Thứ Năm, 23 tháng 7, 2020

LÁ SỐ TỬ VI TRÚC THU

THÔNG TIN CÁ NHÂN Họ Tên Ph Ngày Sinh Tây Thứ Năm Ngày 30 Tháng 1 Năm 1964 Ngày Sinh Âm 16/12/1963 - Ngày Mậu Dần Tháng Ất Sửu Năm Quý Mẹo Giờ Miền Nam Từ 01/01/1960 đến 18/05/1975 UTC+8:00 hơn 1 giờ nên đã trừ lại 1 giờ cho đúng UTC+7:00 Giờ Sinh Giáp Dần (04:00) Giới Tính Âm Nam Tuổi 58 tuổi Quý Mẹo Tiết khí Sinh vào mùa Đại hàn (Rét đậm) - Kinh độ mặt trời 300° Trực Trực Trừ Cân Lượng 3 lượng 2 chỉ Mệnh Kim Bạc Kim (vàng lá vàng bọc) Cầm Tinh Xương con mèo, xuất tướng tinh con hươu. Sao Chủ Mệnh Văn Khúc Sao Chủ Thân Thiên Đồng Con Nhà Con nhà BẠCH ĐẾ (phú quý) Độ Mạng Ông Tử Vi độ mạng Màu Sắc hạp màu: vàng, trắng - kỵ: đỏ, đen Thân chào Quý Ông Ph. Chúng tôi xin gởi đến Quý Ông Ph lá số trọn đời này và luận giải cùng Quý Ông những vấn đề mà Quý Ông đang quan tâm trong lá số. Trong một số đoạn bình giải, có những đoạn được trích nguyên văn trong sách Tử Vi xưa nên văn phong có phần hơi thẳn thắn, nếu có phiền lòng thì xin Quý Ông Ph thông cảm bỏ qua vì đó là những lời bình được lập trình để bình giải lá số. Tổng Quát Bình Giải Quý Ông tuổi Quý Mẹo, được Thái Dương chiếu mạng, là người thông sáng, học một biết mười, việc gì chỉ nhìn qua là làm được. Thiên Can mang chữ Quý, là người thích hưởng thụ, an nhàn hơn là có ý chí phần đấu, Vượt gian khổ. Vì vậy, đa phần đều "ãn theo thưở, ở theo thời", không mấy thành công trong vai trò lãnh đạo chi huy, nhưng sự nghiệp có cợ hội Vươn cao, được người lớn "đỡ đầu", làm ít hưởng nhiều, duyên tinh êm ấm. Nghịch cảnh lỗi số, phải vất vả, bôn ba, duyên tình rối răm. Vơi Đào Hoa chiếu mạng, tinh cảm rói ren, gia đinh khó được ấm êm, phải vào cuối Trung Vận mới yên phân. Số có Thiên Ắt hộ độ, đã nhiều phen thoát hiểm khó ngờ, trong túng quẫn lại được gặp may. Người có Sao này, càng làm nhiều việc thiện càng được nhiều may lành, nếu không giàu có lớn thì cũng hường được nhàn an. Càng lớn tuổi càng nhiều phúc lộc. Bây giờ Quý Ông cũng đã có tuổi, hầu hết đều có cuộc sống an nhàn, sự nghiệp vững vàng, ít còn lo về vật chất. Nếu biết tu tâm dưỡng tính, cuộc sống được hạnh phúc ấm êm. Quý Ông cũng nên tham gia vào công tác xã hội, tìm được niềm vui trong việc giúp đỡ cho tha nhân, cuộc sống càng thêm có ý nghĩa. Nhìn xem số mạng tuổi này, Như vàng tây trắng có ngày giàu sang. Tiền vận vất vả khó con, Trung vận mạnh khỏe làm ăn hơn người. Trai thì lại có lắm nghề, Bụng người ngay thẳng không hề tham lam. Mùa Thu sanh đặng thuận mùa, Mùa Hạ hỏa khắc phải dời đổi thay. Bụng người cũng có tánh linh, Nghi đâu trúng đó thiệt tình chẳng sai. Nếu tu thì phước lại tăng, Tuổi già sung sướng lộc tài thiếu chi. Tuổi nhỏ phải chịu gian nan, Tuổi già vinh hiển giàu sang hơn người. Hạn năm Canh Tý 2020 Bình Giải Trong năm Canh Tý 2020 này, Quý Ông gặp Long đắc vũ: Là rồng được cơ hội làm mưa cho thiên hạ. Một năm hay lo việc bao đồng, chỉ đi lo việc cho kẻ khác. Về tình cảm: Nếu muốn tính việc gì thì nên thi hành ở đầu năm, đùng để cuối năm không tốt, thí dụ việc hôn nhơn chẳng hạn. Trong Năm Canh Tý 2020 này, Quý Ông Quý Mẹo 58 tuổi gặp sao Thái Bạch. Người bị sao Thái Bạch thường kỵ tháng 5, tuy nhiên có kiết, có hung. Người Nam giới, năm nay gia-đạo thăng trầm nên lo âu, nhưng có quới nhân giúp đỡ. Riêng người Nữ giới thường bị đau ốm, nên ngừa tiểu nhân và đưa đến sự tranh chấp. Trong năm Canh Tý 2020 này Quý Ông gặp hạn Tán Tận Hao tài, ngộ trúng. Đi đường đem tiền nhiều hoặc đồ nữ trang quý giá ắt bị cướp giựt và tánh mạng cũng lâm nguy. Chớ có hùm hạp hay đi khai thác lâm sản ắt gặp tai nạn. Quý Ông tuổi Mẹo gặp năm Tý 2020 phạm hình Thái Tuế cần đề phòng những chuyện thị phi, "tai bay vạ gió" nên nhường nhịn, tránh đối nghịch hoặc xen vào chuyện không phải của mình. Về cách cúng Thái Tuế thì phải có bài vị, cùng với lễ vật như hoa quả và cúng vào đầu tháng 1 âm lịch để giải trừ tai họa. Rồi đến cuối tháng 12 âm lịch cũng phải dùng lễ vật cúng để tiễn Thái tuế vì đã hết năm. Trong năm Canh Tý 2020 này, Quý Ông 58 tuổi Không phạm Hoang Ốc, mà được Nhất Cát (cũng gọi nhất Kiết) an cư, thông vạn sự. Làm nhà tuổi này sẽ có chốn an cư tốt nhất, mọi việc hanh thông, thuận lợi. Xem chi tiết sao hạn Quỷ Cốc Toán Mệnh Để chắc chắn và đi sâu hơn trong phần bình giải lá số tử vi, chúng tôi kết hợp thêm phần phụ đoán theo Quỷ Cốc Toán Mệnh để Quý Ông có thể biết rõ hơn về số mệnh mình. Xem Tướng chấm net nhận thấy tứ trụ của Quý Ông có Lưỡng Đầu Kiềm là Quý Giáp, ứng với quẻ SƠN LÔI DI. Theo Quỷ Cốc tiên sinh, đây là cục ĐĂNG LÂU VỌNG NGUYỆT (Lên lầu xem trăng), nghĩa là: Được người đề bạt tiến dần vào cảnh đẹp (Đắc nhân đề bạt tiệm nhập giai cảnh ) Các câu thơ sau chứa đựng nhiều hàm ý tiên định của Quỷ Cốc Tiên Sinh và cùng lời bình giản lược: • Thử mệnh vi nhân đặc đạt xử sự tinh tương, nại sự thời như Di đà cam 甘 thụy, bất nại sự thời như Kim Cương cử 舉 quyền, hữu cương nhu vô siểm 諂 khúc 曲, thị phi bạn túc danh lợi câu thân, nhi nữ bất tri tâm, thân tình tận vô nghĩa, chiêu tư 思 mộ toán 算 ngũ canh chỉ đắc nhị canh miên, thiên phương bách kế, tam hạn hoàn tha nhất hạn hảo, phong sương tảo lịch thiên thiên biến, phương tố thanh nhàn tự tại nhân • Mệnh này là người được cái đặc biệt, khi sự cần mẫn nhẫn nại thì như là Phật Di Đà ngủ say, khi sự chẳng nhẫn nại thì cứ như thần Kim Cương giương nắm đấm ra, có cứng rắn có mềm mỏng không nịnh nọt ton hót cong queo bậy bạ, phải trái vướng chân lợi danh bực mình, con trai con gái chẳng hiểu lòng, người thân tình đều hết thẩy chẳng có tình nghĩa, sáng lo nghĩ chiều mưu toan, năm canh giờ chỉ ngủ được hai canh giờ, phong sương sớm trải ngàn ngàn khắp chốn, rồi mới được làm người tự tại thanh nhàn. xem chi tiết Lượng Số Bình Giải Số 3 lượng 2 Tuổi trẻ bôn chôn ích lợi gì Từ hăm hai tuổi hết sầu bi Tiền tài danh vọng từ từ tới Họa phước tạo công đã định kỳ. Nói chung, Quý Ông có số lượng và số chỉ nầy lúc nhỏ được sung sướng tạo dựng nhà cửa. Vợ chồng sống rất hạnh phúc, sanh con cái rất thông minh. Sau nhờ con gái nhiều hơn. Sống xa cha mẹ hay anh em. Mệnh bình giải CAN SINH CHI: Quý Ông được trời ưu đải để làm việc. Vừa có khả năng vừa gặp may mắn thuận lợi để đưa đến thành công dễ dàng. Ngoài ra Quý Ông có cung mệnh ở thế sinh xuất (cung mệnh ở cung âm) tức là người hào sảng phóng khoáng, dễ tha thứ. MỆNH SINH CỤC: Quý Ông làm lợi cho thiên hạ. Ngoài ra Quý Ông có cung mệnh ở thế sinh xuất (cung mệnh ở cung âm) tức là người hào sảng phóng khoáng, dễ tha thứ. Tuổi Mão: Sao chủ Mệnh: Văn-Khúc. Sao chủ Thân: THIÊN-ĐỒNG. Rất thông minh, thành thật dũng mảnh, can đảm, bất khuất đôi lúc rất cứng đầu, có lòng trắc ẩn, đam mê, ưa thanh sắc bề ngoài, háo danh. Đàn bà thì có nam tính nhiều hơn nữ tính. Phúc thọï, công danh, sự nghiệp, đều khá tốt. Đàn bà thì đảm đang, đôi lúc phụ trách cả những công việc của nam giới (TƯỚNG miếu, vượng, đắc địa). Người khoan dung, trọng hậu (Tả-Phù, Hữu-Bật). Mệnh có Đà-La tọa thủ ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân thì không chết non cũng bị hình thương khắc hại có thể ly tổ xuất ngoại thì thành cơ nghiệp nếu mệnh có Cát, Chính-tinh thì chủ người phá tướng. Mệnh có Long-Trì, Phượng-Các, Tả-Phù, Hữu-Bật: Có công danh phú quí to lớn ít ai bì được. Trong đời thế nào cũng gặp một vị có địa vị cực kỳ lớn. Mệnh có Hữu-Bật, THIÊN-TƯỚNG tọa thủ đồng cung tại Hợi tất được hưỡng phúù quí nhưng không bền. Tính bướng bỉnh, ương ngành, ngoan cố, hay ưu tư, lo lắng phiền muộn, cô độc, thích chơi bời, ưa chuộng món ngon, thích mặc đẹp. Có thể bị mồ côi sớm (Bạch-Hổ (Kim) Hãm-địa). Tính cứng cỏi, chịu khó, giỏi chịu đựng, ưa làm theo ý mình. Riêng Kim mệnh: "Bạch Hổ thuộc kim, Kim Mệnh phùng thử, thuỷ nhị thú (lấy vợ 2 lần). Người có Đà La đơn thủ thì "có thân hình cao dài, hơi gầy, da xám, lông tóc rậm rạp, mặt thô, răng xấu, mắt kém, chân tây dài, trong mình thường có tỳ vết và thẹo". (Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số trang 139). Về tính tình. Nếu đắc địa ở Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ Hợi thì: can đảm, dũng mãnh, thâm trầm có mưu cơ thủ đoạn. Nếu hãm địa thì hung bạo, gian hiểm, độc ác, dâm dật. Can đảm, dũng mảnh, quả quyết, thích nhanh chóng, sỗ sàng. Những người tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nên chọn nghiệp võ mới tốt nếu chọn nghiệp văn thì lận đận (Đà-La (Kim) Đắc-địa). Hay cứu giúp người khác, cẩn thận, cặn kẻ, có nhiều mưu trí, tài năng, có nhiều bạn bè, nhiều người giúp đở, ủng hộ. Sớm lìa bỏ gia đình để đi lập nghiệp ở phương xa (Hữu-Bật (Thổ)). Riêng đàn bà thì hiền lành, lương thiện. Rất kỵ gặp LIÊM-TRINH vì dễ bị tù tội ngoài ra nếu gặp Kình-Dương, Đà-La xung phá thì hà tiện. Đặc tính chính của Quý Ông là xa quê hương lập nghiệp. Nhanh nhẹn, can đảm, tính tình mạnh bạo, có sức khỏe, uy quyền, rất tháo vát (Lực-Sỉ (Hỏa)). Khôn ngoan, đa mưu, túc trí, biết quyền biến. "Tuyệt là giai đọan đi sau Mộ, nếu không có sự xung phá kia để phục hồi thì sẽ diệt hẳn." (Trích sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Vũ Tài Lục trang 266) Nếu bạn tin vào thuyết "Nhân Qủa" thì người tuổi Mão có sao Thiên-Tài ở ĐIỀN-TRẠCH: Nên lo nghỉ đến nhà cửa, nơi trú ngụ là việc quan trọng (trích TỬ VI CHỈ NAM của Song-An Đỗ-văn-Lưu, Cam-Vũ trang 286). Thân bình giải Thân cư Quan-Lộc: Người có cách này thường hoạt động, làm việc không mệt mõi và rất đam mê với công việc chuyên môn của mình. Đây là một con người rất có tinh thần trách nhiệm. Thân có Thiên-Khôi tọa thủ, tất là con trưởng. Nếu không sau cũng đoạt trưởng. Hạn gặp cung này sẻ gặp nhiều may mắn. Nếu là kẻ sỉ đi thi tất đổ cao ví như bẻ được cành quế. Đối với xã hội Quý Ông ra đời sẻ được nhiều người quí mến, trọng vọng. Thân có Tả-Phù, Hữu-Bật là người khoan dung, trọng hậụ Thân cư Thái-Tuế dữ nhân quả hợp. Thân có Thái-Tuế tọa thủ ít giao du, ít bạn bè. Phụ Mẫu bình giải Cha mẹ thường là người tài hoa, phóng đảng (Đào-Hoa, Hồng-Loan). Sớm khắc một trong hai thân. Nếu không, tất phải sớm xa cách hai thân (TRIỆT án ngử). Cha mẹ có của nhưng con phá tán mất khá nhiềụ Cha mẹ và con không hợp tính nhaụ (Lộc-Tồn (Thổ)). Cha mẹ là người sáng suốt, ưa tiến tới, có lòng lành. Đức độ, đoan chính, hòa nhã, từ bi, hay giúp đở làm phúc. Là người bạn tốt, biết chiều đải nhân nhượng, không làm hại, trái lại hay giúp đở, tha thứ (Phúc-Đức (Thổ)). Nếu đi với Đào-Hoa, Hồng-Loan thì là người có duyên, có phẩm hạnh, thu hút người khác bằng tính nết đoan trang. Đức độ, đoan chính, hòa nhã, từ bi, hay giúp đở làm phúc. Là người bạn tốt, biết chiều đãi nhân nhượng, không làm hại, trái lại hay giúp đở, tha thứ (Thiên-Đức (Hỏa)). Nếu đi với Đào-Hoa, Hồng-Loan thì là người có duyên, có phẩm hạnh, thu hút người khác bằng tính nết đoan trang. Thông minh, học rộng, có tài tổ chức, có nhiều sáng kiến, biết quyền biến theo nhiều hoàn cảnh. Tính nhân hậu, từ thiện, đoan chính (Lộc-Tồn (Thổ)). Cha mẹ chơi bời, trụy lạc, dễ sa ngã (Thiên-Riêu (Thủy)). Phúc đức bình giải Hay vướng phải tai họa nguy hiểm. Có khi vướng phải vòng lao lý, cùng đồ. Phải xa quê hương mới mong được an toàn Trong họ có nhiều người yểu tử hoặc bị ác tật, hay mắc tù tội, khốn cùng (LIÊM, SÁT). Giảm thọ. Khó tránh được tai họạ Trong họ có nhiều người chết bất đắc kỳ tử (SÁT, Kình đồng cung). Giảm thọ. Khó tránh được những sự chẳng lành. Suốt đời lao khổ. Họ hàng ly tán, lại có nhiều người mang tàn tật ác bệnh. Nếu không cũng là hạng du đảng, cùng khổ chết non (Kình, Đà, Không, Kiếp). Bất hạnh lớn về nhiều phương diện: dòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo hay sự nghiệp có lần tan tành hay tuổi thọ bị chiết giảm hoặc đau ốm triền miên vì một bệnh nan y khó chửa (Địa-Kiếp (Hỏa) hãm-địa). Trong họ có người lưu manh, xão trá (Kình, Quan-Phủ). Tổ phụ bại vong (Không, Kiếp). Phải lập nghiệp xa quê hương mới khá giả. Họ hàng xa sút nhất là ngành trưởng (Tuần, Triệt). Điền trạch bình giải Chú ý: cung Điền xấu thì con người nghèo về nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, hoa màu, cơ xưởng làm ăn, vật phẩm sản xuất. Cung Điền xấu không có nghĩa là nghèo tiền bạc (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398). Không được thừa hưởng tổ nghiệp (Vô - chính - Diệu). Quan lộc bình giải Có thể bị người dưới quyền khinh ghét (Hao, Quyền). Thường hành nghề luật sư, giáo sư, quan tòa Nếu làm chính trị thì thiên về đối lập, thì chỉ trích và cũng bị chỉ trích trong nghề nghiệp (Thái-Tuế (Hỏa)). Tứ-Linh cách. Có cách này rất rực rở về công danh, tài lộc. Đường đời là một chuổi dài may mắn kế tiếp nhau (Long, Phượng, Hổ, Cái). Được nhiều người nâng đở trên đường công danh (Tả-Phù, Hữu-Bật). Nô bộc bình giải Gặp được tôi tớ đắc lực, trung tín (Thiên-Quí (Thổ)). Thiên di bình giải Buôn bán cũng được lợi ích. Ra ngoài hay gặp những sự phiền lòng. Đôi khi còn mắc tai nạn rất đáng lo ngạị Tâm tính không ổn định (VŨ, PHÁ). Suốt đời long đong vất vả. Này đây mai đó. Khó tránh thoát được tài nạn xe cộ. Chân tay hay bị đau đớn vì có thương tích (TUẦN, TRIỆT, Mã). Buôn bán này đây mai đó, rất phát tài (Lộc-Tồn, Thiên-Mã). Long đong (Mã ngộ Tuần, Triệt). Buôn bán phát đạt (Mã ngộ Lộc). Bạn hữu bất hoà (Điếu Khách ngộ Tang Môn). Hay bị thất bại (Mã, Tuần, Triệt). Hay mắc tai nạn; hoặc bị giam cầm (PHÁ, Tuần, Triệt). Phú: "Việt Khôi là cách ung dung, Việt thường nhờ bạn, Khôi thường gặp sang." Không thích giao thiệp nhiềụ Ra ngoài ít bạn mà bạn không giúp mình (Cô-Thần (Thổ)). Thường xuất ngoại, hay đi du lịch hoặc làm việc có tính cách lưu động hoặc làm việc ở ngoại quốc. Nay đây mai đó (Thiên-Mã (Hỏa)). Hay giúp đở người khác và được nhiều người khác giúp đở (Thiên-Phúc (Hỏa)). Tật ách bình giải Phú: "Ba phương chiếu lại một phường, Thấy sao Tử Phủ, Thiên Lương cùng là, Thiên Quan, Thiên Phúc hợp hòa, Giải Thần, Nguyệt Đức một tòa trừ hung." Giải trừ bệnh tật tại ương (Địa-Giãi (Thổ)). Cứu giải những bệnh tật hay tại ương nhỏ (Thiếu-Âm (Thủy)). Tài bạch bình giải "Đại Phú do Thiên, Tiểu Phú do cần cù". Chú ý: Cung Tài chỉ diễn tả tình trạng sinh kế tổng quát của cuộc đời, chớ không mô tả hết sự thăng trầm của từng giai đoạn. Thành thử, muốn biết cái nghèo trong từng chi tiết, trong từng thời kỳ, người xem số phải đoán các cung Hạn (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398). Giàu có, giữ của bền vững (PHỦ đơn thủ tại Mùi). Dễ làm giàụ Luôn gặp người giúp đở tiền bạc (Tả-Phù, Hữu-Bật). Bị kiện vì tiền bạc hay bị lường gạt (Quan-Phủ (Hỏa)). Hao hụt của cải (Thiên-Giải (Hỏa)). Hao hụt của cải (Giải-Thần (Mộc)). Tử tức bình giải Từ năm con trở lên. Nếu gái nhiều hơn trai mới dễ nuôị Thường có con dị bào (CƠ, NGUYỆT tại Thân). Có thể có con dị bàọ Nếu là dương cung thì đoán là cùng cha khác mẹ. Nếu là âm cung thì đoán là cùng mẹï khác cha (CƠ, NGUYỆT, ĐỒNG, LƯƠNG). Nhiều con, đông con (Đế-Vượng, Trường-Sinh). Con thông minh (Hóa-Khoa (Thủy)). Muộn con, đa sinh, thiểu dưỡng (Thiên-Hình (Hỏa)). Phu / Thê bình giải Hội với cát tinh vợ chồng hòa thuận đến trăm năm đầu bạc. Nam, nếu lấy vợ nhiều tuổi hơn mới hợp với mạng số. Muộn lập gia đình mới mong được bách niên giai lãọ Nhưng dù sao chăng nữa, trong nhà cũng hay có sự bất hòa vì một trong hai người hay ghen tương (TỬ, THAM đồng cung). Vợ chồng có lúc xa cách nhau lâu dàị Có thể phải lập gia đình nhiều lần hay góa bụạ Nếu lấy lẽ, lấy kế thì tránh được hình khắc chia ly (Địa-Kiếp, Địa-Không). Phú "phối cung Không Kiếp trùng sinh. Trải hai, ba đồ mới thành thất gia". Nếu gặp Không Kiếp đắc địa thì có thể là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là mỗi người sống một nơi, lâu lâu mới xung hợp một lần, hoặc là gặp phải ngang trái nặng trong tình duyên. Phú: "Phu Thê Không Kiếp trùng xung, Trải hai ba độ mới xong cửa nhà". Phú: "Phối cung Không Kiếp kể chi, Trải hai ba độ họa may mới toàn." Tình duyên tiền trể hậu thành, phải chờ 1 chút (Kiếp, Không). Người phối ngẩu hay âu lo, sầu thảm (Thiên Hư, Thiên Khốc). Ít ra phải tan vở 1 cuộc tình (Hao). Vợ chồng thường hay bất hòạ Tình cảm gia đình đôi phen sóng gió giận hờn. Vì Hóa Kỵ là cái lưỡi nghiã bóng là lời nói không đẹp nên sự xích mích bắt nguồn từ những câu nói vụng về. Có thể đi tới việc đấu khẩu, cãi vã bằng không, cũng ngấm ngầm phiền trách nhau mà không nói ra (Hóa-Kỵ (Thủy)). Huynh đệ bình giải Ít anh chị em, nên ở riêng nhưng đôi khi lại có nhiều anh em dị bào (CỰ đơn thủ tại Tuất). Anh chị em hòa thuận và thường giúp đở lẩn nhaụ Có thể có anh chị em nuôi hay có anh chị em kết nghĩa (Ân-Quang (Mộc)). Hôn nhân / Hỉ tín Hạn tuổi năm22: Hạn tuổi năm23: Hạn tuổi năm24: Hạn tuổi năm25: Hạn tuổi năm26: Hạn tuổi năm27: Hạn tuổi năm28: Hạn tuổi năm29: Hạn tuổi năm30: Hạn tuổi năm31: Hạn tuổi năm32: Hạn tuổi năm33: Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm34: Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm35: Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm36: Hạn tuổi năm37: Hạn tuổi năm38: Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm39: Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm40: Có hỉ tín (Thanh-Long, Hồng, Đào). Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Hạn tuổi năm41: Hạn tuổi năm42: Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Hối thúc, làm cho nhanh chóng (Hỏa-Tinh (Hỏa)). Chỉ sự phản bội, phụ rẩy trong tình yêu (Quan-Phù (Hỏa)). Hạn tuổi năm43: Hạn tuổi năm44: Hạn tuổi năm45: Hạn tuổi năm46: Hạn tuổi năm47: Hạn tuổi năm48: Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Hối thúc, làm cho nhanh chóng (Hỏa-Tinh (Hỏa)). Chỉ sự phản bội, phụ rẩy trong tình yêu (Quan-Phù (Hỏa)). Hạn tuổi năm49: Hạn tuổi năm50: Hạn tuổi năm51: Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Hối thúc, làm cho nhanh chóng (Hỏa-Tinh (Hỏa)). Chỉ sự phản bội, phụ rẩy trong tình yêu (Quan-Phù (Hỏa)). Hạn tuổi năm52: Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm53: Hạn tuổi năm54: Hạn tuổi năm55: Hạn tuổi năm56: Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm57: Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm58: Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm59: Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm60: Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hạn tuổi năm61: Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Hôn nhân / Hỉ tín Cung hạn cung Tí. Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Làm cho khó khăn, chậm trể cuộc hôn nhân (TRIỆT). Hối thúc, làm cho nhanh chóng ( Linh-Tinh (Hỏa)). Cung hạn cung Sữụ Có hỉ tín (Thanh-Long, Hồng, Đào). Có hỉ tín (Sát, Phá, Liêm, Tham, Hồng). Làm cho khó khăn, chậm trể cuộc hôn nhân (TRIỆT). Chỉ việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại (Địa-Kiếp (Hỏa) Hãm-địa). Chỉ sự phản bội, phụ rẩy trong tình yêu (Quan-Phủ (Hỏa)). Cung hạn cung Dần. Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Chỉ sự cản trở, thường bắt nguồn từ cha mẹ bên cô dâu hay bên chú rể. Cũng có thể chỉ sự phá hoại, rình rập bêu xấu của một kẻ thứ ba nào đó (Phục-Binh (Hỏa)). Cung hạn cung Mãọ Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Khôi (Hỏa)). Làm cản trở sự kết duyên (Thái-Tuế (Hỏa)). Cung hạn cung Thìn. Có hỉ tín (Thanh-Long, Hồng, Đào). Làm cho khó khăn, chậm trể cuộc hôn nhân (TUẦN). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Làm cho khó khăn, chậm trể cuộc hôn nhân (TUẦN). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Cung hạn cung Tỵ. Cung hạn cung Ngọ. Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Sanh con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Lanh lợi, nhậm lẹ, làm cho nhanh chóng (Phi-Liêm (Hỏa)). Kén chọn hay ngăn trở (Đẩu-Quân (Hỏa)). Cung hạn cung Mùị Có hỉ tín (Long-Trì, Phượng-Các, Hỉ). Hối thúc, làm cho nhanh chóng (Hỏa-Tinh (Hỏa)). Chỉ sự phản bội, phụ rẩy trong tình yêu (Quan-Phù (Hỏa)). Cung hạn cung Thân. Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Hồng, Thiên-Hỉ). Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Cung hạn cung Dậụ Cung hạn cung Tuất. Có con xinh đẹp (Thai, Thanh-Long, Thiên-Hỉ). Cung hạn cung Hợị Sinh Con / Hỉ tín Hạn tuổi năm22: Hạn tuổi năm23: Hạn tuổi năm24: Hạn tuổi năm25: Hạn tuổi năm26: Hạn tuổi năm27: Hạn tuổi năm28: Hạn tuổi năm29: Hạn tuổi năm30: Hạn tuổi năm31: Hạn tuổi năm32: Hạn tuổi năm33: Hạn tuổi năm34: Hạn tuổi năm35: Hạn tuổi năm36: Hạn tuổi năm37: Hạn tuổi năm38: Hạn tuổi năm39: Có con (Thai, Thanh-Long, Đế-Vượng). Hạn tuổi năm40: Hạn tuổi năm41: Hạn tuổi năm42: Hạn tuổi năm43: Hạn tuổi năm44: Hạn tuổi năm45: Hạn tuổi năm46: Hạn tuổi năm47: Hạn tuổi năm48: Có con (Thai, Phủ, Tướng, Long, Phượng). Có con (Thai, Mộc, Long, Phượng). Hạn tuổi năm49: Hạn tuổi năm50: Hạn tuổi năm51: Hạn tuổi Người tuổi Mão kỵ năm: Tỵ, Hợi, Mão, Dậu và hạn Tam-Tai: Tỵ, Ngọ, Mùị Năm hạn: Tỵ, Hợị Năm xung: Dậụ Hạn xấu Cung hạn cung Tí. Cung hạn cung Sữụ Cung hạn cung Dần. Cung hạn cung Mãọ Cung hạn cung Thìn. Cung hạn cung Tỵ. Tang-Môn gặp Điếu, Hình: Coi chừng bị bệnh nặng hay có tang lớn. Nếu không, nên phòng ngừa tai nạn xe cộ hay té ngã từ trên cao xuống. Tang, Khách, Kỵ, Hình: Coi chừng có tang... Cung hạn cung Ngọ. Cung hạn cung Mùị Cung hạn cung Thân. Cung hạn cung Dậụ Cung hạn cung Tuất. Cung hạn cung Hợị Hạn tổng quát Cung hạn: cung Tí. Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Cung hạn: cung Sữụ Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. LIÊM-TRINH gặp THAM, SÁT, PHÁ: Coi chừng đau yếu, hay bị oán trách. Kình Dương sáng sủa tốt đẹp: Coi chừng bị đau yếu, lo buồn, mưu sự tất thành một cách nhanh chóng, nhưng rồi lại bị phá tan ngaỵ Trong cái may có chứa đựng nhiều cái rủị Kình Dương sáng sủa (tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi): Mọi sự hạnh thông, tài quan song mỹ. Kình Dương gặp Kiếp, Kỵ: Coi chừng bị đâm chém. Cung hạn: cung Dần. Thủy-Mệnh: Hạn đến cung Dần, thuộc quẻ Cấn, thuộc Mộc. Thủy dưởng Mộc, ví như nước tươi tắm cho cây cỏ, về sau khô cằn nên Bản-Mệnh lâm vào chổ bế tắc. Bởi vậy mọi việc đều trắc trở, không được xứng ý, toại lòng. Cung hạn: cung Mãọ Thiên-Khốc: Có chuyện buồn phiền, đau yếụ Mưu sự trước khó sau dễ. Cung hạn: cung Thìn. Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Tứ Vinh: Phú có câu: "Qúi, Ân: Mùi, Sửu hạn cầu, Đường mây gặp bước cao sâu cửu trùng". Bởi vậy thi cử nếu hạn gặp được Ân, Quí dễ dàng đổ đạt, mà gặp lúc đau ốm cũng chống khỏị Quang, Quí gặp được Thai - Phụ, Phong Cáo gọi là Tứ - vinh càng dễ hiển đạt. Quang, Quí gặp Tả, Hữu, Thanh Long, Khôi, Việt, Hoa - Cái, Hồng Loan là thượng cách, thế nào cũng có chức tước lớn. Phú có câu: "Quí, Ân, Thanh, Việt, Cái, Hồng, Trai cận Cửu - trùng, gái tắc cung phị" Có bằng cấp, được khen thưởng (Thai Phụ, Phong Cáo). Cung hạn: cung Tỵ. Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Tang-Môn gặp PHÁ, Ky (nếu nhập Hạn tại cung Nô-Bộc): Coi chừng làm ơn mắc oán. Tang-Môn gặp Điếu, Hình: Coi chừng bị bệnh nặng hay có tang lớn. Nếu không, nên phòng ngừa tai nạn xe cộ hay té ngã từ trên cao xuống. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Phát tài (đại hạn 10 năm, tiểu hạn 1 năm) (Mã ngộ Lộc) Phú: "Mã ngộ Trường Sinh, thanh vân đắc lộ" (Công danh hiển hách) Phát tài (đại hạn 10 năm, tiểu hạn 1 năm) (Mã ngộ Trường Sinh). Cung hạn: cung Ngọ. NHẬT gặp Long-Trì, Thanh-Long: Coi chừng trong nhà có người mắc tai nạn sông nước. Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Cung hạn: cung Mùị THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn giàu sang (Long Trì, Phượng Các). Phú: "Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long, Công danh quyền thế lẫy lừng một phen." Cung hạn: cung Thân. NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Tứ Vinh: Phú có câu: "Qúi, Ân: Mùi, Sửu hạn cầu, Đường mây gặp bước cao sâu cửu trùng". Bởi vậy thi cử nếu hạn gặp được Ân, Quí dễ dàng đổ đạt, mà gặp lúc đau ốm cũng chống khỏị Quang, Quí gặp được Thai - Phụ, Phong Cáo gọi là Tứ - vinh càng dễ hiển đạt. Quang, Quí gặp Tả, Hữu, Thanh Long, Khôi, Việt, Hoa - Cái, Hồng Loan là thượng cách, thế nào cũng có chức tước lớn. Phú có câu: "Quí, Ân, Thanh, Việt, Cái, Hồng, Trai cận Cửu - trùng, gái tắc cung phị" Có bằng cấp, được khen thưởng (Thai Phụ, Phong Cáo). Thăng quan, tiến chức (Tướng Quân, Quốc Ấn). Cung hạn: cung Dậụ TỬ-VI tại Tỵ, Hợi, Mão, Dậu: Danh tài bình thường và nếu có tai họa cũng khó mà giải trừ. TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có VŨ-KHÚC, Lộc, Mã : Có danh chức, tài lộc. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp PHÁ, Kình: Coi chừng gặp chuyện ẩu đả hay bị thương tích nặng. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Mất quyền chức, lưu vong, chạy trốn (Tử Vi gặp Không Kiếp). Cung hạn: cung Tuất. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Cung hạn: cung Hợị Đà-La sáng sủa tốt đẹp: Mưu sự tất thành một cách nhanh chóng. Nhưng may đi liền với rủị Đà-La gặp Tuế: Coi chừng có tang hay bị thị phi tai tiếng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Phú: "Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long, Công danh quyền thế lẫy lừng một phen." Hạn tuổi năm2: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm3: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Hạn tuổi năm4: Bạch-Hổ gặp Phi-Liêm: Mọi chuyện thông suốt, danh tài hoạnh phát, trong nhà có chuyện vui mừng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Hạn tuổi năm5: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Hạn tuổi năm6: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm7: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm8: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm9: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm10: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm11: Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Hạn tuổi năm12: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm13: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm14: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm15: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm16: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm17: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm18: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm19: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm20: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm21: Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Hạn tuổi năm22: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm23: TỬ-VI có Khôi, Việt hội hợp: Được danh giá, nếu tranh chấp với ai cũng thắng lợị TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm24: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm25: TỬ-VI có Khôi, Việt hội hợp: Được danh giá, nếu tranh chấp với ai cũng thắng lợị TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm26: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm27: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm28: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có THIÊN-LƯƠNG, Hóa-Kỵ: Coi chừng bị thương tích. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Hóa-Kỵ gặp Hồng, Đào: Coi chừng tơ duyên rắc rốị Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm29: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. TỬ-VI gặp Kình Dương, Đà, Kiếp, Kỵ: Đau ốm, mắc lừạ THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm30: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm31: TỬ-VI gặp Tam-Không, Kiếp, Kỵ: Đau ốm nặng, mất của, phá sản. THAM-LANG có Không, Kiếp: Coi chừng bị hao tốn tiền tài, hay bị truất giáng nếu có công danh. Địa-Không gặp THAM: Tiền tài hao tán, mọi chuyện đều bế tắc. Hóa-Kỵ gặp Không, Kiếp: Coi chừng tai nạn liên miên, mất củạ Nếu có quan chức có thể bị mất chức vì ăn hối lộ. Thiên-Hư: Coi chừng sức khỏe kém, hay có chuyện buồn bực hay có thể bị đau răng. Hạn tuổi năm32: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm33: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm34: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm35: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm36: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm37: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm38: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp THIÊN-TƯỚNG: Có uy quyền chức tước lớn. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm39: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm40: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm41: NGUYỆT gặp Thiên-Hình: Coi chừng có thể bị thương tích ở mắt. Tướng-Quân gặp Hình, Ấn: Nếu có chức tước tất được cao thăng. Nếu là võ quan thì có binh quyền lớn trong taỵ Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Hóa-Khoa: Mọi sự thông suốt. Đang đau yếu hay mắc tai nạn thì sẻ được cứu giảị Bát-Tọa: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm42: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm43: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Long-Trì gặp Điếu: Coi chừng bị té ngã xuống sông, hồ. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm44: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm45: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Long-Trì gặp Điếu: Coi chừng bị té ngã xuống sông, hồ. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm46: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm47: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm48: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm49: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm50: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm51: THIÊN-PHỦ: Công danh hiển đạt, tiền tài tăng tiến. Hỏa-Tinh gặp Linh-Tinh, Mộäc Dục: Coi chừng bị phỏng. Bạch-Hổ gặp Tấu-Thơ: Mưu sự toại lòng. Nếu có quan chức tất được thăng quan tiến chức. Nếu thi cử thì chắc chắn sẻ đổ. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Long-Trì gặp Mộc Dục: Coi chừng tai nạn sông nước. Đàn bà gặp hạn này rất đáng lo ngại khi sanh sở. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Giải-Thần: Coi chừng sao Giải-Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ. Nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn, Giải-Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trong trường hợp này Giải-Thần chính là Tử-Thần. Hạn tuổi năm52: NHẬT gặp Long-Trì, Thanh-Long: Coi chừng trong nhà có người mắc tai nạn sông nước. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm53: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm54: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm55: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm56: Bạch-Hổ gặp Phi-Liêm: Mọi chuyện thông suốt, danh tài hoạnh phát, trong nhà có chuyện vui mừng. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm57: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm58: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm59: Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm60: NHẬT gặp Long-Trì, Thanh-Long: Coi chừng trong nhà có người mắc tai nạn sông nước. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm61: NHẬT gặp Long-Trì, Thanh-Long: Coi chừng trong nhà có người mắc tai nạn sông nước. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Thiên-Giải, Địa-Giải: Giải trừ được tai họạ Tam-Thai: Có danh chức, tài lộc dồi dàọ Hạn tuổi năm62: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Tang-Môn gặp Điếu, Hình: Coi chừng bị bệnh nặng hay có tang lớn. Nếu không, nên phòng ngừa tai nạn xe cộ hay té ngã từ trên cao xuống. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm63: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm64: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Lộc-Tồn gặp Hóa-Lộc đồng cung: Phát tàị Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm65: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm66: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm67: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm68: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Tang-Môn gặp Điếu, Hình: Coi chừng bị bệnh nặng hay có tang lớn. Nếu không, nên phòng ngừa tai nạn xe cộ hay té ngã từ trên cao xuống. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm69: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Long-Trì, Phượng-Các gặp Hỉ: Nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng. Đường-Phù gặp Long, Phượng: Mua tậu được nhà đất. Thiên-Mã gặp TỬ, PHỦ: Danh tài hưng vượng, phú quí cực độ. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm70: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm71: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Hóa-Lộc gặp THAM, VŨ: Mọi sự hạnh thông, danh tài hưng vượng. Nếu kinh doanh lại càng phát đạt. Tang-Môn gặp Điếu, Hình: Coi chừng bị bệnh nặng hay có tang lớn. Nếu không, nên phòng ngừa tai nạn xe cộ hay té ngã từ trên cao xuống. Thiên-Mã gặp TUẦN, TRIỆT: Mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở. Có thể bị tai nạn thương tích. Nếu thay đổi chổ ở cũng đở lo ngại một phần nào những sự chẳng lành. Hóa-Lộc: Tài lộc phong phú. Đau ốm chóng khỏị Thăng quan tiến chức. Tang-Môn: Coi chừng đau bệnh, mất của, tù tội hay có thể có tang. Hạn tuổi năm72: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm73: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm74: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm75: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm76: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm77: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm78: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm79: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Hạn tuổi năm80: Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không: Nếu đang đau ốm chắc chắn là sẻ qua khỏị Tuy nhiên mọi mưu sự thì chẳng được toại ý, kinh doanh thất bại, buôn bán thua lỗ. Nếu không có thể bị vướng vào vòng tù tộị Hạn tuổi năm81: Nếu gặp TUẦN-TRIỆT án ngử, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành. Thai-Phù, Phong-Cáo: Có danh chức. Ân-Quang, Thiên-Quí: Mọi chuyện như ý, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp quí nhân phù trợ. Nếu bị đau ốm thì chóng khỏị Thiên-Không gặp TUẦN, TRIỆT án ngử: Nếu đang bệnh tật thì vẫn không hết được trong Hạn nàỵ Bổ Túc Bình Giải (Dựa theo Diễn Cầm Tam Thế của Dương Công Hầu) Quý Ông sinh mùa Đại hàn (Rét đậm), nhằm Trực Trừ. Quý Ông người thật thà, không được nhờ bà con, không có bạn tốt, số phận lao đao, nhưng cũng có được vinh hoa. Quý Ông Sanh nhằm ngày Thiên Mẫu, đặng vinh hoa tố, gặp đặng ngày làm giàu và sang trọng, của vô ra không chừng. Quý Ông cốt Khỉ, người khó cằm của, ưa đi chơi, tay chân bộ tướng lẹ làng, có tánh thông minh ứng biến, nhưng không có tánh dè dặt, không chú ý. Quý Ông có số về văn chương đặng cậy nhờ về sau, công đường rất thịnh vượng, nam nữ cũng vậy. Quý Ông số gặp Ngọai Sát, số không ở xứ cha mẹ đi ở xứ khác làm ăn khá. Khắc vợ chồng, khắc con, tay trắng lập nên sự nghiệp. Quý Ông số gặp Bật Cửu, ở đời hay có tánh làm lành, y lộc không thiếu, tuổi nhỏ chua khá, đền lớn đặng vui vẻ thịnh vượng. Quý Ông Kiếp trước có tánh nói tiên phật, lòng còn rắn độc, kiếp này ăn mặc thiếu, hay đau con mắt, cô thế một mình, phải làm lành cho nhiều đặng trả quả xưa, đặng giải oan khiên, lành có dư thì trời phật cho chuyển hoá ví phước thì đặng tự lập sự nghiệp trở nên lúc cảnh già bằng không ăn năn thì chịu khổ tới già. Số Quý Ông phạm Vượng Lộc tiền tài hưng vượng, sản nghiệp lập thành, tánh hay chơi anh em bạn, trai có vợ gái có chồng gặp đặng chỗ sang trọng. Quý Ông có số nuôi được trâu heo và các lòai thú nó sanh đẻ nhiều, nuôi mau lớn cái huê lợi ấy nó sanh thêm thịnh vượng. Quý Ông số nhằm Chữ Bại, ruộng đất cha mẹ cho hay là mình tạo, ở tại chốn quan sanh thì bị thất bại, nếu có ý chí lớn đi xứ khác lập điền viên, thì có đặng chút ít. Cổ nhân nói rằng: 'Hữu phước thì hữu Điền, vô phước thì vô điền', bởi chữ phước có chữ điền. Sách cổ có câu nói rằng: 'Đức năng thắng số', dẫu số có đất đai mà không có đức dù có giữ gìn cũng không còn, muốn có đất đai trước phải bồi công tích đức sau mới có. Quý Ông học nhiều nhưng thông hiểu thì ít, cho nên cái sự học không nhờ giúp gì được cho ngày sau. Bất dĩ là học cho biết chữ để nói chuyện với đời đó thôi, chứ khó đỗ đạt. Quý Ông gặp số Mộ, số này việc vợ chồng lộn xộn rồi sau cũng goá. Lời bình giải: Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm, Sanh nhằm chữ Mộ vương lâm cho chàng, Căn duyên mù mịt lỡ làng, Khi tan, khi hiệp đôi đàng mới xong, Trước đời xóm kiến chòm ong, Đời sau qui hiệp bưởi hồng đa đoan, Vợ chồng mới đặng bình an, Đến sau rồi cũng bình an một mình. Quý Ông sanh con, nuôi được 1 đứa, nếu phước đức nhiều thì sanh con trai, còn ít thì đổi sang con gái. Số này chỉ xem riêng cho Quý Ông, còn số của người hôn phối nữa, hai bên cộng chung lại thì sẽ khác hơn số dự đoán. Nếu đứa con nào nó ưa cha hơn, thì là con của cha nó, còn đứa nào ưa mẹ hơn thì là con của mẹ nó, đó là cái quả tiền kiếp như vậy. Vợ chồng sinh con dư số định thì đó là quả báo tiền kiếp, bởi thế sinh trong số định thì nó có hiếu, còn sanh dư thì đó là con Trời, con Phật, con Ma, đó là con đi báo quả, đã không có hiếu còn hại cha mẹ. Quý Ông có huynh đệ là chữ Mộ, hãy xem câu thơ phía dưới thì rõ hào anh em kiết hung sẽ được tận tường. Số phần gặp mộ linh đình, Bơ vơ lợt lạt nghĩa tình là đây, Cha mẹ sanh dưỡng ngõ hầu, Đôi ba cốt nhục một màu hoá sanh, Mỗi người tánh cũng khôn lành, Đều riêng tâm ý cạnh tranh bất hoà, Một mình lo tính gần xa, Đến xa nên đặng thất gia hưởng nhờ. Xem tuổi ông Huỳnh đế biết sang hèn, Quý Ông sinh mùa Đại hàn (Rét đậm), được số này nhỏ cực lớn khá ,không nhờ anh em. Câu thơ tả: Sanh nhiều chỗ ở trên vai, Tuổi xuân cực khổ nào hay vận thời, Ba mươi gặp vận thới lai, Sắp lên lớn tuổi tiền tài thiếu chi, Chừng ấy trâu ruộng thiếu gì, Số trời đã định phải thì thua ai, Anh em số phận tiền tài, Chuyện mình mình liệu khó bề cậy nương. Quý Ông có số Hướng Gia, ở nhà cha mẹ đặng để mở rộng việc làm ăn và có số tạo lập nghiệp khác cũng đặng thạnh vượng làm ăn phát đạt. Giờ sinh của Quý Ông được Cha mẹ song toàn , tánh người siêng năng , ăn mặc không thiếu , anh em khá, có con 2, 3 đứa tánh tốt, văn chương giỏi, sự nghiệp nên. (Lưu ý:Phần bình giải có thể 'câu này đá câu kia' nhưng hoàn toàn đúng theo số của Quý Ông, có thể nó chỉ đúng ở một khoản thời gian nào đó trong cuộc đời. Phần lặp lại nhiều có khả năng xảy ra nhất.) Hỏi Đáp: Thỉnh thoảng chúng tôi lại nghe những thắc mắc, đại khái là : trong cùng một giờ, một ngày, một tháng, một năm có hàng vạn vạn người sinh ra, không lẽ cuộc đời họ cũng giống nhau ư? Điều ấy đã chép ngay phần đầu của “Tử Vi Kinh”, trong bài phú “Tử Vi cốt tủy” như sau : “Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ, Do ư phúc trạch cát hung. Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan, Thị tại vận hành hung cát.” Chìa khóa của khoa Tử Vi là do câu trên. Khi xem số Tử Vi, thông thường tín nam, tín nữ chỉ chú ý đến những cung Mệnh, Tài, Quan cùng vận hạn. Ít người chú ý đến cung Phúc cũng như cung Tật Ách. Thật ra, cung Phúc rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến ba cung Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di là lẽ đương nhiên. Nó gần như khống chế toàn cuộc đời về : giàu nghèo, thọ yểu, sang hèn, vinh nhục, sầu thảm và khổ cực. Tùy theo cung Phúc tốt hay xấu mà biết đương số giàu hay nghèo, sống thọ hay chết yểu, sang hay hèn, cuộc đời bi ai hay toại chí, đắc thế, … Cung Phúc bao gồm nhiều yếu tố cuộc đời. Mà cung Phúc chủ yếu ứng vào ngôi mộ mà đương số được hưởng phúc. Ngoài ra cung Phúc còn chịu ảnh hưởng của âm đức tích được hồi tiền kiếp của đương số, âm đức của phụ mẫu, huynh đệ, thê tài, … Và nếu tại đương kiếp tích được nhiều âm đức thì cung Phúc giải được những khắc phá (nếu có) để trở nên tốt hơn. Như vậy, những người cùng số, có cuộc đời hao hao giống nhau, nhưng tùy theo cung Phúc mà phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ khác nhau.   Như số những người chết cùng một lúc như chiến tranh, thiên tai, đắm thuyền, … Không lẽ số những người đó đều đến ngày ly thế cả hay sao ? Hoặc câu hỏi khác. Vận số của một người vốn là trường thọ, sống đến ngoài bảy mươi. Tại sao chỉ mới ngoài hai mươi là đã gặp tai nạn mà chết ? Thật ra mấy vấn đề trên, trong bài phú “Tử Vi cốt tủy” cũng có đề cập, tạm dịch như sau : “Vận con phải thua vận cha, Vận người không bằng vận nhà, Vận nhà không bằng vận làng, Vận làng không bằng vận châu, Vận châu không bằng vận nước, Vận nước không bằng vận thiên hạ.” Do đó, ví như hai đứa trẻ cùng số, nhưng thời ấu thơ sống với phụ mẫu, vận số phải chịu ảnh hưởng bởi vận số của phụ mẫu. Nếu phụ mẫu giàu sang, thì dù số đứa trẻ xấu vẫn được ấm no. Còn như phụ mẫu cô bần, thì dù số đứa trẻ tốt vẫn phải chịu cảnh cơ hàn. Đó là “vận con phải thua vận cha”. Rộng hơn chút nữa, một người ở trong làng, dù số tốt hay xấu cũng phải chịu chung số phận của cả làng. Tỷ như hai người cùng có số giàu. Một người sống trong làng giàu, thì của cải súc tích. Còn người sống trong làng khó, thì chỉ giàu so với người trong làng, nghĩa là kha khá vậy thôi. Rộng hơn nữa, một châu không có người chết, nhưng vận nước có binh ách, châu cũng chịu chung số phận, ắt có nhiều người chết. Một ví dụ khác, khi người ta đi cùng thuyền, cũng giống như ở cùng làng, nếu hơn phân nửa người trong thuyền tận số thì thuyền đắm. Số còn lại bị chết oan theo. Trường hợp này gọi là “uổng tử”. Những người chết oan theo dạng này rất tội, hồn oan vất vưởng nơi cõi thế, trở thành “uổng tử quỷ”, không được đi đầu thai ngay mà phải chờ đến khi đúng số mới được nhập âm tào. Tuy vậy, nếu như đương số có nhiều âm đức, hoặc được phúc tinh chiếu mệnh, quý nhân phò trợ thì không đến nỗi chết oan, bất quá hao tài tán của vậy thôi. Lời Kết: Qua phần luận đoán vừa nói trên, chúng tôi hy vọng Quý Ông đã có lời giải đáp cho những vấn đề mà Quý Ông đang quan tâm. Quý Ông có thể xem thêm phần đoán vận mệnh qua Tứ Trụ - Bát Tự để biết rỏ hơn về vận mệnh mình. Xem Tướng chấm net chân thành chúc Quý Ông Ph thật nhiều sức khỏe và vạn sự như ý.

Nguồn: http://XemTuong.net
Vui lòng không xóa l

Thông tin lá số - Ngày Sinh Tây Lịch: Thứ Năm 30/01/1964 - Ngày Sinh Âm Lịch: 16/12/1963 - Tứ Trụ: năm Quý Mão, tháng Ất Sửu, ngày Mậu Dần, giờ Ất Mão - Lưỡng Đầu Kiềm: Quý Ất QUẺ SƠN PHONG CỔ Quý Cấn Trên Ất Tốn Dưới LUYỆN THẠCH BỔ THIÊN Luyện đá và trời Việc nhiều thất bại khó mà cứu chữa

Nguồn: http://XemTuong.net
Vui lòng không xóa link nguồn!







Phần Luận Đoán Dựa theo Tứ Trụ, quý bạn sinh vào năm Quý Mão, tháng Ất Sửu, ngày Mậu Dần, giờ Ất Mão, Lưỡng đầu kiềm Quý Ất được quẻ SƠN PHONG CỔ. Theo Quỷ Cốc tiên sinh, đây là cục LUYỆN THẠCH BỔ THIÊN (Luyện đá và trời), nghĩa là: Việc nhiều thất bại khó mà cứu chữa (Sự đa thất bại nan dĩ bổ cứu ) • Thử mệnh thông minh tâm tính, lỗi lạc 磊落 thân 身 tài, tri cao đê 低 phân khinh trọng, ngoại đầu hảo khán tâm nội đa ưu, dữ nhân ân thâm, tiểu nhân bất túc • Mệnh này tâm tánh thông minh sáng suốt, tài giỏi hơn người, hiểu biết cao thấp, nhìn bề ngoài đâu tiên xem thấy tốt đẹp, nhưng trong lòng lại nhiều lo nghĩ, cùng người có ân sâu, kẻ nhỏ bên dưới thường hay bất mãn. Dựa trên 4 chữ vàng Tứ Tự Kim 'LUYỆN THẠCH BỔ THIÊN' (Luyện đá và trời) để luận giải về các cung phúc họa, hôn nhân, con cháu, sự nghiệp, anh em và hậu vận. Mỗi cung mạng là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, chứa đựng nhiều hàm ý tiên định của Qủy Cốc Tiên Sinh và cùng lời bình giải của dịch giả. Tên Lời Thơ Ý Nghĩa Tổng Cách BẰNG NGẠC ĐOÀN PHONG Bằng ngạc đoàn phong ly trại bắc Phi thượng cao xứ lập kiều mộc Phi đằng vân nhạn biệt Hàm dương Uyên lữ trì trung tự phiên phúc Xứ xứ hoa khai ngã vị khai Khai thời hưu bị mãnh phong lai Nhất triêu tạ tận trùng khai xứ Đa thiểu xuân quang biến cửu cai CHIM BẰNG CHIM NGẠC NƯƠNG THEO GIÓ Chim Bằng chim Ngạc nương theo gió lìa trại bắc Bay lên chổ cao đứng trên cây cao Nhạn bay lên mây từ biệt Hàm dương Đôi bạn uyên ương trong ao tự nhiên tráo trở Nơi nơi hoa nở sao hoa của ta chưa nở Lúc nở thì bị cơn gió mạnh đến Một hôm rơi rụng hết rồi nở trở laạ Biết bao ánh sáng xuân tràn ngập Cửu cai Cơ Nghiệp Đáo xứ viên lâm hoa chính phát Ngã nhân hà sự tuyết sương kiên Nhất triêu dương khí hồi xuân cốc Hoán tĩnh đương thời tái thiếu niên Khắp nơi vườn tược hoa đang nở Ta vì sao phải sợ tuyết sương Ngày nào đó dương khí trở lại hang xuân Dường như làm tĩnh lúc đó để trở lại tuổi thiếu niên Huynh Đệ Nhạn lệ không trung thanh lịch lịch Cô hồng nhất chích tự cao phi Thanh phong minh nguyệt vi tri kỷ Đỗ vũ thanh thanh khiếu thúy vi Nhạn hót trên không tiếng ríu rít Một chim hồng lẻ loi tự bay cao Gió trong trăng sáng làm bạn tri kỷ Tiếng chim cuốc kêu trong đám cỏ vi Sự Nghiệp Gian nan hiểm trở cửu kinh thiệp Lập chí cô cao tại quyền nghiệp Thời lai bất dụng khổ ưu tiên Tang du đắc lộc triều kim khuyết Lâu ngày trải qua bao hiểm trở Lập chí cao xa ở quyền hành sự nghiệp (Khí) Thời vận đến thì không sợ khổ sở nữa Tuổi già được lộc (lại còn) chầu cửa khuyết (1) (1) Cửa khuyết ở cung vua. Hôn Nhân Trì nhật uyên ương giao cảnh xử Khởi kỳ phản phúc khởi kinh phi Đa nhân nguyệt khuyết hoa tàn hậu Khô mộc sinh hoa đắc sở y Ngày đi chậm cặp uyên ương vắt cổ qua nhau mà ngủ Ngờ đâu tráo trở sợ mà bay đi Phần lớn bởi sau khi trăng khuyết hoa tàn Cây khô nẫy mầm được chổ nương tựa Con Cái Hạm nội tam hoa tinh lưỡng quả Thanh hoàng tương bạn xuyết chi đầu Tuyết hậu sương nùng đa thiểu sự Tiền bằng âm đức vị tu trì Trong vườn ba hoa cùng hai quả Màu xanh màu vàng làm bạn tô điểm đầu cành Tuyết dày sương đặc bao nhiêu chuyện Trước nhờ âm đức bởi tu hành Hậu Vận Khổ tân độc hạnh mãn dương kỳ Nhất túy hoa tàn mộng chuyển trì Kiểm điểm bình sinh như ảo hóa Sơn giang viên hạc diệc minh đề Cay đắng hết mức vào cuối năm Mùi Một cơn say hoa tàn cơn mộng qua chầm chậm Kiểm điểm cuộc bình sinh như ảo ảnh Trong núi vượn hạc vẫn kêu hót

Nguồn: http://XemTuong.net
Vui lòng không xóa link nguồn!

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2020

Người mở đầu cho luận lý học Á Đông (Khổng Tử và cái thuyết “Chánh danh” của ngài)


Nhiều lần tôi có nhắc tới cái thuyết “chánh danh” của Khổng Tử. Ở Phụ nữ tân văn số 43, trong bài nói về chữ quốc ngữ, tôi có hứa rằng chờ sau nầy sẽ viết một bài cắt nghĩa về cái thuyết ấy. Hôm nay xin làm trọn lời hứa của tôi.
Luận lý học là một khoa thuộc về triết học, dạy người ta tư tưởng theo phép tắc chánh đáng cho khỏi sai lầm. Nó sanh sản ra từ trong học giới Âu châu, nguyên tên nói theo tiếng Anh thì viết Logic, còn theo tiếng Pháp thì viết là Logique. Người Nhựt Bổn dịch ra là Luận lý học.
Nhiều nhà học giả nước Tàu ngày nay cho cái tên luận lý học là không đúng, mà bảo phải kêu Logic hay Logique bằng “Danh học”. Tuy vậy, người ta dùng chữ luận lý học quen rồi, cho đến những nhà bác học cũng dùng đến luôn luôn. Vì vậy, tôi cũng theo thói quen mà dùng như người ta.
Tại làm sao những người kia lại biểu phải kêu Logique bằng danh học? Nguyên vì danh học là một khoa học của người Tàu, phát sanh ra hồi Chiến Quốc, mà về phần tinh thần của nó thật giống với Logique của Tây. Cho nên, họ nói mình đã có khoa danh học đúng như Logique, thì cứ kêu Logique bằng danh học đi, lại còn dịch thêm một tiếng luận lý học là tiếng nghe không được ổn thỏa nữa làm chi?
Lấy lẽ gì mà nói là không ổn thỏa? Đợi có dịp khác tôi sẽ cắt nghĩa. Đây tôi phải ngó lại cái đầu đề trên kia mà nói, kẻo nó lãng đi.
Thiệt cái danh học của Tàu không biết vì cớ gì mà về sau tuyệt hẳn đi, là một điều đáng tiếc cho nền học thuật Á Đông. Ngày nay có nhiều người nhìn nhận rằng vì cớ ấy mà học thuật phương Đông mấy ngàn năm nay không có tấn bộ một mảy nào. Nhưng ở đời Chiến Quốc thì các học phái nước Tàu như trăm hoa đua nở, mà phái nào cũng có tông chỉ, có thống hệ, gần giống như cái hiện tượng của học giới Âu châu vậy. Thấy vậy, người ta mới lại nhìn nhận rằng hồi Chiến Quốc mà các học phái sản sanh ra được như vậy là nhờ khoa danh học thạnh hành, mỗi một phái nào cũng đều lấy danh học làm trụ cột để lập nên cái học thuyết của mình.
Cái vấn đề mà tôi vừa tóm tắt trong đoạn trên đây, tôi đã từng nghiên cứu qua thì thấy hay lắm, vui lắm, có thú vị lắm. Xin độc giả hẵng làm quen với những bài của tôi như bài nầy lấy ít lúc, rồi tôi sẽ viết một bài kêu là “Luận lý học với học thuật Đông Tây” mà cống hiến cho độc giả những cái sở đắc trong sự nghiên cứu của tôi. Đây tôi nói tắt về cái danh học của Tàu phát nguyên ra từ đâu.
Ai đã đọc sách Trung Quốc triết học sử đại cương của Hồ Thích, chắc có thấy nơi trang 104, nói về cái chủ nghĩa chánh danh của Khổng Tử, có mấy lời như vầy:
“Từ Khổng Tử nêu ra cái vấn đề chánh danh, rồi các nhà triết học đời xưa đều chịu lấy cái ảnh hưởng ấy: Mạnh Tử, Mặc Tử v.v… Cho nên có thể nói rằng cái chủ nghĩa chánh danh của Khổng Tử thiệt là thỉ tổ [1] của danh học Trung Hoa, cũng như cái thuyết “khái niệm” của Socrate là thỉ tổ của danh học Hy Lạp”.
Theo lời Hồ thì cái thuyết chánh danh của Khổng Tử còn có mấy phương diện, nhưng có một phương diện quan hệ với danh học, tức là cái chỗ do đó nền danh học được lập lên bởi các học giả sau ngài.
Tôi đã đọc nhiều sách nói về danh học của Tàu, sau khi quán thông lại thì nhận cho lời của Hồ là đúng lắm. Tôi bèn nắm đó mà nghiên cứu cái thuyết chánh danh của Khổng Tử về phương diện danh học.
Hai chữ “Chánh danh” xuất từ sách Luận ngữ, thiên Tử Lộ, là thiên thứ XIV trong sách ấy, dịch ra đây cả một chương như vầy :
“Tử Lộ hỏi: Vua nước Vệ, nếu dùng thầy làm việc chánh, thì thầy sẽ làm điều chi trước?
Ngài đáp rằng: Âu là ta phải chánh danh ư?
Tử Lộ nói: Có lẽ ấy à? Thầy hu hoạt [2] làm sao. Chánh gì mà chánh?
Ngài nói: Ngươi Do mới quê mùa thay! Người quân tử với điều mà mình chẳng biết, thà chịu để thiếu đó.
Danh chẳng chánh thì lời nói chẳng thuận; lời nói chẳng thuận thì việc làm chẳng nên; việc làm chẳng nên thì lễ nhạc chẳng dấy; lễ nhạc chẳng dấy thì hình phạt chẳng nhằm; hình phạt chẳng nhằm thì dân không chỗ đặt tay chưn.
Cho nên, người quân tử kêu tên điều gì, chắc có thể nói ra được; nói ra điều gì chắc có thể làm được. Người quân tử đối với lời nói của mình, không có chỗ cẩu thả mà thôi”.
Đó, xem cả một chương đó, thấy Tử Lộ hỏi về việc chánh trị mà ngài đáp bằng cái thuyết chánh danh, thì biết cái thuyết ấy là quan hệ ngay với chánh trị; cho nên Hồ Thích nói có mấy phương diện là thế. Tuy vậy trong đó có nhiều cái lẽ rất quan hệ với danh học hay là luận lý học.
Chánh danh, nói theo tiếng ta, tức là kêu tên cho trúng, mới nghe như là không trọng yếu mấy, bởi vậy Tử Lộ mới dám vọt miệng chê ngài là hu hoạt. Nhưng xét ra, trong sự học vấn, trong sự chánh trị, mà cho trong sự gì cũng vậy, kêu tên cho trúng, là sự trọng yếu lắm, chớ nên dể dưng.
Trong một bài đăng ở số trước, tôi đã nói về hai cái nguyên tố của luận lý học, là khái niệm (concept) và danh từ (terme). Khái niệm là sự mình suy nghĩ trong lòng; danh từ là lời mình nói ra nơi miệng. Tiếng rằng hai cái, song thiệt thì có một. Vì cái lời mình nói ra đó tức là cái điều mình suy nghĩ. Cho nên, hễ nghĩ sai, tự nhiên nói ra cũng sai; và hễ thấy lời nói ra mà sai, khắc biết rằng sự suy nghĩ cũng không trúng vậy.
Chữ “danh” trong chữ “chánh danh” của Khổng Tử đây, tức là cái danh từ trong luận lý học; và chữ “danh” trong chữ “danh học” cũng tức là một chữ “danh” ấy.
Trong Luận ngữ, có một chỗ, Khổng Tử than phiền về sự danh bất chánh trong thời đại ngài. Nguyên đời xưa, có cái đồ đựng rượu, hình nó có khía, nên kêu bằng cái “cô”. - Cô nghĩa là “khía”. Nhưng hồi ngài đó thì cái đồ đựng rượu được ba thăng, bất luận có khía không khía, người ta đều kêu bằng cái “cô” cả. Bởi vậy ngài mới than rằng:
“Cái cô mà chẳng có khía, cũng kêu bằng cô được ư! cũng kêu bằng cô được ư!” (Ung dã, thiên thứ VI trong Luận ngữ).
Đó, không có khía mà kêu bằng cô, ấy là kêu tên không trúng. Vậy mà người ta kêu được, là kêu liều kêu lĩnh đó thôi, chớ theo ngài thì nghe trái tai lắm, thật là lời nói chẳng thuận.
Lại một chỗ nữa, cũng thuộc về phương diện chánh trị, song có thể đem mà chứng minh cho cái nghĩa trên kia. Ấy là chỗ Quý Khương Tử hỏi việc chánh mà ngài thưa rằng:
“Cái điều kêu bằng chánh tức là chánh vậy; ông lấy chánh mà xướng suất, thì ai lại dám chẳng chánh ư?” (Nhan Uyên, XIII).
Nguyên chữ “chánh” (nghĩa là chánh trị) có chữ “chánh” một bên (nghĩa là ngay). Cho nên ngài cắt nghĩa chánh trị tức là người trên phải ăn ở cho ngay thẳng để mà xướng suất kẻ dưới. Đó là một cách chánh danh nữa: cái tên chánh trị, là do từ sự chánh trực mà ra.
Vậy nếu trong việc chánh trị mà không theo lẽ chánh trực, tức như khi trong một nước, trên có vua đần, dưới có quan tham lại nhũng, mọi việc đều làm bậy bạ hết, thì có gọi là chánh trị được đâu. Nếu gọi là chánh trị thì cũng như cái không có khía mà gọi là cái cô, theo ngài, ngài cho là tầm bậy cả. Họa loạn sanh ra là ở đó, cho nên nói rằng dân không chỗ đặt tay chưn.
Trong sách Xuân thu của Khổng Tử, cũng thấy được cái nghĩa chánh danh. Về năm vua Hy Công thứ 16, sách ấy có chép rằng:
“Xuân Vương tháng giêng, ngày Mậu thân, sóc, rơi đá ở nước Tống năm hòn. Tháng ấy, sáu con chim ích bay thùi lui, qua đô thành nước Tống”.
Đoạn sách nầy, mới nghe qua thật là vô vị, hầu như một đoạn trong quyển nhựt ký của cậu học trò nhỏ nào, hay là giống cái dọng biên sổ chi tiêu việc làng việc họ. Nhưng để coi, coi Công Dương truyện giải ra có ý nghĩa lắm:
“Sao lại nói rơi trước mà nói đá sau? Rơi đá, là chép theo sự nghe: Nghe cái độp, coi lại thì là đá; rồi mới đếm, thì là năm hòn. Sao lại trước nói sáu con mà sau nói chim ích? Sáu con chim ích bay thùi lui, là chép theo sự thấy: Ngó lên thì thấy sáu con; coi kỹ lại thì là chim ích; thủng thẳng coi kỹ lại nữa, thì là bay thùi lui…”
Sách Xuân thu phồn lộ của Đổng Trọng Thơ, giải nghĩa điều trên đó cũng nói rằng:
“Sách Xuân thu phân biện cái lẽ của mọi vật để kêu trúng tên nó, kêu tên vật nào y như sự thiệt của vật ấy, chẳng sai một mảy lông mùa thu. Cho nên nói về rơi đá thì nói năm hòn ở sau, nói về chim ích bay thùi lui thì nói sáu con ở trước; Thánh nhân ngài cẩn thận sự chánh danh dường ấy”.
Theo đoạn sách Xuân thu dẫn trên đây thì thật là ngài muốn đính chánh cái ý nghĩa của từng tiếng từng chữ nữa. Sự đó chẳng những quan hệ với luận lý học, mà lại cũng quan hệ với văn pháp (grammaire).
Luận lý học của Tây dạy rằng mỗi khi biện luận về một sự vật gì, trước hết phải cấp cho sự vật ấy một cái định nghĩa, hoặc kêu là cái giới thuyết (définition). Cái giới thuyết hoặc cái định nghĩa đó, là cốt làm cho cái danh và cái thiệt của sự vật ấy tương đương với nhau, rồi mới có đường mà biện luận. Bằng chẳng vậy, một bên nói trời một bên nói đất, cãi nhau hết hơi mà rốt lại chẳng vỡ ra lẽ gì, chẳng ích lợi gì. Cho biết sự định nghĩa hay là lập giới thuyết là sự cần lắm cho người ta trong khi biện luận.
Lại, trong một câu văn, một cái danh từ dùng lặp hai lần mà lần trước với lần sau khác nghĩa, cũng là một sự cấm kỵ lớn trong luận lý học. Bởi vậy luận lý học có đặt ra sáu điều luật về phép tam đoạn luận (Sillogisme) mà điều thứ ba là điều hệ trọng nhứt, như vầy: Cái trung danh từ (le terme-médian) phải cho châu diễn (collectif) ít nữa cũng phải châu diễn một lần. Vả lại cái trung danh từ ở trong hai cái tiền đề (les deux prémisses) phải là đồng một nghĩa với nhau. Ai phạm đến điều cấm kỵ ấy, kêu là “phá luật”. Đã phá luật thì sự lập ngôn của mình sai lầm rồi, không còn đứng được nữa.
Tôi rất tiếc rằng vì sự cần mà đây tôi phải kể đến luật lệ lôi thôi của luận lý học, làm cho nhức đầu độc giả, nhứt là những ai chưa hề thiệp liệp đến cái học ấy. Song xin hẵng bỏ qua nó, đừng nghĩ mà làm chi cho mệt não, để trong một bài khác tôi sẽ kiếm cách đưa độc giả đến chỗ dễ hiểu những luật lệ ấy như chơi, mà lại vui lắm nữa.
Đây tôi kể ra mấy điều cốt yếu của luận lý học trên đó để cho biết rằng Khổng Tử, ngài ở hơn hai ngàn năm trước cũng đã thạo những điều ấy rồi, không phải như bọn ta bây giờ phải cặm đầu vào mà học mới biết, hay là không thèm học mà cũng không thèm biết nữa!
Có một lần, “Tử Trương hỏi: Kẻ sĩ như thế nào thì gọi là “đạt” được?
Ngài hỏi lại rằng: Nhà ngươi kêu bằng “đạt” đó là nghĩa làm sao?
Tử Trương thưa rằng: Ở nước ắt có tiếng đồn (văn); ở nhà ắt có điếng đồn (văn).
Ngài nói rằng: Thế là “văn”, chớ không phải “đạt”… (Nhan Uyên, XII).
Cái đó, nếu lúc bấy giờ Tử Trương hỏi về “đạt” mà ngài không hỏi lại Tử Trương, cứ theo nghĩa chữ đạt trong ý ngài mà đáp lại, thì chắc Tử Trương không hiểu, vì trong ý va nghĩ khác. Ngài trọng sự chánh danh lắm, nên ngài mới biểu Tử Trương lập cái giới thuyết cho chữ “đạt” đi. Quả nhiên Tử Trương cắt nghĩa “đạt” thành ra “văn”. Nối theo đó ngài bèn đính chánh lại cho Tử Trương và bắt đầu cắt nghĩa làm thế nào cho được đạt. (Ai muốn biết rõ hơn thì đọc Luận ngữ).
Cái cách ngài lập luận đó hiệp với pháp thức luận lý học dạy phải lập giới thuyết trước; và cũng hiệp với luật thứ ba của tam đoạn luận. Vì chữ “đạt” trong câu hỏi của Tử Trương và chữ “đạt” trong câu ngài sẽ trả lời, ta nên coi là một danh từ mà dùng lặp hai lần; nếu nghĩa của nó khác nhau thì tất nhiên là phải phá luật vậy.
Còn như điều sắp kể dưới nầy thì hình như ở ngoài cái thuyết chánh danh, nhưng mà ở trong phạm vi luận lý học, ta chẳng nên bỏ qua.
Theo luận lý học thì cái điều lập cho sự vật một cái công lệ là điều khó lắm và ta nên thận trọng lắm. Muốn làm sự ấy thì phải theo phương pháp quy nạp (induction) dùng những phép khái quát (généralisation) (statistique) luật nhân quả (causalité)… mà sau mới làm nổi. Trong đời có người ưa lấy một nửa lời mà lập công lệ cho sự vật, như nói: Muốn nước cho mạnh thì phải hợp quần; muốn duy trì phong hóa thì phải bảo tồn Hán học. Tôi dám nói những lời mà họ cho là khuôn vàng thước ngọc đó là không có giá tị; mà theo luận lý học hay là theo Khổng Tử, cũng nói như tôi.
Lần kia, “Định Công hỏi: Có một lời nói mà có thể dấy nước được chăng?
Ngài thưa rằng: Lời nói không có thể trông mong dễ dàng như vậy.
Định Công lại hỏi: Có một lời nói mà có thể mất nước được chăng?
Ngài cũng thưa rằng: Lời nói không có thể trông mong dễ dàng như vậy”. (Tử Lộ, XIII).
Định Công hỏi đó, là muốn lập cho sự dấy nước và sự mất nước một bên một cái công lệ. Phải như ai, thì đã làm thánh làm tướng, lựa một vài lời oai vệ mà đáp phăng cho rồi. Nhưng ngài thì ngài dùng một câu bác trước đi đã, rồi mới đáp sau. Ngài đáp câu hỏi thứ nhứt của Định Công rằng:
“Người ta có nói: “Làm vua khó, làm tôi chẳng dễ”. Vậy nếu biết làm vua là khó, chẳng ngõ hầu một lời nói mà dấy nước ư?”
Câu hỏi thứ nhì rằng:
“Người ta có nói: “Ta không vui gì sự làm vua, duy có nói ra mà chẳng ai trái ta”. Nếu nói phải mà chẳng ai trái, thì chẳng cũng là hay; bằng nói không phải mà chẳng ai trái, thì chẳng ngõ hầu một lời nói mà mất nước ư?”
Phàm sự gì không chắc thì không được dùng lời quả quyết, ấy cũng là một điều dạy trong luận lý học. Trong hai câu trả lời trên đó, mỗi câu ngài dùng chữ ngõ hầu, thiệt là đúng với Luận lý học lắm.
Trên đây, từ chỗ dẫn sách Xuân thu về trước, là tôi lấy ở triết học sử của Hồ Thích ; còn hai điều sau là tự tôi đã tìm ra. Còn nhiều điều khác nữa hiệp với cái thuyết chánh danh và đủ chứng minh rằng Khổng Tử là người mở đường cho danh học tức là luận lý học bên Trung Quốc, nhưng bài nầy đã dài rồi, cử ra nội mấy điều trên đó cũng đã vừa.
Kể ra thì cái nền danh học lập nên bởi các học giả sau ngài, như Mặc Tử, Công Tôn Tử, Tuân Tử, v.v… thì cũng chỉ có cái tinh thần mà thôi, chớ về hình thức thì còn khiếm khuyết nhiều lắm, có đâu bằng luận lý học bên Âu châu, và cũng còn kém Nhân minh học bên Ấn Độ [3] . Vậy thì biết rằng cái người mở đường ra đó, sự tri thức của người về cái học ấy chắc không được hoàn toàn lắm ; mà điều ấy ta không thể trách. Cho nên ta xem Khổng Tử đối với danh học cũng như Socrate đối với Luận lý học phương Tây, chẳng qua là ông tổ khai sơn mà sau đến Aristotle lập ra sáu điều luật nói trên kia, rồi cái nền luận lý học mới thành lập được vậy.
Mà thật vậy, cũng trong một sách Luận ngữ, tôi có tìm thấy chỗ ngài nói như là không đúng với luận lý học, ra ngoài cái thuyết chánh danh của ngài. Vì cớ ấy, kêu tên cái “chánh danh”, Hồ Thích kêu bằng cái chủ nghĩa, mà tôi kêu bằng cái thuyết, vì tôi cho là chưa trọn vẹn, chưa đáng kêu là chủ nghĩa vậy.
Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 57 (19.6.1930)
Chú thích:
[1] Thỉ tổ: cũng là thủy tổ
[2] Theo tiếng Bắc, đọc hai chữ nầy là “vu khoát” (nguyên chú của Phan Khôi)
[3]Nhân minh học tức là Luận lý học ở Ấn Độ (nguyên chú của P.K)
Nguồn: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2006.
30.11.2006
Phan Khôi
Theo http://www.talawas.org/

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2020

VỊ TRÌ "TẤM THỚT" TRƯỚC VÀ SAU KHI HẢI GÂY ÁN LÀ CHI TIẾT CỰC KỲ QUAN TRỌNG CÓ THỂ LÀM SÁNG TỎ VỤ ÁN !




"Theo cáo buộc của Viện KSND tỉnh Long An thì Hồ Duy Hải có mặt tại Bưu điện Cầu Voi vào lúc 19 giờ 30 ngày 13.1.2008. Do nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Ánh Hồng, Hải đưa tiền cho Thu Vân đi mua trái cây. Khi Vân vừa đi khỏi, Hải kéo Hồng vào buồng và đẩy nằm ngửa xuống đi-văng. Hồng phản ứng, dùng chân đạp vào bụng Hải rồi đi về phía cầu thang.

Hải đuổi theo đẩy vào góc tường nhưng Hồng kêu la. Sợ bị phát hiện, Hải dùng tay bóp cổ, đẩy nạn nhân ngã xuống sàn rồi lấy tấm thớt gỗ đập vào đầu Hồng nhiều lần đến khi bất tỉnh. Sau đó vào bếp lấy con dao inox ra cắt cổ nạn nhân rồi lôi xác vào giấu ở góc cầu thang...

Cũng theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh Long An, khi Thu Vân mua trái cây về, kéo cửa sắt xuống rồi bỏ bịch trái cây lên bàn salon, trong khi Hải núp vào một góc và cầm ghế inox thủ sẵn. Khi phát hiện thi thể Hồng, Vân hoảng hồn quay đầu bỏ chạy thì Hải đuổi theo, dùng ghế đập vào đầu làm nạn nhân ngã xuống sàn gạch bất tỉnh.

Tiếp theo, Hải kéo xác Vân để nằm cạnh Hồng, dùng dao cắt cổ nạn nhân rồi ra phòng vệ sinh rửa dao, rửa tay. Sau đó đem dao bỏ vào trong kẹt giữa tấm bảng và vách tường.

Gây án xong, Hải lục tủ lấy 1,4 triệu đồng, khoảng 40 simcard, thẻ cào điện thoại di động, điện thoại Nokia, lột hết dây chuyền, nhẫn, bông tai của 2 nạn nhân rồi ra phía sau đóng cửa lại, leo cửa rào ra sân trước lấy xe gắn máy chạy về nhà. Sợ bị phát hiện, khoảng một tuần sau Hải lấy quần áo mặc lúc gây án và sợi dây nịt đem đốt để phi tang..." ( Báo Thanh niên ngày 5/12/2014 https://thanhnien.vn/…/ho-duy-hai-va-ky-an-buu-dien-cau-voi…)

Thứ nhất : thật vô lý khi Hải đeo găng tay với ý định "làm tình" ( Hải và Hồng quen biết và ít nhiều có tình ý) và như vậy dấu vân tay của Hải phải có ở hiện trường nhất là trên các hung khí Hải sử dụng như Tấm thớt, dao và ghế .

Thứ hai : Hiện trường chính là ở khu vực Cầu thang lầu, sao lại có sự trùng hợp lạ lùng là "Tấm thớt" nằm sẳn ở đó để Hải vớ lấy đập vào đầu Hồng đến bất tỉnh ( đập nhiều lần). Hải đi vào bếp lấy dao cắt cổ Hồng khi cô này đang bất tỉnh.( dao và thớt thường nằm 1 chỗ với nhau) .Hành vi này của cũng thật vô lý bởi Hải chưa từng có tiền án tiền sự, cũng không có ý định cướp của giết người thì lấy dao cắt cổ Hồng vì lý do gì? Nếu Hải sợ tội thì Hải chạy trồn thì hộp lý hơn.

Thứ ba : Bải Hải cố ý đưa tiền cho Vân mua trái cây để thực hiện hành vi tình dục với Hồng. Khoảng thời gian đi mua trái cây ( gần đó) trở về quá ngắn ngủi ( khoảng 5 phút) cho dù Hồng đồng ý thì cũng không đủ thời gian "mây mưa " xong trước khi Vân trở về. Cho rằng Hải có dự mưu thì cũng thật vô lý.

Thứ 4 : Khi Vân về thấy xác của Hồng thì bỏ chạy, Hải đuổi theo dùng ghế sắt đập vào đầu nạn nhân bất tỉnh rồi kéo xác để nằm cạnh Hồng dùng dao cắt cổ.Trên tay Hải có sẳn dao sao không dùng dao đâm Vân mà phải dùng ghế? Phi lý hơn là khi Vân ngã bất tỉnh xuống Hải không cắt cổ Vân tại chỗ mà phải lôi vào dể cạnh Hồng rồi mới cắt cổ? ( Phải chi vân dã thoát ra khỏi Bưu cục mới bị Hải đánh bất tỉnh thì việc Hải kéo vân vào đặt cạnh xác hồng thì còn khã dĩ hợp lý)!

Thứ 5 : Thớt, ghế đều là vật cứng khi đập vào đầu mạnh đến mức nạn nhân phải bất tỉnh thì phải dể lại dấu vết rất rõ ràng, không sưng phù thì cũng bể dầu chảy máu. Thế thì tại sao điều tra viên không phát hiện ? ( để giờ trả lời là không biết ghế thớt là hung khí? Có tin được hay không!) . Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường thì Tấm thớt nằm ở đâu?

Thứ 6 : Hải biết rữa dao, xóa dấu vết thì tại sao dấu con dao ở hiện trường mà không đem theo mình để bỏ trốn rồi tiêu hủy như tiêu hủy quần áo?

Thứ 7 : Khi dùng Thớt đập Hồng xong phải bỏ thớt ở đâu ? Điều này vì sao không có trong lời khai của Hải . Vị trí của "Tấm thớt" trước và sau khi Hải gây án là chi tiết cự kỳ quan trọng trong vụ án này

Thứ 8 : Nếu sợ bị phát hiện thì tại sao " MỘT TUẦN SAU" Hải mới đem quần áo đi đốt mà không đốt ngay. Điều này dường như trái với tâm lý thông thường của kẻ cố ý phạm tội?

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

Nhìn lại báo chí trong nước.




Vương Trùng Dương

Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo?

Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương…”

Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television – TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication).

Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là “seven mass media” (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm:

In ấn từ cuối thế kỷ 15

Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19

Điện ảnh từ khoảng năm 1900

Phát thanh từ khoảng năm 1910

Truyền hình từ khoảng năm 1950

Internet từ khoảng năm 1990

Điện thoại di động từ khoảng năm 2000”…

Ngoài Google, Yahoo… để xử dụng email thông dụng, có hàng trăm Mạng Xã Hội (Social Network) rất phổ biến như Facebook, Google plus, Twitter, Youtube, Instagram, Pinterest, Reddit, Vine, Ask.fm, Tumblr, Flickr, WhatApp, WeChat… Trong đó, theo thống kê năm 2018, Facebook với số người xử dụng hằng tháng đến 2,070,000,000 và Youtube có 1,500,000,000. Hiện nay các nước Cộng Sản và độc tài rất lo sợ mạng xã hội vì không thể bưng bít hết những tệ trạng xảy ra trong chế độ với thế giới bên ngoài.

Trong các lần họp báo, hội họp, diễn văn… chúng ta thường nghe 4 chữ “truyền thanh, báo chí” chưa được chính xác nhưng đã trở thành thói quen từ trước đến nay rồi.

Sách vở đề cập đến Báo Chí rất nhiều, trong đó có quyển The Proffessional Journalist của John Hohenberg được Lê Thái Bằng & Lê Đình Điểu dịch Ký Giả Chuyên Nghiệp, Lý Thuyết & Thực Hành Trong Các Ngành Truyền Thông Đại Chúng, ấn hành năm 1988 tại Little Saigon, dày 634 trang,. với tôi quyển nầy rất hữu ích.

Trở lại 4 chữ “Quy Hoạch Báo Chí” mà gồm cả các ngành truyền thông, có lẽ không ổn mà lại dùng chữ “Quy Hoạch” cảm thấy buồn nôn (mượn tựa đề tác phẩm Buồn Nôn (La Nausée/The Nausea) của triết gia Pháp J.P Sartre). Quy hoạch về mặt bằng như quy hoạch Làng Báo Chí Thủ Đức có trước năm 1975 để xây khách sạn… còn với báo chí thì luật lệ quy định để chỉnh đốn lại điều lệ, nguyên tắc, sát nhập, đường lối (lề trái, lề phải trong chế độ thống trị). Trong đất nước tự do, không có chuyện nầy như Hoa Kỳ đã minh định qua Tu Chính Án Thứ Nhất (The First Amendment) trong Hiến Pháp Hoa Kỳ thường được gọi Tu Chính Án Về Tự Do Ngôn Luận (Freedom of Speech)…

Có nhiều bài viết phê phán về cách xử dụng tiếng Việt ngày nay, trong đó hai bài của Chu Đậu và Đào Văn Bình về “Nỗi Buồn Tiếng Việt” đã dẫn chứng đầy đủ.

Bài viết Nhìn Lại Báo Chí Trong Nước của tôi vào năm 2002 đã đăng trên tờ Saigon Times và sau đó trên các tờ báo khác. Thời điểm đó internet chưa phổ biến rộng rãi nên việc liệt kê tốn nhiều thời gian. Trải qua 17 năm (2002-2019), số lượng đã tăng thêm nhưng bây giờ siết lại và đều là chiêu bài cho công cụ nhà nước! Trích đăng lại bài viết cũ năm 2002

*

Nhìn Lại Báo Chí Trong Nước

Vương Trùng Dương

Kể từ thời César lãnh đạo đế quốc La Mã, tờ bích báo đầu tiên xuất hiện có tính cách “thông báo thường nhật” phổ biến ở Quốc Hội cho đến nay đã trải qua suốt chặng đường dài theo tiến trình của lịch sử. Ngày nay, báo chí đã trở thành vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Vai trò của báo chí là thông tin, chuyển đạt tất cả những gì liên quan đến sinh hoạt, cảm nghĩ của nhân loại trên mọi bình diện. Trong sinh hoạt xã hội, đời sống, luật pháp… báo chí được minh định trong vai trò “đệ tứ quyền” – một trong những điều căn bản của nền Tự Do Dân Chủ – tuy nhiên quyền cao quý đó được tôn trọng hay không tùy theo thể chế của quốc gia đó. Vì vậy, nhìn vào sinh hoạt báo chí cũng đủ đánh giá được nền tảng tự do căn bản của quốc gia đó.

Lịch sử báo chí Việt Nam với quá khứ lâu dài, tờ báo đầu tiên ra đời bằng Pháp ngữ ở trong Nam, ngày 29-9-1861, tờ Le Bulletin Officied de L’ Expedition de la Cochinchine dưới dạng tờ công báo mang tên “Le Bulletin Officiel de l’Expédition De La Cochinchine” rồi đến tờ công báo “Le Bulletin Des Communes” bằng Hán văn (tờ công báo nầy bằng Hán văn mà tựa tiếng Pháp và chữ Hán) do nhà cầm quyền thuộc địa Pháp phát hành.

Tờ Gia Định Báo được đánh dấu là tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra đời ngày 15-4-1865. Chủ bút nguyệt san Gia Định Báo lúc đầu do người Pháp Ernest Potteau, năm 1969 trao cho học giả Trương Vĩnh Ký. Kể từ đó đến nay, gần 140 năm, qua bao biến động, thăng trầm của lịch sử, báo chí Việt Nam còn bị đóng khung trong vòng kiểm soát, vẫn bị kiểm duyệt chặt chẻ nên nằm trong tình trạng hạn hẹp. Bước sang đầu thiên kỷ mới, hình thức đã được thay đổi tươi sáng trên một số tờ báo nhưng nội dung vẫn còn nằm trong quỹ đạo ràng buộc, chưa đáp ứng được tiếng nói của nền tảng “đệ tứ quyền”. Trong thời Việt Nam Cộng Hòa vì hoàn cảnh chiến tranh, báo chí cũng bị kiểm duyệt nhưng tự do báo chí cũng được tôn trọng.

*.- Số Lượng

Với nhân số 78 triệu dân vào thời điểm 2001 nhưng số lượng ấn bản tờ báo phát hành rất giới hạn. Dù chưa có thống kê nào chính xác tổng kết số ấn bản hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng của mỗi loại nhưng có thể ước tính được số liệu.

Với 12 tờ được xem như nhật báo, hầu hết khổ standard, không có tờ nào vượt quá con số 16 trang, tổng cộng chưa tới bảy trăm nghìn số/ngày. Tờ Nhân Dân khoảng 200,000 số/kỳ, tờ Quân Đội Nhân Dân 150,000 số/kỳ.

Khoảng 20 tờ bán tuần báo, chỉ có 2 tờ có ấn bản cao nhất cao nhất trong hệ thống báo chí trong nước. Tờ Công An TPHCM (Sài Gòn) với 350,000 số/kỳ và tờ Tuổi Trẻ 260,000 số/kỳ. Tờ Thanh Niên trước kia đã giảm sút khi ra tuần tin Thanh Niên. Ngoài ra, không có tờ nào với con số ấn bản trên một trăm nghìn. Chính quyền hạn chế việc thực hiện nhật báo vì vậy nhiều tờ báo chuyển sang con đường bán tuần báo, thêm số Chủ Nhật để phân chia bán tuần báo và tuần báo. (Trong quyển Lịch Sử Báo Chí Việt Nam, từ khởi thủy đến hiện tại 1861-1999 của ông Đặng Văn Nhâm, dày 668 trang, có nêu chi tiết một số tờ báo trong quá khứ).

Với khoảng 75 tờ tuần báo, chưa có tờ nào trên một trăm nghìn số/kỳ. Tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật chỉ có 80,000 số/kỳ.

Với khoảng 25 bán nguyệt san, chưa có tờ nào vượt được con số 60,000 số/kỳ.

Khoảng 130 nguyệt san, chỉ có tờ Tuổi Trẻ Cười với con số 160,000 số/kỳ, và không có tờ nào trên con số 100,000 số/kỳ.

Khoảng 50 tạp chí định kỳ ra mỗi năm có 2, 3, 4, 6 số, ấn bản phát hành còn bị giới hạn vì có tính cách chuyên ngành và ít được phổ thông.

Tổng cộng số lượng báo chí VN có khoảng 220 tờ được lưu hành rộng rãi trong nước cũng như ở các thành phố lớn, ngoài ra mỗi tỉnh có vài tờ, nhiều nhất ở ngành Công An, hầu hết là nguyệt san; còn bản tin lưu hành trong phạm vi địa phương với số lượng ấn hành bị hạn chế.

ohlala 2

Theo Bùi Huy Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Báo Chí cho biết trong ngày Nhà báo Việt Nam 21-6-97: “Hiện nay có 563 tờ báo, tạp chí và bản tin các loại, thuộc 450 cơ quan báo chí; số lượng trung bình phát hành khoảng 1.500.000 bản / ngày.

Có 6 tờ nhật báo và 7 bản tin phát hành hằng ngày, số lượng phát hành khoảng 500.000 bản… và có 3 tờ xuất bản bằng tiếng dân tộc ít người. Ngoài báo in… còn có 69 đài phát thanh và truyền hình, ngoài 2 đài trung ương… còn lại là các đài truyền hình khu vực, đài phát thanh và truyền hình tỉnh, thành phố… Cả nước có trên 8.000 nhà báo chuyên nghiệp (21% là nhà báo nữ) 71% số nhà báo có trình độ đại học và trên đại học, 7,500 người đã được cấp thẻ nhà báo. Đó là chưa kể hàng vạn nhà báo không chuyên và cộng tác viên báo chí” (trong nước còn dùng nhà báo nghiệp dư – freelance theo cách gọi của họ. Ở hải ngoại thì “freelance”, không làm mướn riêng cho một tờ báo, mà viết rồi bán bài cho nhiều tờ, tùy lúc)

Nhìn vào thời điểm đó mà thấy con số tờ báo lên cao vì theo “báo cáo” của nhân vật có trách nhiệm với báo chí, nhờ “bản tin các loại” mới nâng con số lên cao như vậy.

Trong vài năm sau nầy mới có thêm nhiều tờ báo xuất hiện. Để dẫn chứng và tìm hiểu thêm về báo chí trong nước, xin liệt kê danh xưng tờ báo tính đến cuối năm 2001. Dựa vào danh xưng thuần túy của tờ báo như mọi người thường hiểu (không tính bản tin các loại) có khoảng hai trăm hai mươi tờ báo được ấn hành bằng ngoại ngữ và Việt ngữ, hầu hết đều xuất phát dưới danh nghĩa của cơ quan, tổ chức nhà nước.

1.- Báo chí ấn hành bằng Anh, Pháp và Hoa ngữ gồm có:

A.- Nhật Báo: Saigon Times, Vietnam News, Le Courier Du Vietnam, Saigon Libertated, Sài Gòn Giải Phóng

B.- Bán Tuần Báo: Saigon Business Newsletter.

C.- Tuần Báo: Saigon Times, Vietnam Courier, Market and Price, Vietnam Economic News, Vietnam Investment Review, Le Courier Du Vietnam… (Ở Los Angeles có tuần báo Saigon Times của nhà thơ Thái Tú Hạp).

D.- Bán Nguyệt San: The Gazette, Vietnam Business, Vietnam Scoop, Vietnam Business.

E.- Nguyệt San: New Vietnam, Vietnam Pictorial, Business Vietnam, Economic Development Review, Vietnam Banking Review, Vietnam Commerce & Industry, Vietnam Economic Times, The Guide, Vietnam Law & Legal Forum, Vietnam Illustre, Saigon Eco.

F.- Tạp Chí Định Kỳ (2, 3, 4, 6 số mỗi năm): Vietnam Development News, Vietnamese Studies, Asia-Pacific Economic Review, Petro Vietnam, Vietnam Economic Review, Vietnam Trade Union, Proceeding of The National Centre for Scientific Research in Vietnam, Social Science, Vietnamese Scientific and Technical Abstracts, Women of Vietnam, Vietnam Journal of Mathematics, Vietnam Social Economic Development, Communications in Physics, Vietnam Aviation, Vietnamese Law, Etudes Vietnamiennnes, Syndicats Vietnamiens, Vietnam Pictorial, Vietnam Tourism Review, New Vietnam, Vietnam Renovation.

2.- Báo chí Việt ngữ

A.- Nhật Báo: Con Thoi Thị Trường, Hà Nội Mới, Hải Phòng, Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Saigon Giải Phóng, Tin Tức Buổi Chiều.

B.- Bán Tuần Báo: Bản Tin Kinh Thế Thương Mại VN, Cần Thơ, Công An Nhân Dân, Công An TP.HCM, Đại Đoàn Kết, Giáo Dục & Thời Đại, Huế, Lao Động, Người Lao Động, Nhi Đồng, Phụ Nữ, Quảng Nam Đà Nẵng, Quảng Trị, Saigon Giải Phóng Thể Thao, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Thể Thao TPHCM, Tin Tức Buổi Chiều, Thị Trường Giá Cả Vật Tư, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, Thương Mại, tuần tin Thanh Niên, Văn Nghệ Trẻ…

C.-Tuần Báo: An Ninh Thế Giới, Bưu Điện Việt Nam, Công Giáo & Dân Tộc, Công Nghiệp Thương Mại VN, Doanh Nghiệp, Doanh Nghiệp Chủ Nhật, Điện Toán Doanh Nghiệp, Đầu Tư Giác Ngộ, Hà Nội Mới Cuối Tuần, Giao Thông Vận Tải, Giáo Dục & Thời Đại, Hải Phòng Chủ Nhật, Hoạt Động Ngân Hàng, Kinh Doanh & Pháp Luật, Kinh Tế Phát Triển, Khăn Quàng Đỏ, Khoa Học Phổ Thông, Khoa Học Kỹ Thuật Kinh Tế Thế Giới, Khoa Học & Đời Sống, Lao Động chủ Nhật, Lao Động Đồng Nai, Lao Động Hà Nội, Lao Động, Mực Tím, Ngân Hàng, Ngân Hàng Dữ Liệu, Thông Tin Pháp Luật, Ngoại Thương, Người Công Giáo Việt Nam, Người Hà Nội, Người Lao Động Cuối Tuần, Nhân Dân Cuối Tuần, Nhi Đồng Họa Mi, Nhi Đồng TPHCM, Nông Nghiệp VN, Nông Thôn Ngày Nay, Nông Thôn Việt Nam, Pháp Luật & Đời Sống, Phụ Nữ TPHCM Chủ Nhật, Phụ Nữ TPHCM Thứ Bảy, Phụ Nữ TPHCM Thứ Tư, Phụ Nữ Thủ Đô, Phụ Nữ Việt Nam, Quân Đội Nhân Dân Cuối Tuần, Saigon Giải Phóng Thứ Bảy, Saigon Tiếp Thị, Sáng Tạo, Sân Khấu Thành Phố HCM, Sức Khỏe & Đời Sống, Hàng Không Việt Nam, Tiền Phong Chủ Nhật, Thanh Niên Chủ Nhật, Thanh Tra, Thế Giới Mới, Thế Giới Phụ Nữ, Thể Thao TPHCM, Thể Thao Văn Hóa, Thể Thao Việt Nam, Thị Trường Giá Cả, Thị Trường Chủ Nhật, Thiếu Niên Tiền Phong, Thông Tin Khoa Học Kỹ Thuật Kinh Tế, Thông Tin Kinh Doanh & Tiếp Thị, Thời Báo Kinh Tế Saigon, Thời Báo Ngân Hàng VN, Thời Báo Tài Chánh, Tuần Tin Tức, Tuần Báo Quốc Tế, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Tuổi Trẻ Thủ Đô, Văn Hóa, Văn Hóa Chủ Nhật, Văn Hóa Nguyệt San, Văn Học, Văn Nghệ TPHCM…

D.- Bán Nguyệt San: Công Báo, Cựu Chiến Binh VN, Màn Ảnh Việt Nam, Khoa Học & Đời Sống, Màn Ảnh Sân Khấu Hà Nội, Một Cửa Sổ Nhìn Ra Thế Giới, Mỹ Thuật Thời Nay, Nghệ Thuật Điện Ảnh, Người Bảo Vệ Công Lý, Người Cao Tuổi, Người Đưa Tin Unesco, Người Làm Báo, Phụ Nữ Hà Nội, Sức Khỏe, Tạp Chí Cộng Sản, Tia Sáng, Thanh Niên BNS, Thể Thao Chuyên San, Thông Tin Chọn Lọc KHKT, Thuốc & Sức Khỏe…

E.- Nguyệt San: Áo Trắng, Bưu Chính Viễn Thông, Công An Nhân Dân, Chuyên Đề (CĐ) Đại Đoàn Kết, CĐ Gia Đình Văn Hóa, CĐ Thế Giới Trẻ, CĐ Thời Trang Thẩm Mỹ, CĐ Tuổi Trẻ Hạnh Phúc, CĐ Tuổi Trẻ Sắc Đẹp, Con Số Sự Kiện, Công Nghệ & Đầu Tư, Công Tác Tư Tưởng Văn Hóa, Cựu Chiến Binh, Dân Chủ & Pháp Luật, Dân Tộc & Thời Đại, Đại học & Giáo Dục, Địa Chất Đời Sống Người Hà Nội, Đời Sống Văn Nghệ Dân Tộc Miền Núi, Gia Đình Ngày Nay, Giác Ngộ, Hà Nội Ngày Nay, Hàng Không VN, Hạnh Phúc Gia Đình, Khoa Học & Phát Triển, Khoa Học & Tổ Quốc, Kiến Trúc & Đời Sống, Lao Động Hà Nội, Lao Động & Công Đoàn, Lao Động & Xã Hội, Nghiên Cứu Giáo Dục, Nghiên Cứu Lịch Sử, Nghiên Cứu Kinh Tế, Nghiên Cứu Văn Hóa Nghệ Thuật, Người Đẹp Việt Nam, Người Tiêu Dùng, Người Xây Dựng, Ngưỡng Cửa Vào Đời, Nhà Báo & Công Luận, Nhân Đạo, Nhiếp Ảnh, Nông Nghiệp & Công Nghiệp Thực Phẩm, Nông Nghiệp Việt Nam, Pháp Luật & Đời Sống, Pháp Luật TP.HCM, Pháp Lý, Pháp Quy Về Ngành Thương Mại, Phụ Nữ Thủ Đô, Phụ Nữ Việt Nam, Quân Đội Nhân Dân, Quê Hương, Quốc Phòng Toàn Dân, Sóng Nhạc, Sự Kiện & Dư Luận, Sức Khỏe & Đời Sống, Tác Phẩm Mới, Thế Giới Muôn Màu, Thế Giới Sách, Thế Giới Trong Ta, Thế Giới Vi Tính, Thị Trường Tài Chánh, Thiếu Nhi Dân Tộc, Thời Báo Kinh Tế VN, Thời Báo Tài Chánh, Thời Trang Trẻ, Thông Tin (TT) & Cuộc Sống, Thông Tin Lý Luận, TT Cơ Hội Kinh Doanh, Thông Tin KHKT, TT Môi Trường, TT Thương Nghiệp Thị Trường, TT KHoa Học Tài Chánh, TT Khoa Học Thanh Niên, TT Phục vụ Lãnh Đạo, TT Tư Liệu, Tòa Án, Trí Thức Trẻ, Trí Thức & Công Nghệ, Truyền Hình, Tuổi Xanh, Tuổi Trẻ Cười, Văn Học, Văn Nghệ Hạ Long, Văn Nghệ Quân Đội, Vì Trẻ Thơ, Việt Nam Hương Sắc, VN Văn Đông Nam Á Ngày Nay, Xây Dựng, Y Học Cổ Truyền, Y Học Thực Hành, Y Học Việt Nam…

F.- Tạp Chí Định Kỳ (3, 4, 6 số mỗi năm): Âm Nhạc, Báo Chí Tuyên Truyền, Bảo Hiểm, Bảo Hộ Lao Động, Bảo Tàng & Di Tích, Biển, Cánh Buồm, Cần Thơ, Cơ Khí Ngày Nay, Dân Tộc Học, Dầu Khí, Địa Chất, Giáo Dục & Đào Tạo, Giáo Dục Lý Luận, Hán Nôm, Hóa Học, Khảo Cổ Học, Khoa Học Công Nghệ Kỹ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật, Khoa Học Phụ Nữ, Khoa Học Trái Đất, Khoa Học & Công Nghệ, Kiến Trúc, Lịch Sử Đảng, Luật Học, Lưu Trữ VN, Ngoại Khoa, Nghiên Cứu Châu Âu, Kinh Tế Á Châu TBD, Nghiên Cứu Lịch Sử, Nghiên Cứu Nhật Bản, Nghiên Cứu Phật Học, Nghiên Cứu Quốc Tế, Nghiên Cứu Trung Quốc, Nhà Nước & Pháp Luật, Những Vấn Đề Kinh Tế Thế Giới, Ngôn Ngữ & Đời Sống, Người Đại Biểu ND, Người Phụ Trách, Sinh Học, Pháp Quy, Tem, Thế Giới Âm Nhạc, Thông Tin (TT) Bảo Hiểm Y Tế, TT KHKT, TT Môi Trường, TT Sinh Học, TT Tư Liệu, Thủy Sản, Văn Hóa Dân Gian, Vật Lý, Xưa & Nay…

ohlala 3

Với danh sách báo giấy được liệt kể trên để dễ dàng phân biệt được số lượng đích thực của tờ báo theo đúng ý nghĩa thông dụng của nó; bên cạnh đó, loại “bản tin các loại” ít được đề cập để xếp loại chung với nhau. Trong thời gian qua, có nhiều nguồn tin đưa ra con số từ 700 đến 800 tờ báo ở VN, có lẽ kèm theo nhiều “bản tin các loại” nhằm phù hợp 10 tờ cho một triệu dân.

Với hệ thống thông tin điện toán hiện nay, báo chí trong nước thực hiện trên website còn bị hạn hẹp. Ngoại trừ những tờ phát hành bằng ngoại ngữ, số lượng báo chí Việt ngữ thực hiện trên website chưa được một phần mười. Nếu so sánh số lượng và chất lượng báo chí được thực hiện trên website thì báo chí trong nước chưa bằng báo chí Việt ngữ ở California. Giới cầm bút thì không được quyền tự ý chuyển bài viết trên trang web!

*.- Luật Lệ

Báo chí được xem là thành phần trong ngành truyền thông (truyền thanh, truyền hình, báo chí) nhưng CSVN lại quan niệm báo chí một cách tổng quát, bao gồm báo viết, báo nói (truyền thanh) và báo hình (truyền hình). Báo chí trực thuộc bộ Văn Hóa & Thông Tin (VH&TT), nằm dưới quyền giám sát của Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương (TTVHTT).

Hiến Pháp CSVN cũng đã đề cập quyền tự do báo chí từ năm 1946. Qua hai lần thay đổi năm 1959 & năm 1980… Chương V Điều 69 của Hiến Pháp CSVN thông qua ngày 15-4-1992 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Điều I Chương I được Quốc Hội thông qua trong tháng 12-1989 về Luật Báo Chí có nhiều điều bảo đảm và tôn trọng quyền tự do báo chí: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí… Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới…”. Thế nhưng, Việt Nam là một trong những nước bị liệt vào danh sách không tôn trọng “đệ tứ quyền”, chà đạp quyền tự do báo chí.

Ở Trung ương có Ban TTVHTT và Bộ VH&TT kiểm soát, ở địa phương đặt dưới quyền lãnh đạo của Ban TTVH tỉnh, thành và Sở VH&TT. Tháng 12-1997, Bộ Nội Vụ lập Trung Tâm kiểm soát báo chí dù không công khai nhưng là cái lưới vô hình giăng mắc khắp nơi.

Tuy Hiến Pháp CSVN quy định “Công dân có quyền tự do báo chí” nghĩa là có quyền xin phép để thực hiện tờ báo nhưng trên thực tế không dễ dàng như vậy. Hầu như không có tờ báo nào của tư nhân.

Trường hợp của cựu tướng Trần Độ xin phép ra báo vào đầu năm 1999 đã bị chối từ, gây xôn xao dư luận trong nước lẫn hải ngoại. Văn Thư của ông Đỗ Quý Đoàn, Vụ trưởng Vụ Báo Chí ký ngày 23-4-1999 trả lời Trần Độ lại minh xác: “Không có quy định nào cho cá nhân đứng tên xin cấp giấy phép hoạt động báo chí”. Ngay cả cựu tướng Trần Độ, người có nhiều “thành tích” với đảng và chính quyền CSVN còn bị chối từ và lên án phá rối, rồi đến trường hợp các vị lãnh đạo tinh thần, nếu không là thành phần của tổ chức nhà nước thì làm sao được quyền thực hiện tờ báo cho tôn giáo, tín ngưỡng.

Tháng 8 – 1997, Hữu Thọ – Vụ trưởng Vụ VH&TT – minh định: “Từ nay trở đi, báo chí và văn hóa phẩm phải được đặt dưới sự chỉ đạo chặt chẻ của đảng và hoạt động trong khuôn khổ luật pháp”.

Báo chí được ấn hành dưới hình thức là tiếng nói, công cụ của cơ quan ngôn luận được đảng, tổ chức thông qua sự duyệt xét của Ban VHTT và Bộ, Sở ngành VH&TT. Nhìn tất cả tờ báo đã liệt kê ở trên đều nấp dưới danh nghĩa nầy, tổ chức nọ… tuy đã có chiều hướng “cải tiến” trong giai đoạn ông Nguyễn Văn Linh tuy được nới lỏng phần nào nhưng đều nằm trong quỷ đạo làm công cụ như sự đánh giá về nền tảng báo chí CSVN từ trước đến nay.

Kể từ khi báo chí không còn nằm trong “chế độ bao cấp”, nội dung và hình thức báo chí được thay đổi khá nhiều nhưng không thể nào thoát ra được vòng kiềm tỏa. Tờ nào được độc giả ưa thích, giới hữu trách lại càng canh phòng kỹ càng. Thật ra chỉ khai thác những tệ nạn xã hội rồi bán cái “tàn dư chế độ cũ” để câu độc giả, không dám nói lên tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cưỡng chiếm đất đai nhà cửa làm băng hoại xã hội!

Thị trường báo chí cũng là môi trường đặc biệt. Nhìn lại trong khoảng thời gian qua, với chế độ bao cấp, giá tờ báo trung bình 1$ đến 2$ bạc VN (tương đương với ly cà phê ở ven đường). Đầu thập niên 90, bỏ chế độ cao cấp, giá bán tờ báo tăng 200 đến 300%, số lượng tờ báo đọc được cũng tăng vọt. Tờ Nhân Dân, bắt buộc các cơ quan phải mua nhưng số lượng ấn hành chỉ còn 1/5, điều đó nói lên tầm ảnh hưởng thuận và nghịch giữa công chúng và báo chí, giữa giáo điều và sự thật.

Hầu hết việc thu nhập tờ báo dựa trên quảng cáo và số lượng bán, vì vậy độc giả ảnh hưởng rất nhiều đến sự sống còn của tờ báo; tuy nhiên nhiều quy luật ràng buộc nên không thể nào đáp ứng được nhu cầu của độc giả.

Tờ Nhân Dân & Quân Đội Nhân Dân được xem là tiếng nói của đảng và chính quyền, quân đội khi loan tin quy định, luật lệ trong công việc kiểm soát báo chí, đồng thời nêu ra công tác thực thi cho người cầm bút “thấu triệt” để khỏi bị đi lệch hướng.

*.- Kết

Báo chí trong nước trải qua hai giai đoạn: bao cấp và kinh tế thị trường. Trong thời kỳ bao cấp số lượng báo chí rất ít, trong thời kỳ kinh tế thị trường nhiều tờ báo được ra đời. Tuy “cởi trói” nhưng được cởi mở phần nào rồi bị trói chặt trong luật lệ của giới chức lãnh đạo. Hiến pháp đề cập đến vấn đề tự do báo chí nhưng nhiều quy luật của giới chức hữu trách trực tiếp trói buộc quyền tự do báo chí. Vấn đề tham ô, cửa quyền được báo chí phanh phui, đề cập nhưng không được phép “xâm phạm” đến cấp lãnh đạo chính quyền, đảng ở trung ương; không được nêu lên vấn đề đa đảng, không được ca ngợi nền tảng tự do, dân chủ, dân quyền ở những quốc gia tân tiến…

Trong tình thế mới, với thương ước Việt-Mỹ, với nhu cầu cần phải đáp ứng để thế giới bên ngoài chấp nhận, liệu CSVN “mở cửa” cho cơ sở truyền thông dưới hình thức nào đó ở Hoa Kỳ thực hiện tờ báo tại Việt Nam?. Không có tự do báo chí thì không có tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… Không có tự do báo chí thì tình trạng bưng bít vẫn bị khép kín, mọi thông tin sẽ bị lệch lạc… Cho tự do báo chí thì chính quyền và đảng cảm thấy mối nguy cơ của “cơn bão tự do” thổi xoáy tận gốc rễ mục nát bị bất khả xâm phạm từ trước đến nay.

Báo chí trong nước không thể nào tiêu thụ được ở hải ngoại, nội dung và hình thức không có gì để quan tâm mà giá cả thì xa vời thực tế. Điển hình như tờ Nhân Dân, tờ Saigon Giải Phóng với giá $1,200 USD cho một năm 365 số, tờ Hải Phòng và Quân Đội Nhân Dân với giá $1,400 USD, tờ Lao Động giá $900 USD cho 156 số, Saigon Times giá $400 cho 52 số, Vietnam Economic News giá $800 cho 52 số, Tuổi Trẻ Chủ Nhật giá $380 USD cho 52 số… Trong khi đó thì báo chí Việt ngữ ở Hoa Kỳ, nhật báo với giá 25 cent, tuần báo với giá 50 cent đến $1 USD, nguyệt san, tạp chí từ $3 đến $8 USD… rất phù hợp với nhu cầu thực tế của độc giả.

Khi nào báo chí VN không còn đánh giá là công cụ cho đảng, cơ quan và tổ chức của nhà nước CSVN mới thể hiện tinh thần tự do, dân chủ thì tiếng nói đích thực của nó mới có giá trị chân chính.

Little Saigon, May 2002

Vương Trùng Dương gửi đến Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

TÌNH THỜI CÔ VI




Vào khu cách ly
em muốn được gì?
em đòi Củ Mì
anh đây có sẳn !


Em thèm trứng Cúc
anh cũng nguyện dâng
ngày tháng dồn lần
tình ta sẽ nặng !

Vào khu cách ly
em muốn được gì?
anh đây cũng tặng
ngoại trừ CÔ VI !

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

THẮP NÉN NHANG TA KÍNH NGƯỜI HIỀN



Những đồi hoa Sim tím
giấu vào tim nỗi buồn
trong chiều buông độ lượng
cho linh hồn náo nương

Ta từ chín hướng mười phương
vương vào nỗi nhớ tư tương vô thường
"Người còn ở giữa chiến trường
tin vui chưa đến tin buồn đã sang "

Đồi sim hoa tím đã tàn
tháng Ba còn đó mộ vàng truân chuyên
thắp nén nhang ta kính người hiền
nhà thơ thồ đá (*) xây nền thi ca

*Nhà thơ Hữu Loan (2/4/1916-18/3/2010)
công việc: Nhà thơ,làm ruộng, đánh cá, thồ đá
(wikipedia)