của tập san The Progressive tại Mỹ. Dân biểu Lý Quí Chung trong nhóm Tin Sáng (sau khi Tin Sáng bị đóng cửa thì Lý Quí Chung sang bên Điện Tín, cùng một nhóm thành lập), thuộc khối Phật giáo trong Quốc hội và trong cánh của Tướng Dương Văn Minh, năm 1970 xuất bản với một nhà xuất bản lớn tại Mỹ một cuốn sách gồm nhiều bài dịch từ Tin Sáng.[34]

Qua các hoạt động như trên, “nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng” (theo lời nói của bà Nguyễn Thị Bình được trích ở trên) đã giúp cho nhân dân trong nước và trên thế giới, đặc biệt là người Mỹ, thấy rõ hơn bộ mặt độc tài của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và tại sao càng ngày càng nhiều người Việt Nam chống chính sách và sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam. Để lừa quần chúng Mỹ và để có thể chứng minh rằng chính quyền Sài Gòn là một chính quyền có chính danh, Mỹ và Thiệu cho tổ chức bầu cử Quốc hội để dọn đường cho việc Thiệu chắc chắn thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 3 tháng 10 năm 1971. Các cuộc bầu cử này cũng nhằm phá hoại cuộc đàm phán tại Paris và các đề nghị của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời về một chính phủ liên hiệp lâm thời, về trung lập, về đình chiến và về tự do. Cương lĩnh bầu cử tổng thống của Thiệu là chính sách “bốn không”: không có chính phủ liên hiệp dưới bất cứ một hình thức trá hình nào, không có nhượng đất đai cho Cộng sản, không có trung lập thiên Cộng, và không có chủ nghĩa Cộng sản được tự do tuyền bá và đảng Cộng sản được hoạt động ở Nam Việt Nam.[35] Ông Thiệu đã chính thức tuyên bố rằng trung lập tức là thiên Cộng. Ồng nói Cộng sản tuyên bố trung lập là không theo Mỹ hay theo Cộng sản, nhưng thật ra Cộng sản muốn miền Nam trung lập là vì họ muốn Mỹ không có cớ ở lại miền Nam.[36]

Trò bầu cử này đã bị các cá nhân và nhóm trong phong trào đấu tranh đô thị lật tẩy và phá vỡ. Các báo Sài Gòn, đặc biệt là Tin Sáng, cho biết Mỹ đã ủng hộ chính phủ Thiệu trong việc dồn phiếu cho các ứng cử viên ngay trước ngày bầu cử. Các ứng cử viên đối lập bị đánh đập, bị bắt, và bị dọa là sẽ bị giết. Lính của chính quyền được gởi đến các trạm bỏ phiếu để bỏ phiếu nhiều lần cho các ứng cử viên trong danh sách phe của Thiệu. Và tại nhiều làng hơn hai phần ba lá phiếu không được đưa cho cử tri vì chính quyền nghi rằng những cử tri đó sẽ không đầu phiếu danh sách của Thiệu.[37] Tuy vậy, chính Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cũng đã phải tuyên bố tại Sài Gòn là những vi phạm và gian lận trong cuộc bầu cử được nêu trên các báo chí thật ra chỉ bằng 25 phần trăm của những gì đã xảy ra trên khắp nước. Ông Kỳ nói tiếp là theo những gì chính bản thân ông biết thì “thật là rùng rợn một trăm phần trăm và không thể tưởng tượng nổi.”[38]

Ngoài việc phơi bày những vi phạm và gian lận trong kỳ bầu cử Quốc hội cho thế giới biết, các cá nhân và nhóm trong phong trào đô thị cũng đã làm áp lực các chính khách, trong đó có Dương Văn Minh, không ra ứng cử tổng thống để Mỹ và Thiệu không thể dùng cuộc bầu cử này để biện minh cho tính chính danh của chính quyền Sài Gòn.[39] Cuối cùng Nguyễn Văn Thiệu phải “độc diễn” và chính quyền Sài Gòn thông báo là theo con số đếm chính thức ông ta được 94,3 phần trăm tổng số phiếu. Chính phủ Mỹ không những không thể dùng trò bầu cử để bịp dân chúng Mỹ cho tiếp tục ủng hộ chính quyền Sài Gòn mà còn bị dư luận thế giới, trong đó có báo chí và chính khách Mỹ, phê phán kịch liệt.[40] Để gỡ gạc, đại sứ Ellsworth Bunker tuyên bố: “You can’t expect too much from this underdeveloped country” (Không có thể đòi hỏi quá đáng từ một nước chưa phát triển như thế này). Và tổng thống Nixon nói: “It’ll take a few more generations before the Vietnamese can enjoy democracy” (Cần một vài thế hệ nữa trước khi người Việt Nam mới có thể hưởng dân chủ). Cách ăn nói này đã gây phản ứng rầm rộ trên các báo Sài Gòn. Một số người viết thư cho các báo, hay thư ngõ cho Bunker và Nixon đăng trên các báo, phản đối sự trịch thượng của hai vị này và sự tàn bạo của đế quốc Mỹ.[41]

Tại Mỹ một số hạ, thượng nghị sĩ đòi cắt viện trợ quân sự cho chính quyền Thiệu. Nhưng tổng thống Nixon đã bào chữa cho việc tiếp tục viện trợ với lý do là 30 trong 91 nước trên thế giới mà Mỹ cấp viện trợ quân sự là những nước mà các nhà cầm quyền được tuyển chọn qua các tiêu chuẩn bầu cử mà đối với người Mỹ là không công bằng. Vì thế, nếu áp dụng những tiêu chuẩn mà nhiều người Mỹ muốn áp dụng ở Nam Việt Nam thì cũng phải cúp viện trợ cho hơn hai phần ba nước đang nhận viện trợ Mỹ lúc đó.[42]

Được sự ủng hộ công khai của Nixon chính quyền Thiệu bắt đầu đàn áp thẳng tay những người tranh đấu đòi hòa bình, trung lập và dân chủ. Trong một bản báo cáo (đăng trong Tia Sáng ngày 2 tháng 2 năm 1972) dân biểu Hoàng Thế Phiệt cho biết có hơn 40 ngàn người ở các địa phương còn ở trong tù vì họ phản đối cuộc bầu cử tháng 10 năm 1971. Ông Phiệt viết là con số này không kể những sinh viên, học sinh đã bị bắt tại Sài Gòn và bị tra tấn không nương tay. Sau đây chỉ là một vài trường hợp lấy ra trong vài số báo từ tháng Giêng cho đến tháng 3 năm 1972 để cho độc giả thấy được một phần nào tình trạng lúc ấy đối với những người đấu tranh trong phong trào đô thị.

Ngày 13 tháng Giêng năm 1972 tờ Tin Sáng Hải Ngoại cho biết là sinh viên Lê Văn Nuôi và hai bạn là Nguyễn Chiến và Trương Minh đã bị đánh què chân trong tù và một học sinh khác tên là Trương Văn Khuê đã bị hỏng mắt và sức khỏe bị đe dọa trầm trọng. Ngày 23 tháng 3 năm 1972 báo Dân Chủ Mới cho biết là vì áp lực của bạn bè trong nước và trên thế giới Lê Văn Nuôi và các bạn được đem ra tòa để xử. Hàng trăm cảnh sát đã phong tỏa tòa và nhiều cảnh sát khác đã được đưa đến Quốc hội và tòa đại sứ Mỹ để củng cố an ninh. Phiên tòa phải chấm dứt khi Lê Văn Nuôi và bạn lấy dao lam rạch tay, rạch bụng, và rạch ngực và lấy máu mình viết các khẩu hiệu chống chính quyền Thiệu trên vách tường của tòa án. Mặc dầu những sinh viên này bị thương, họ bị bắt giải về tù mà không được cứu chữa gì hết. Theo báo Điện Tín ngày 25 tháng 3 năm 1972, sau khi bị giải về tù các học sinh trên lại bị tiếp tục tra tấn. Sự tàn bạo của chính quyền đã khiến cho toàn thể sinh viên học sinh tại Sài Gòn, khoảng 100 ngàn người, phản đối bằng một cuộc nghỉ học dài không thời hạn chấm dứt.

Trường hợp thứ hai là trường hợp của Huỳnh Tấn Mẫm, chủ tịch Ban chấp hành lâm thời của Tổng hội Sinh viên miền Nam. Theo báo Tin Sáng Hải Ngoại ngày 3 tháng 3 năm 1972 Mẫm đã bị bắt giam trong tù của chính quyền Sài Gòn và đã bị tra tấn cho đến nỗi máu đã chảy ra từ mắt và tai. Sau khi bị tra tấn Mẫm còn bị gởi đến trung tâm của CIA tại Bến Chương Dương để bị “hỏi cung”, và tại đây Mẫm đã bị tra tấn thêm. Báo Dân Chủ Mới ngày 23 tháng 3 năm 1972 cho biết là trong khi bị CIA giữ Mẫm đã tuyệt thực trong 14 ngày và phải bị truyền nước muối (sodium pentathol) để khỏi chết; nhưng sức khỏe của Mẫm đã bị đe dọa trầm trọng.

Ngày 7 tháng 3 năm 1972 Dân Chủ Mới đăng tin Giáo Sư Ngô Kha, Chủ tịch Mặt trận Văn hoá Dân tộc miền Trung, đã bị bắt và tra tấn dưới sự điều khiển của các cố vấn Mỹ. Ngày 17 tháng 3 Dân Chủ Mới đăng tin là Ngô Thế Lý, chủ tịch Hội Sinh Viên Phật Tử ở Đà Lạt vừa bị bắt và có thể đã bị giết vì đã viết những bài phản đối chính quyền Sài Gòn. Và ngày 24 tháng 3 năm 1972 báo Điện Tín cho biết là bà Ngô Bá Thành, chủ tịch Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, đã bị tra tấn trong tù.[43]

Vì báo chí đăng những tin như trên gần như hằng ngày, chính quyền Thiệu cũng gần như hằng ngày tịch thu các báo. Agence France Press ngày 3 tháng 6 năm 1972 cho biết là trong tháng 4 và tháng 5 năm 1972 các báo tại Sài Gòn đã bị tịch thu 337 lần. Các chủ bút và phóng viên của các báo cũng đã bị trù dập bằng nhiều cách. Một ví dụ là trường hợp của Linh mục Chân Tín, chủ nhiệm tờ Đối Diện. Báo Điện Tín ngày 14 tháng 3 năm 1972 cho biết là ông Chân Tín đã bị kêu án 12 tháng tù và phạt một triệu đồng (khoảng 5000 USD lúc đó). Trước đó ông Chân Tín và hai phóng viên của tờ báo đã bị xử 6 tháng tù vì vài bài biết chỉ trích rất nhẹ nhàng chính phủ và các người trí thức ủng hộ chế độ.

Hình như thấy những biện pháp đàn áp trên vẫn chưa đủ để triệt tiêu phong trào đô thị ngày 19 tháng 5 năm 1972 Thiệu ra lệnh thiết quân luật. Sự đàn áp gia tăng đến nỗi mà ngày 13 tháng 6 năm 1972 tờ New York Post đăng tin là chỉ trong có vài tuần sau thiết quân luật mà đã có hơn năm ngàn người bị bắt bởi chính quyền Sài Gòn và ký giả nói thêm là những người này nhất thiết là những người tù chính trị. Tuần san Far Eastern Economic Review (FEER) ngày 3 tháng 6 năm 1972 đăng một bài khá dài và chi tiết về việc bắt bớ và tra tấn sau khi lệnh thiết quân luật được tuyên bố. Ngoài việc bắt bớ và xét nhà bất cứ lúc nào, nhưng đặc biệt là trong đêm khuya, thì trong tháng 6 chính quyền Sài Gòn cho biết là sẽ bắt khoảng 42 ngàn sinh viên đi lính. Trong số này, theo tờ FEER sẽ có nhiều sinh viên Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn vì nhiều cuộc biểu tình đã xuất phát từ những nơi này. Ngày 5 tháng 8 năm 1972 tờ San Francisco Chronicle viết là khoảng 14 ngàn thường dân đã bị bắt giam từ tháng 4 năm ấy. Ngày 10 tháng 11 năm 1972 tờ Washington Post cho biết là từ sau Hiệp Định Paris được ký tắt chính quyền Sài Gòn đã bắt thêm 40 ngàn tù nhân chính trị. Ngày 11 tháng 11 năm 1972 chương trình truyền CBS Evening News phát một bản tin trong đó Hoàng Đức Nhã, phát ngôn viên của Thiệu và là một người cháu, khoe rằng từ sau Hiệp Định Paris được ký tắt, chính quyền Thiệu đã bắt 55 ngàn “Communist sympathizers” (người thân Cộng) và giết 5 ngàn người khác. Thông tấn xã Associated Press và chương trình truyền hình CBS Evening News cho thông tin là Tổng thống Thiệu đã đưa ra một sắc lệnh bảo nhân dân miền Nam phải diệt Cộng trước khi, trong khi, và sau khi Hiệp Định Paris được chính thức ký kết. Ngày 4 tháng 11 năm 1972 tờ San Francisco Chronicle trích lời phát biểu của Thiệu trong cùng ngày rằng tất cả ai ủng hộ một chính phủ liên hiệp đều là “trung lập thân Cộng” (pro-Communist neutralists) và vì thế ông Thiệu sẽ không để cho những người nấy sống lâu hơn 5 phút. Cuối cùng, ngày 25 tháng 11 năm 1972 Thiệu ký một sắc lệnh cấm tất cả mọi hình thức biểu tình chống đối. Sắc lệnh này nói là người nào bị nghi là có quan điểm không phù hợp với tình hình hiện thời và trong tương lai, bất cứ về chuyện đối nội hay đối ngoại, sẽ có thể bị tuyên án tử hình bởi một tòa án quân sự.[44]

Những chi tiết trên cho thấy rõ ràng là chính quyền Thiệu muốn tiêu diệt phong trào đô thị để khỏi có một chính phủ liên hiệp. Chính quyền Nixon cũng muốn phá hủy Hiệp Định Paris mà họ đã buộc đã phải ký tắt bằng cách đòi thay đổi khoảng hơn 100 chỗ trong bản ký tắt đó. Khi chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ chối thì Nixon ra lệnh một cuộc oanh tạc thành phố Hà Nội và Hải Phòng với hàng trăm máy bay B-52 bắt đầu ngày 25 tháng 12 năm 1972 mà người Mỹ sau đó gọi là “cuộc oanh tạc Giáng Sinh” (Christmas Bombing). Nhưng cuộc tấn công này đã thất bại và sự chống đối của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới buộc Henry Kissinger phải trở lại bàn đàm bán và ký Hiệp Định Paris mà trong đó chỉ có vài thay đổi nhỏ so với hiệp định đã được ký tắt.



( còn tiếp)


Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

SÂN GA CÒN ĐỢI HỒN MA THU VỀ




Em vẫn để lá vàng ngập lối
ghế đá sân ga mưa vỡ giọt tôi
ngày tháng rơi cành thu trơ trọi
đón gió đông sầu khô khốc mùa trôi

Tình vẫn dài sao đời ngắn lại
trăng bạc đầu chẳng hiểu vì đâu?
mùa vừa chết theo tiếng còi tàu
dưới chân lá nát lấp đầy thương đau

Mộ cỏ vàng ôm bóng trăng tà
sân ga còn đợi hồn ma thu về

Vô tình





(Puskin) 

Vô tình anh gặp em
Rồi vô tình thương nhớ
Đời vô tình nghiệt ngã
Nên chúng mình yêu nhau

Vô tình nói một câu
Thế là em hờn dỗi
Vô tình anh không nói
Nên đôi mình xa nhau

Chẳng ai hiểu vì đâu
Đường đời chia hai ngả
Chẳng ai có lỗi cả
Chỉ vô tình mà thôi

Vô tình suốt cuộc đời
Anh buồn đau mải miết
Vô tình em không biết,
Hay vô tình em quên?
Anh buồn đau mải miết,
Cả cuộc đời không quên!

Chỉ vô tình mà thôi,
Chẳng ai có lỗi cả;
Đường đời chia hai ngả,
Chẳng ai hiểu vì đâu

Vô tình anh không nói,
Vô tình nói một câu,
Thế là em hờn dỗi,
Thế là mình xa nhau.

Giá như mình yêu nhau,
Đời chắc không nghiệt ngã,
Trời cũng thương, cũng nhớ,
Cho mình gặp lại nhau.

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

CHUYỆN NỒI CƠM CỦA KHỔNG TỬ



Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.
May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …

Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Chữ Tây và chữ Hán





Cao Xuân Hạo

Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn?

Từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX trở về trước, người châu Âu thường yên trí rằng mình dùng thứ chữ viết hợp lý nhất, khoa học nhất, tiến bộ nhất. Vì thứ chữ ABC của họ là thứ chữ ghi âm. Năm 1897, Hội ngữ âm học quốc tế ra đời cùng với bảng chữ cái gọi là Tự mẫu phiên âm quốc tế - International Phonetic Alphabet (IPA), được coi là lý tưởng của lối chữ ghi âm. Trong mấy thập kỷ kế theo, người ta thi nhau lên án những cái "bất hợp lý" trong hệ thống chính tả của những thứ tiếng như tiếng Pháp và tiếng Anh ("phát âm một đàng viết một nẻo") và những đề án cải cách chính tả thi nhau lần lượt ra đời.

Thế nhưng gần một trăm năm đã qua, mà không có một đề nghị nhỏ nào trong các đề án đó được thực hiện.

Thật là may, vì đó là một việc không thể làm được, và không nên làm một chút nào. Niềm tự hào ấu trĩ về lối viết ABC cũng như những cáo trạng ồn ào về tính "bất hợp lý" của chính tả Pháp, Anh và những đề nghị cải cách chữ viết đủ kiểu đều xuất phát từ một sự lầm lẫn thô thiển: lúc bấy giờ người ta chưa hiểu cho lắm là chữ viết có chức năng gì trong đời sống và trong nền văn minh, và nó cần phải như thế nào mới làm tròn được chức năng ấy ở mức tối ưu.

Kể từ những năm 30 trở đi, sau những công trình của Trường ngữ học Prague nêu rõ những chức năng và yêu cầu của ngôn ngữ viết khiến cho nó khác với ngôn ngữ nói, những tiếng kêu gào trước kia dần dần im lặng, và chẳng còn mấy ai buồn nhắc đến nữa.

Người ta đã hiểu rằng không có lấy chút cơ sở khoa học nào để khẳng định rằng chữ viết ghi âm là "khoa học nhất", và thứ chính tả lý tưởng là "phát âm thế nào viết thế ấy".

Kịp đến thập kỷ 70, những bước tiến lớn của ngành ngữ học và những phát hiện của âm vị học về khái niệm "tổ hợp âm" càng khiến cho các định kiến cũ lộ hết tính chất vô căn cứ của nó.

Số là ở phương Tây người ta nhận thấy có một số trẻ em không sao học đánh vần được, và do đó học mãi cũng vẫn không biết viết. Số này rất ít, nhưng không ít đến mức có thể bỏ mặc làm ngơ, nó chiếm khoảng 0,01% đến 0,02% số trẻ em ở lứa tuổi học tiểu học. Nghĩa là trong một triệu em có khoảng từ một ngàn hai đến hai ngàn em như thế. Người ta gọi "chứng bệnh" này là alexia (chứng không đọc chữ được) hay dislexia (chứng mất khả năng đọc chữ). Những em này thường được coi là "khuyết tật" hay thậm chí "quá đần độn" không hy vọng gì trở thành người có chút ít học thức được.

May thay, có những nhà ngữ học nảy ra cái ý nghi ngờ rằng nguyên nhân của tình trạng này không phải ở các em, mà chính là ở lối viết ABC. Năm 1978, một nhóm ngữ học Mỹ quyết định làm một cuộc thí nghiệm. Họ mở một số lớp gồm toàn trẻ em "khuyết tật" mắc chứng alexia và dạy chương trình tiểu học cho chúng bằng chữ Hán (xin bạn đọc hiểu đúng cho: dĩ nhiên các em ấy học tiếng Anh và học các môn khác bằng tiếng Anh, nhưng các từ tiếng Anh đều được viết bằng chữ Hán. Chẳng hạn, câu He came to a high mountain được viết bằng sáu chữ Hán là "Tha đáo cập nhất cao sơn"). Sau năm đầu, các em đọc và viết được 1600 từ đơn, và về khả năng hấp thu tri thức, chúng tỏ ra không "đần độn" chút nào, mà kết quả học tập của chúng lại có phần trội hơn các em học tiểu học bằng chữ ABC.

Người ta hiểu ra rằng các em này chẳng phải có khuyết tật gì, chẳng qua trong não của chúng hình như công năng của bán cầu bên phải (tri giác tổng hợp) trội hơn công năng của bán cầu bên trái (tri giác phân tích) cho nên chỉ nhận dạng được chữ Hán vốn có hình thể đặc trưng rất rõ, mà không tách được các từ ra từng âm tố - từng chữ cái.

Ðể hiểu rõ hơn hiện tượng này, ta hãy xét qua cơ chế của việc đọc chữ. Khi đọc, người biết chữ thành thục không hề đánh vần. Họ nhận ra các từ ngữ qua diện mạo chung của chúng, không khác gì ta nhận ra một vật, một người quen không phải bằng cách lần lượt nhận ra từng chi tiết (mắt, rồi mũi, rồi miệng, rồi tai ...) mà nhận ra ngay tức khắc toàn thể diện mạo của vật hay người đó [1] .

Trong tâm lý học hiện đại, khái niệm "diện mạo tổng quát" này được gọi là Gestalt. Cái Gestalt này càng gọn ghẽ (prégnant) bao nhiêu thì việc nhận dạng "tức khắc" càng dễ dàng và tự nhiên bấy nhiêu. Về phương diện này, chữ Hán hơn hẳn chữ Tây. Mỗi chữ Hán là một Gestalt tuyệt hảo, trong khi cái chuỗi chữ cái La-Tinh chắp thành một hàng dài không làm thành một hình ảnh có thể nhận diện dễ dàng trong một chớp mắt như chữ Hán. Ta thử so sánh cách viết mấy từ sau đây, trong cách viết bằng chữ Hán được đặt cạnh cách viết bằng chữ Tây (ABC)* :

Không có gì đáng lấy làm lạ nếu sách chữ Tây rất khó đọc theo cách "Nhất mục thập hàng" như sách chữ Hán.

Có khá nhiều người Việt nghĩ đến những ai đã đem chữ "Quốc ngữ" thay cho chữ Hán, chữ Nôm với một lòng biết ơn sâu xa, cho rằng việc đó đã đưa nước ta tiến vào hiện đại. Nghĩ như thế tôi e có phần vội vàng. Chẳng lẽ sự tiến bộ củaTrung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hương Cảng, Ðại Hàn, Singapore không đủ để chứng minh sự sai trái của ý nghĩ đó hay sao?
Năm 1985, trong một cuốn sách nổi tiếng, cuốn Le nouveau monde sinisé (Thế giới Hán hóa ngày nay), Léon Vandermeersch [2] khẳng định rằng sở dĩ những "con rồng" nói trên thành rồng được chính là vì họ vẫn dùng chữ Hán [3] . Chỉ còn một nước chưa thành rồng được : Việt Nam. Nước này đã bỏ mất chữ Hán mà trước kia nó đã từng dùng Dĩ nhiên, ta có thể không đồng ý với học giả này, nhưng khó lòng có thể nói rằng đó là một chuyện hoàn toàn ngẫu nhiên.
Chữ ABC đối với đa số quả có một ưu điểm lớn là họcrất nhanh. Muốn đọc chữ ABC chỉ cần học vài tháng, trong khi muốn viết 1200 chữ Hán thông dụng thôi đã phải mất một năm. Ưu điểm đó khiến cho chữ "quốc ngữ" đắc dụng trong thời Pháp thuộc, khi mà người ta cần thanh toán việc học đọc học viết tiếng mẹ đẻ cho nhanh để chuyển sang học chữ Pháp và tiếng Pháp. Nó cũng đắc dụng trong thời kháng chiến, khi cần thanh toán mù chữ cho thật nhanh để còn lo đánh giặc.

Nhưng trong hoàn cảnh độc lập, trong hòa bình, trong sự nghiệp xây dựng văn hóa, cái ưu thế này không còn lớn như trước nữa. Trong những điều kiện bình thường, dành vài ba năm tiểu học cho việc học chữ (đồng thời các môn khác), không phải là một việc gì quá phí phạm. Tốc độ và chất lượng giảng dạy ở các trường tiểu học, trung học và đại học ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hương Cảng, Singapore không hề kém so với các nước dùng chữ Tây, trong đó có Việt Nam.

Trong hoàn cảnh lịch sử của nước ta còn có một điều làm cho chữ "quốc ngữ" đâm ra có vẻ ưu việt đặc biệt: đó là sự tồn tại của chữ Nôm hồi bấy giờ. Trước khi có chữ "quốc ngữ", ông cha ta dùng chữ Nôm để viết tiếng mẹ đẻ. Mà chữ Nôm thì khó hơn chữ Hán rất nhiều (theo một chuyên gia Hán Nôm, nó khó gấp 5 lần). Chính nhờ sự tương phản với thứ chữ phức tạp, khó học ấy mà chữ "quốc ngữ" có vẻ như "tiện"hơn hẳn.

Giá hồi ấy ông cha ta không sáng tạo ra chữ Nôm, mà cứ dùng chữ Hán để viết cả văn Hán lẫn quốc văn như người Nhật Bản đã làm (và hiện nay vẫn làm), nghĩa là mỗi chữ có hai cách đọc, Hán âm (Kan-on) và Quốc âm (Go-on) [4] , thì tình hình có lẽ đã khác.

Tiếng Nhật là tiếng đa âm tiết; thế mà người Nhật vẫn dùng được chữ Hán (Kanji) cho hầu hết các văn bản, tuy thỉnh thoảng có thêm như chữ Kana (ghi từng âm tiết) cho các phụ tố (như no: chỉ sinh cách, de chỉ vị cách , ni chỉ tặng cách v.v.). Nhưng nếu vậy làm sao người đọc biết được một chữ nào đó cần được đọc theo Hán âm hay theo quốc âm? Chẳng hạn nếu viết 山, làm sao biết lúc nào đọc là sơn, lúc nào đọc là núi? Trong đa số trường hợp, văn cảnh sẽ mách cho ta biết. Chẳng hạn nếu thấy viết 高山上 ta sẽ biết phải đọc là cao sơn thượng, còn nếu thấy 上山高, ta sẽ biết đó là trên núi cao, trừ phi có những lý do khác không cho phép đọc như vậy. Nếu cần, có thể dùng một vài dấu phụ. Kinh nghiệm hàng chục thế kỷ dùng chữ Hán để viết tiếng Nhật ít ra cũng chứng minh được rằng lối viết nói trên có thể dùng một cách có hiệu quả. Tiếng Nhật, vốn là ngôn ngữ chắp dính (agglutinating) đa tiết, đã dùng được chữ Hán như vậy, thì tiếng Việt, vốn cùng loại hình đơn lập như tiếng Hán, lại càng dễ dùng chữ Hán hơn.

Tiếng Việt có một cấu trúc ngữ âm khác hẳn các thứ tiếng châu Âu. Trên hơn 320 trang sách, người viết mấy dòng này đã chứng minh rằng âm vị học của phương Tây (vốn là nền tảng lý thuyết của cách viết ABC) không thể đem ứng dụng để nghiên cứu và phân tích những thứ tiếng đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt hay những thứ tiếng chắp dính như tiếng Nhật, hay những thứ tiếng "có sườn phụ âm" như tiếng A Rập, tiếng Do Thái v.v. Nó chỉ có giá trị và hiệu lực đối với các ngôn ngữ biến hình. Việc phân tách mỗi tiếng (âm tiết) ra thành nhiều âm tố (speech sound), rồi thành nhiều âm vị (phonems), là một hiện tượng kỳ quặc chỉ có thể có với một cấu trúc ngữ pháp trong đó mỗi tiếng có thể gồm hai ba yếu tố có nghĩa (chẳng hạn, từ shla trong tiếng Nga (1 âm tiết) gồm có ba hình vị (ba yếu tố có nghĩa): sh có nghĩa là "đi", l có nghĩa "quá khứ", a có nghĩa "giống cái" [5] .

Từ đó ta có thể thấy rõ rằng chữ viết ABC, vốn phản ánh cái cấu trúc ấy, khó lòng thích hợp với tiếng Việt và cách tri giác của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ của họ. Tiếng Việt (và khá nhiều thứ tiếng khác ở Việt Nam), tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Myanmar, tiếng Malagasy (Madagascar), tiếng Mixteko, tiếng Mazateco, v.v. là những ngôn ngữ âm tiết tính, trong đó âm tiết là một đơn vị có cương vị ngôn ngữ học minh xác, lại không thể phân tích ra thành những "âm tố" có cương vị tương đương, trong khi trong các thứ tiếng châu Âu chính âm tố mới có cương vị của những đơn vị ngôn ngữ ("âm vị") còn âm tiết lại không có cương vị ngôn ngữ học gì. Không phải ngẫu nhiên mà châu Âu chính là nơi phát minh ra chữ viết ABC. Và sở dĩ thứ chữ này được phổ biến ra khắp thế giới, khônh phải vì một nguyên nhân ngôn ngữ học, mà chính là vì địa vị thống trị của các nước đế quốc chủ nghĩa ở châu Âu.

Hiện nay tất cả các khách du lịch đến nước ta đều kinh ngạc trước tình trạng người Việt không đọc được những dòng chữ đề trên các đền đài và di tích lịch sử. Họ nói "Các ngài là những người mù chữ ngay trên đất nước mình". Nạn mù chữ Hán cũng là cội nguồn của việc hiểu sai các từ Việt gốc Hán. Cũng như người Pháp không thể giỏi tiếng Pháp nếu không biệt tiếng La Tinh, người Việt Nam cũng không thể giỏi tiếng Việt nếu không biết chữ Hán, thứ chữ đã từng được dùng để viết hơn 70% số từ của tiếng Việt, những từ mà ngày nay vẫn được dùng với một tần suất rất cao.

Việc học chữ Hán không thể không được đưa vào chương trình trung học.

Ngày nay nhiều người, trong đó có cả những nhà ngữ học phương Tây, đã thấy rõ những ưu điểm lớn lao của chữ Hán. Có người còn tiên đoán rằng chỉ vài ba mươi năm nũa, cả thế giới sẽ nhất loạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc (theo họ, đến lúc ấy các hàng rào ngôn ngữ - barrières linguistiques - xưa nay vẫn ngăn cách các dân tộc, sẽ bị vô hiệu hoá, và đến lúc ấy nhân loại sẽ giao tiếp với nhau dễ dàng gấp trăm lần so với hiện nay.quay lại với chữ Hán. Việc từ bỏ chữ Hán để chuyển sang chữ Tây là một sự kiện không còn hoán cải được nữa rồi. Nhưng, cũng như một trận hồng thủy, những tác hại của nó có thể khắc phục được: ta còn có thể học và nghiên cứu chữ Hán như một di sản của văn hoá dân tộc, và do đó mà bảo tồn một truyền thống quý giá đi đôi với những nghệ thuật cao cả như thư pháp, vốn là tài sản chung của các dân tộc Viễn Ðông và có thể làm thành một mối dây liên lạc giữa các dân tộc rất gần gũi nhau về văn hoá này.

(Ðăng lần đầu trên Kiến thức ngày nay số 14, 15-6-1994) [6]
[1] Do đó, lối học đọc thông qua "đánh vần" là một cách làm sai trái ngay từ nguyên lý. Bây giờ trên thế giới không còn mấy nơi dùng cách học này

[2] Hiện nay là Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ (École francaise d´Extrême-Orient- trước đây ở Hà NộI, bây giờ ở Paris).

[3] Léon Vandermeersch 1985, Le nouveau monde sinisé. Paris: Seuil.

[4] Chẳng hạn, cách đọc Kan-on của chữ SƠN…* là [san], còn Go-on là [yama].

[5] Cao Xuân Hạo 1985, Phonologie et linéarité. Réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine. Paris: SELAF.

[6] Sau khi KTNN đang bài này, toà soạn có nhận đưọc nhiều ý kiến phản đối tác giả, trong đó có một bức thư viết :"... hình như ông Hạo học quá nhiều thứ vô bổ cho nên quên mất thứ quan trọng nhất: đạo làm người. Một người đã đưa nước Việt Nam từ cõi man rợ đến ánh sáng văn minh rực rỡ của châu Âu như Alexandre de Rhodes mà ông nỡ quên ơn thì thử hỏi ông đi học bấy nhiêu năm để làm gì?
Hoá ra công ơn của ông A.de Rhodes là thế. Tác giả bức thư không biết rằng vị thừa sai này tuyệt nhiên không góp một chút gì vào quá trình xây dựng chữ quốc ngữ (từ đầu đến cuối, đó là công sức của các giáo sĩ Bồ Ðào Nha, như những tài liệu mới công bố sau này đều xác nhận). Vả lại nước ta không thể coi là một nước "man rợ" trước khi có chữ "quốc ngữ", và việc Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và hàng trăm nuớc khác không la tinh hoá chữ viết mà vẫn tiến nhanh hơn ta nhiều, cũng cho thấy rằng cái "ơn" của thứ chữ này không lớn đến mức ấy.

Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Hội nghị Trung ương 6 ‘xem xét kỷ luật’



BBC Tiếng Việt




Hội nghị Trung ương 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến diễn ra trong tuần đầu tháng 10.

Dường như trường hợp Bí thư Đà Nẵng, Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyễn Xuân Anh, sẽ được Bộ Chính trị trình cho Ban Chấp hành Trung ương tại hội nghị xem xét mức kỷ luật.

Sáng 22/9, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã vào Đà Nẵng công bố chi tiết kết luận về các sai phạm của các lãnh đạo thành phố này.

Trước đó, ủy ban kỷ luật của Đảng đã công bố trên phương tiện truyền thông các vi phạm của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh và Chủ tịch UBND TP Huỳnh Đức Thơ

Theo quy trình của Đảng Cộng sản, sau buổi họp tại Đà Nẵng, các cá nhân liên quan sẽ tiến hành kiểm điểm, rồi trình cho tổ chức Đảng xem xét hình thức kỷ luật.


Trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, ủy viên Trung ương Đảng, sẽ do Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành trung ương xem xét mức kỷ luật.


Bàn Tròn: Chiến dịch kỷ luật của Đảng trước Hội nghị TƯ6

Vụ Đà Nẵng: Tổng Bí thư muốn ‘chấn chỉnh kỷ luật Đảng’?


Sáu cách chống tham nhũng để VN chọn


Đảng CS ‘cần kỷ luật thép’ để không tan rã?


• Chín dự án sẽ bị điều tra gồm: Công viên An Đồn, khu đô thị Harbour Ville của Công ty Cổ phần Đầu tư Mega, khu đất tại đường 2-9 – Phan Thành Tài đường quy hoạch, dự án Phú Gia Compoud, khu dịch vụ du lịch nhà hàng – cà phê – bar và bến du thuyền, dự án khu đô thị quốc tế Đa Phước (giai đoạn 1: 181 ha), lô 12 khu B4.1 khu dân cư An Cư mở rộng, khu đô thị sinh thái Phú Gia ven sông, khu du lịch ven biển đường Trường Sa của Công ty IVC (4,5 ha).
• 31 nhà, đất công sản gồm: 16 Bạch Đằng, 20 Bạch Đằng, 158 Bạch Đằng, 07 Bạch Đằng, 100 Bạch Đằng, 318 Lê Duẩn, 57 Lê Duẩn, 17 Lê Duẩn, 354 Hùng Vương, 81 Hùng Vương, 89 Hùng Vương, 45 Nguyễn Thái Học, 47 Nguyễn Thái Học, 73 Nguyễn Thái Học, 319 Lê Duẩn, 36 Bạch Đằng, 38 Bạch Đằng…
Sau thông báo của Ủy ban kiểm tra Trung ương, Bộ Công an cũng cho biết sẽ tiến hành điều tra việc bán nhà đất công tại Đà Nẵng từ năm 2006 đến nay.


Đồng thời, Thanh tra Chính phủ sẽ thanh tra việc chấp hành pháp luật đối với các dự án đầu tư xây dựng trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng từ 2003 đến 2016.


Chống tham nhũng là ‘tự ta đánh ta’?


Khi doanh nghiệp ‘tặng xe cho lãnh đạo’


Xung quanh vụ ‘đe dọa’ ông Huỳnh Đức Thơ


VN thúc đẩy kinh doanh trong bất ổn thể chế


Một loạt các báo chính thống tại Việt Nam cũng đăng các bài nêu “sai phạm” tại Đà Nẵng không chỉ dưới thời ông Nguyễn Xuân Anh, mà cả thời kỳ nắm quyền của cố Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh.


Thành phố Đà Nẵng từng được xem là mô hình nổi bật trong giai đoạn cuối nhiệm kỳ Bí thư của ông Nguyễn Bá Thanh (làm Bí thư Thành ủy từ 2003 đến 2013).


Ông Nguyễn Xuân Anh, sinh năm 1976, trở thành Bí thư thành phố này năm 2015.


Theo báo Pháp Luật TP. HCM, Bộ Công an đang điều tra các sai phạm trong việc thực hiện chín dự án và mua, chuyển nhượng 31 nhà, đất công sản thuộc sở hữu nhà nước tại Đà Nẵng từ năm 2006 đến nay.


Trong đó, đa số đều được thực hiện từ năm 2006 đến 2012.

Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

Tự do - Dân chủ - Nhân quyền kiểu Mỹ





Hoa Kỳ luôn là quốc gia mà một số thành phần cờ vàng 3 que và những thành phần cuồng Mỹ đem ra để so sánh với Việt Nam. Chúng suy tôn Mỹ như là chuẩn mực của văn minh nhân loại, của tự do - nhân quyền và kêu gào Việt Nam phải thay đổi theo khuôn khổ này. Nhưng thực tế bản chất của Mỹ không như những gì đã được tô vẽ trong 30 năm trở lại đây với 5 đời Tổng thống gần nhất. Nước Mỹ đã nhúng tay và trực tiếp dẫn dắt đồng minh can thiệp vào tất cả mọi quốc gia tiềm tàng những bất ổn trên thế giới, phớt lờ luật pháp quốc tế, mục đích là đem lại lợi ích cho chính nước Mỹ.

Hãy cùng nhìn lại những sự kiện, những cuộc chiến mà Mỹ đã trực tiếp nhúng tay :



Xa lộ 80 được mênh danh là Xa Lộ Chết chạy dài từ Kuwait City đến Basra in Iraq. Ảnh Voltairenet.org- Thảm sát ở Vùng Vịnh năm 1991 >

1. Beirut (1982-1983): Binh sĩ Mỹ triển khai ở Lebanon trong thành phần lực lượng "gìn giữ hoà bình 3 quốc gia". Cùng với Pháp, Mỹ đã mở các cuộc không kích để trả đũa cho vụ đánh bom vào trại lính khiến 299 lính Mỹ và Pháp thiệt mạng. (xem link)

2. Grenada (1983): Cuộc xâm lược của khoảng 7.000 lính Mỹ cùng 300 lính trong Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS) sau khi nổ ra cuộc đảo chính tại quốc đảo vùng Carribian này. (xem link)

3. Lybia (1986): Các cuộc không kích nhằm trả đũa chế độ của nhà lãnh đạo Moammar Kadafi sau vụ nổ tại một sàn disco ở Berlin (Đức) khiến 79 người Mỹ bị thương và 2 thiệt mạng. (xem link)

4. Panama (1989): Cuộc xâm lược của hơn 26.000 lính Mỹ xảy ra sau khi Tổng thống Manuel Noriega tuyên chiến với các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào quốc gia này.(xem link)

5. Iraq (1991): Cuộc xâm lược Iraq do Mỹ khởi xướng với sự tham gia của 33 nước khác đã hối thúc Hội đồng bảo an LHQ ra nghị quyết buộc Tổng thống Saddam Hussein rút quân khỏi Kuwait. (xem link)

6. Somalia (1992-1993): Các đơn vị lính Mỹ được triển khai đồng loạt cùng 35 nước khác để thực hiện chiêu bài "sứ mệnh an ninh và ổn định tình hình". Sau đó Mỹ đã "bỏ của chạy lấy người" sau khi xác định không thu được lợi lộc gì ở đây. (xem link)

7. Iraq (1993): Những cơn mưa tên lửa hành trình đã được trút xuống thủ đô Baghdad. (xem link)

8. Haiti (1994): Mỹ bất ngờ triển khai nhiều quân tham gia sứ mệnh "gìn giữ hoà bình và ổn định" tại quốc gia này. (xem link)

9. Bosnia (1994-1996): Trong vòng 18 tháng Mỹ và đồng minh NATO đồng loạt mở nhiều đợt oanh kích mà cao điểm là các đợt ném bom, pháo kích và bắn tên lửa hành trình nhằm vào lực lượng người Serbia tại Bosnia. Binh sĩ các nước NATO được triển khai suốt một thời gian dài tại đây. (xem link)

10. Iraq (1996): Nhiều đợt tấn công bằng tên lửa hành trình nhằm vào các mục tiêu ở miền Nam Iraq nhằm trả đũa cho các vụ tấn công máy bay chiến đấu Mỹ. (xem link)

11. Sudan, Afghanistan (1998): Các trại huấn luyện mà Mỹ cho là "khủng bố" tại Sudan và Afghanistan bị tấn công bằng tên lửa hành trình. (xem link)

12. Iraq (1998): Một loạt các mục tiêu tại Baghdad đã bị nã tên lửa hành trình để chống lại chế độ Saddam Hussein. (xem link)

13. Kosovo (1999): Các mục tiêu của Nam Tư cũ bị không kích và trúng tên lửa hành trình trong suốt 3 tháng tấn công. Ngoài ra, nhiều trạm điện, cầu cống và cơ sở hạ tầng khác của Nam Tư cũng bị phá hủy trong chiến dịch này của NATO do Mỹ chỉ huy. (xem link)

14. Afghanistan (2001): Cuộc xâm lược diễn ra trong khuôn khổ NATO sau khi xảy ra vụ 11/9/2001. Có khoảng 100.000 quân từ 48 nước do Mỹ cầm đầu đã xâm lược Afghanistan. Trong số này có 60.000 lính Mỹ. (xem link)

15. Iraq (2003): Cuộc xâm lược diễn ra với chiêu bài "nguyện vọng của liên minh" 48 nước, nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein. Khoảng 160.000 binh sĩ Mỹ đã có mặt ở Iraq lúc cao điểm của cuộc chiến. Sau khi đã biến Iraq thành bình địa và treo cổ Saddam Hussein, Mỹ trơ trẽn tuyên bố "không tìm thấy vũ khí giết người hàng loạt" ở Iraq. (xem link)

16. Lybia (2011): Mỹ đã nã hàng loạt tên lửa hành trình và trực tiếp chỉ huy chiến dịch do phương Tây hậu thuẫn cho quân nổi loạn Lybia. Kết quả, chế độ Kadafi bị lật đổ, bản thân ông và gia đình bị giết hại một cách man rợ và hèn mạt. Để rồi sau đó, truyền thông phương Tây thừa nhận "Kadafi không phải độc tài", sau này Obama thừa nhận sai lầm khi lật đổ Kadafi. (xem link)

17. Osama Bin Laden (2011): Dù không hẳn là một cuộc tấn công xâm lược từ nước ngoài. Nhưng vụ đột kích tiêu diệt thủ lĩnh Al-Qaeda đã được thực hiện khi không có sự cho phép của Pakistan. Quốc gia mà Bin Laden đã ẩn nấp, dẫn đến những rối ren và tranh cãi trong nội bộ nước này. (xem link)

Mới đây nhất là Ukraina và Syria, 2 quốc gia yên bình này bỗng rơi vào nội chiến, đất nước chia năm xẻ bảy chưa có hồi kết,...Và tất nhiên chiêu bài "dân chủ, nhân quyền" cũng được áp dụng. Không ai khác chính chú Sam đạo diễn và trực tiếp nhúng tay để "ổn định tình hình", nhưng chưa biết đến bao giờ mới thôi bất ổn.



Một trong các thảm cảnh ở Syria: khoảng 300 dân thường bị giết sau những thương thuyết hòa bình 03 Feb 2016

Ngoài ra, còn hàng ngàn vụ tấn công đẫm máu bằng máy bay không người lái do Mỹ và đồng minh thực hiện. Đa số diễn ra tại Afghanistan, Syria, Pakistan và Yemen. Trong đó có hàng trăm vụ "không kích nhầm" khiến hàng ngàn thường dân mà đa số là phụ nữ và trẻ em thiệt mạng...

Đó là những cuộc chiến vì "dân chủ, nhân quyền" mà Mỹ ban phát cho các quốc gia khác và để có cớ cho những cuộc chiến đó, trước tiên bao giờ cũng là "phong trào dân chủ", đòi "Đa Nguyên Đa Đảng", khi thời cơ chín mùi thì Mỹ sẽ trực tiếp nhúng tay để thay đổi thể chế chính trị tại những quốc gia này. Show less REPLY

hung nguyen 2 months ago

Bản chất đạo đức giả trong chính sách đối ngoại của nước Mỹ

Chính quyền Mỹ có thể lợi dụng giá trị nhân đạo để gieo rắc cái chết vào nhân dân một nước. Họ cũng có thể lợi dụng giá trị nhân đạo để lật đổ một chính quyền, gây hỗn loạn một đất nước để trục lợi… Nói cách khác những giá trị nhân đạo của Mỹ sẽ không công bằng với tất cả. Nhân đạo với những ai mà thể chế Mỹ cho là đồng minh mà thôi.

Trong tất cả các bản tin cũng như các hành động chính trị quân sự của Mỹ đều được gắn liền với một cái mác rất là hào nhoáng và đẹp đẽ một cách cao thượng đó là những hành động vì mục đích nhân đạo. Những lời lẽ mang tính tốt đẹp đó có đi liền với những nội dung và bản chất của nó không? Nói đến nhân đạo thì đây là một khái niệm mang tính nhân văn và nhân bản của con người chúng ta. Đó là lòng yêu thương cũng như chia sẻ giữa con người với con người trong hoàn cảnh đau thương, hoạn nạn. Giá trị nhân đạo theo tôi cần phải là những giá trị tốt đẹp và công bằng đối với những con người lúc đang gặp khó khăn… Đấy là cách hiểu nôm na và đơn giản nhất.

Tuy nhiên những giá trị này được thực thi dưới danh nghĩa của thế lực mang danh dân chủ mà đứng đầu là Mỹ tôi thấy nó có nhiều điều không ổn. Và có nhiều vấn đề cần phải nói. Tôi thấy tất cả các chính khách nước Mỹ đều nói về các giá trị nhân đạo khi họ đưa quân vào Lybia hay Afganistan, hay vào Iraq… Ngay cả những lần đem quân vào tham chiến ở Việt Nam các tổng thống Mỹ cũng không quên đi phụ họa các từ “giá trị nhân đạo” vào các bài phát biểu.Vậy giá trị nhân đạo đấy là ở đâu? Đấy là điều mà chẳng thấy ai làm sáng tỏ được bao giờ cả. Phải chăng các chính khách Mỹ đã quên đi bản chất tốt đẹp của giá trị nhân đạo thật sự? Chắc là không phải vậy.

Giá trị nhân đạo mà những chính trị gia Mỹ luôn tung hô ở đây là khác, phải là những giá trị đi liền với lợi ích của Mỹ. Trong chiến tranh Việt Nam, chính quyền Mỹ đã đem theo cả một toán quân ô hợp gồm lính Nam Triều Tiên, lính Úc, lính Thái, lính Mỹ… để tham chiến. Chắc hẳn ai cũng biết Quốc hội Mỹ luôn điều trần về số lượng người chết ở miền Nam Việt Nam và đổ lỗi cho đó là Việt Cộng. Nhưng không hề có một bằng chứng nào được đưa ra . Và đi liền với đó sẽ là một đạo luật để hỗ trợ nhân đạo được đưa ra. Và thế là quân Mỹ lại tràn vào Việt Nam để thực hiện cái sứ mệnh nhân đạo đó.

Quân Mỹ đã thực hiện cái sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo cao cả bằng các vụ thảm sát rùng rợn như vụ “thảm sát Mỹ Lai”. Giới quân sự Mỹ đã cho máy bay rải chất độc màu da cam xuống nước ta và để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho tất cả các thế hệ người Việt Nam về sau. Phải chăng đó là những minh chứng cụ thể cho các giá trị nhân đạo mà chính quyền Mỹ muốn tạo dựng nên. Và ngày nay cũng vậy.

Các chính khách Mỹ đã nuôi dưỡng các thế lực chống đối ở các nước mà Mỹ không vừa lòng. Để các thế lực mang danh dân chủ, tiếm danh nhân dân này chống đối, gây ra bạo loạn để chính quyền Mỹ lại có dịp để phổ biến cái giá trị nhân đạo của họ. Cụ thể ở Lybia, Iraq Mỹ đã luôn rêu rao rằng ở đó chế độ độc tài này nọ. Người Mỹ đã nuôi dưỡng những phe phái đối lập để chống lại chính quyền và khi nội chiến nổ ra người Mỹ lại có thừa cái cớ để cho rằng chính quyền đàn áp, chính quyền sử dụng vũ khí hóa học. Lúc đã lobby được các đồng minh thì Mỹ thiết lập vùng cấm bay và đem quân vào với mục đích “hỗ trợ nhân đạo”. Và thế là một chính quyền được xóa bỏ và dựng lên một chính quyền mới ký với Mỹ các thỏa thuận để cho Mỹ đóng quân. Và quan trọng hơn sau cùng là các tập đoàn của Mỹ sẽ nhảy vào để xâu xé đất nước này. Và sự việc này đang diễn ra với Syria hiện nay.

Qua đấy chúng ta có thể thấy các giá trị nhân đạo là thứ mà người Mỹ có thể lợi dụng bất cứ lúc nào để phục vụ các chính sách của giới chóp bu Mỹ. Chính quyền Mỹ có thể lợi dụng giá trị nhân đạo để gieo rắc cái chết vào nhân dân một nước. chính quyền Mỹ cũng có thể lợi dụng giá trị nhân đạo để lật đổ một chính quyền, gây hỗn loạn một đất nước để trục lợi… Hay nói cách khác những giá trị nhân đạo của Mỹ sẽ không công bằng với tất cả. Nhân đạo với những ai mà thể chế Mỹ cho là đồng minh mà thôi.

"Giá trị nhân đạo" phải thuộc guồng máy mà chính quyền Mỹ chỉ đạo và lợi dụng thì mới được họ coi là những giá trị nhân đạo thật sự. Tiêu biểu là trong cuộc xung đột ở bờ tây sông Jordan. Mỹ có thể chỉ trích chính quyền và người dân Palestine đã gây ra các cuộc xung đột mặc dù người dân Palestine luôn phải khốn khổ vì tị nạn, mất nhà mất cửa do quân đội Isarel bắn pháo và tên lửa vào lãnh thổ của họ. Và chính quyền phục Quốc Do Thái đã đối xử rất bất công với những người thuộc thế giới Ả-rập, nếu không muốn nói là phân biệt chủng tộc.

Israrel đã từng bắn chìm một tàu chở dân thường Palestine nhưng chính quyền Mỹ không lên tiếng mà còn bao che cho hành động đó. Đây là hành động ngược lại hoàn toàn với thái độ của Mỹ trong vụ việc được phương Tây mô tả là "Triều Tiên bắn chìm tàu quân sự Cheonan của Hàn Quốc". Đơn giản bởi ở đây phải nhìn thấy ai là đồng minh của Mỹ thì giá trị nhân đạo nằm ở nước đó. Ở đây có thể thấy người Mỹ đang ngồi xổm lên các giá trị nhân đạo tốt đẹp của con người để phục vụ các mục tiêu chính trị của họ. Hiện nay Mỹ đang rất muốn đem các “giá trị nhân đạo” vào để thay đổi chế độ của Việt Nam. Và người Mỹ đang tiến hành cái khúc dạo đầu là nuôi dưỡng các thế lực mạo danh "dân chủ".

Chính quyền Mỹ sẽ lên tiếng phản đối những hành vi giam giữ của chúng ta đối với những kẻ chống phá và cho rằng đó là sự thiếu nhân đạo. Nhưng xin thưa rằng người Mỹ vẫn chưa quên các vụ tra tấn tù nhân tại nhà tù vịnh Guantanamo và hoàng loạt các nhà tù chính trị khác của Mỹ chứ? Tình trạng "nhân đạo" ở đó ra sao mà khiến cho cả thế giới phải lên án? Trong khi những kẻ chống phá ở Việt Nam vào tù còn yêu sách đủ điều.



Cảnh tù nhân ở trại Guantanamo.

Chúng ta không thể để để các "nhà dân chủ" thân Mỹ gây rối loạn đất nước để chính quyền Mỹ lấy cớ đem "giá trị nhân đạo" vào nước ta như đã từng đem đến cho biết bao quốc gia bất hạnh khác.

Công nghệ tạo cớ xâm lược các nước có chủ quyền của Mỹ

Cuộc tấn công ồ ạt bằng tên lửa hành trình của Mỹ vào Syria ngày 07-4-2017 là thêm một minh chứng nữa về công nghệ gây chiến tranh xâm lược của bộ máy chiến tranh Mỹ. Đó là việc ngụy tạo ra đủ loại nguyên cớ khác nhau để biện minh cho hành động xâm lược các quốc gia có chủ quyền.

Sau Chiến tranh lạnh, khi không còn sự tồn tại của Liên Xô - yếu tố kiềm chế các kế hoạch phiêu lưu chiến tranh của Mỹ, các đời tổng thống Mỹ kế tiếp đều kế tiếp nhau gây chiến tranh xâm lược theo công nghệ quen thuộc là ngụy tạo cớ để phát động chiến tranh, không có sự cho phép của Hội đồng Bảo an và vi phạm nghiêm trọng Hiến chương LHQ.

1)- Năm 1991, tổng thống Mỹ G.Bush (cha) phát động chiến tranh xâm lược Iraq sau khi đưa Tổng thống Iraq Saddam Husein rơi vào bẫy “thôn tính Kuwait”.

2)- Năm 1999, tổng thống Mỹ Bill Clinton phát động chiến tranh xâm lược Nam Tư nhân danh “bảo vệ nhân quyền”, lấy cớ “nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

3)- Năm 2001, tổng thống Mỹ G.Bush (con) tiến hành chiến tranh ở Afghanistan vin cớ “chống khủng bố”.

4)- Năm 2003, lại là tổng thống Mỹ G.Bush (con) phát động cuộc xâm lược Iraq sau khi dựng lên câu chuyện hoang đường khác là “Iraq sở hữu vũ khí hóa học”.

5)- Năm 2011, tổng thống Mỹ Barack Obama- đã phát động chiến tranh xâm lược Libya mượn cớ “thiết lập vùng cấm bay” và sau đó tiếp tục dính líu vào cuộc chiến tranh ở Syria với cớ “chống khủng bố”.

6)- Năm 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ mới cầm quyền chưa được 3 tháng, đã phát động chiến tranh xâm lược Syria dưới cái cớ ngụy tạo là “quân đội Syria tấn công bằng vũ khí hóa học vào lực lượng đối lập”.

Hùng Nguyễn

Nguồn Comments on Video GS Nguyễn Mạnh Quang: 1954 - 1975: Người Mỹ có mặt để giúp Việt Nam hay để xâm lăng? hung nguyen 2 months ago

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

VỊNH CHÚ PHỈNH





Có ông Chú Phỉnh cuồng ngông
độc quyền độc đoán khơi dòng tham si
một lòng xây dựng thành trì
cột xương tường cốt thua chi thiên đàng

Rừng vàng biển bạc giàu sang
đồng tâm qui tụ sánh ngang đất trời
bão giông hạn hán cạn lời
dân đen lại được thảnh thơi cày bừa

Khen ông Chú Phỉnh tài lừa
thiên tai dịch họa lại chừa mình ông