Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

ĐẤT NƯỚC MÌNH... ( nhân đọc bài ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH)



Đất nước mình thú vị lắm phải không em
người thất nghiệp vẫn sáng say chiều xỉn
ngã xuống rồi lắm người đưa tiễn
thắp nén nhang mong người chết thành tiên.

Đất nước mình may mắn lắm phải không em
ngày lại ngày qua ba đài xổ số
hàng trăm người mạng sanh vận đỏ
đổi thay đời thành tỷ phú như ai

Đất nước mình tự hào lắm phải không em
xây tượng đài lễ hội nhiều hơn bệnh viện
tháng tháng rong chơi sống vui hoài niệm
dân tộc anh hùng đánh gục ngoại bang

Đất nước mình nhân ái lắm phải không em
chùa chiền nhiều hơn quán cơm từ thiện
phật tứ phương một lòng cầu kiến
xin an bình cúi lạy muôn niên

Đất nước mình can đảm lắm phải không em
tám trăm ngàn tấn bom mìn còn là rác thải
bốn ngàn người một năm nào sợ hãi
xác lìa hồn chỉ như tai nạn số trời định phân

Đất nước mình xinh đẹp lắm phải không em
mình hạc xương mai ba vòng kỳ mỹ
Bắc- Trung _ Nam đều mang tuyệt kỷ
như thi sĩ mỗi người mỗi vẽ " mười phân vẹn mười"

Đất nước mình thoải mái lắm phải không em
nhà " dân chủ' ai ai cũng lắm tài
chữ " giàu" đi với chữ "sang"
oang oang diễn đàn " thả tép bắt tôm"

Đất nước mình nhiều...nhiều chuyện lắm phải không em
nếu có kể bốn ngàn năm chưa hết
nên em ơi xin đừng vội kết
đất nước mình sao chẳng giống đất nước người ta...

Nhưng có một điều anh muốn kể
đất nước mình có "khủng bố" đó em!

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

về bức “Tam Bạc” của Mai Duy Minh


Yết Kiêu & Dã Tượng



Xin được mở đầu chùm bài nhỏ này bằng một bức tranh của họa sĩ mà tôi yêu mến: Mai Duy Minh.

Mai Duy Minh sinh tại Hải Phòng, năm 1976, rồi ra Hà Nội học Mỹ thuật Yết Kiêu khóa 1994 – 1999. Hiện anh sống và làm việc tại Hải Phòng, thuộc nhóm họa sĩ theo đuổi trường phái Hiện thực – thứ hiện thực mạnh mẽ và quyết bám chắc lấy cái chuyển động của đời sống, chán ngán với những bức tranh nho nhỏ vẽ con mèo nằm bên bình hoa hay tĩnh vật con cá trên cái đĩa v.v… – loại tranh tĩnh đặt vào thời nào cũng vẫn là thế, không phải là trường tồn mà là nhàm chán đến phi thời gian.

Hải Phòng là một thành phố nay đã buồn và như bị bỏ lại, không phải là lùi hẳn lại như vào quên lãng hẳn như những trung tâm đã bị dời đi, chỉ như một nơi lỗi mốt so với các đô thị “đáng sống” khác. Mai Duy Minh sau bao nhiêu năm lăn lộn ở Hà Nội và các phong cách vẽ khác nhau (có khi vẽ cả những bức rất như “làm hàng”, loại dễ treo trong các khách sạn sang hay nhà các tùy viên sứ quán có vợ Việt), đã trở về Hải Phòng và lựa chọn một lối vẽ khắc nghiệt khác, nhưng như thế hình như càng đẹp hơn. Tôi tạm gọi là “hiện thực khắc nghiệt của tay bất mãn”.


“Đường Mây”, 2011, một bức mà theo tôi là rất “chợ” của Mai Duy Minh

Nhắc đến Mai Duy Minh là ai cũng nói đến bức tranh bát cơm khổng lồ với đôi bàn tay nhăn nheo bưng có tên “Miền Đất Hứa”. Tranh có kích thước khổng lồ (5.4m x 2m) không hiểu hiện treo ở đâu, đã bán được chưa. Nhưng hôm nay tôi muốn bàn về bức “Tam Bạc” giản dị của anh. Tôi chỉ được xem qua mạng, chưa có dịp đến nơi xem trực tiếp, không biết khổ tranh thế nào. Màu trên máy có thể khác xa với màu bên ngoài. Những bạn nào đã có cơ hội xem bên ngoài xin hãy góp thêm vào cho xôm tụ. Câu này tôi cũng sẽ nhắc đi nhắc lại trong những bài sắp tới.



Mai Duy Minh, “Tam Bạc”, sơn dầu, 2012. (Các bạn bấm vào hình để phóng to)

Tam Bạc trong tranh này là phố cổ Tam Bạc, nằm bên bờ sông Tam Bạc. Trước kia phố mang tên nhà tư sản Việt Nam chuyên ngành tàu biển là ông Bạch Thái Bưởi, sau đổi lại là phố Tam Bạc. Gốc thì phố có nhiều người Hoa sống và làm ăn. Giờ đây xuống Hải Phòng chơi, người ta không thể không nhẩn nha đi dọc phố cổ này và cảm giác trộn lẫn giữa phố cổ Hà Nội với phố cổ Hội An, với điểm đặc trưng là màu vàng của vôi nhà của những ngôi nhà lầu cũ.


Một đoạn phố phố bên sông Tam Bạc. Ảnh của decu_decu

Mai Duy Minh chọn một căn nhà lầu phố chợ trên phố này làm chủ thể cho bức tranh mình vẽ. Nhà hai mặt tiền, cấu trúc mái nhọn kế mái bằng tạo lớp. Cửa sổ nhỏ và cao, sơn xanh đậm. Tường vôi vàng rất “phố cổ”.


Nhìn từ bên hông. Ảnh từ trang này

Nhà này nhìn ra bến đò ngang trên sông, và có lẽ cũng là chủ thể trong nhiều tác phẩm của các tay máy Hải Phòng.


.

“Tam Bạc” vẽ lối tả thực nhưng tôi không nghĩ Mai Duy Minh đã ngồi bên sông, nhìn căn nhà mà làm phác thảo, hoặc vẽ trực tiếp với giá vẽ ngoài trời. Có thể anh đã vẽ từ một cái ảnh chụp, sau khi zoom ra cho gần lại và to lên. Nhưng dù thế nào, đây là một bức tranh đã vẽ ở thì quá khứ, mang nhiều tính chất của hoài niệm. Hoài niệm của ta về một kiến trúc thường không có người, trong tranh này phố Tam Bạc là phố buôn bán sầm uất nhưng cũng không có người – không có cả đến vật dụng của con người đang sống. Bến đò cũng vắng tanh… Nhưng phố trong tranh vẫn sống, bởi vì nó chứa một thứ gì đó cựa quậy. Thứ gì ta còn chưa rõ, phải xem kỹ tranh hơn nữa.


Chi tiết tranh

Trạnh Mai Duy Minh vốn có một phổ màu vàng rất rộng, với độ trong đục thay đổi tùy tranh, tùy đề tài. Nếu như trong “Miền Đất Hứa” là một màu vàng của Siêu thực tràn ngập các đối tượng trong tranh, với sắc độ dâng dần, từ mặt đất vàng xỉn lam lũ, lên tột cùng ước mơ là màu vàng trong của những ngón tay bưng bát cơm trắng ngà…,


“Miền đất hứa”, Mai Duy Minh, sơn dầu, 540 x 200cm, 2011

… thì trong bức “Tam Bạc”, màu vàng chỉ dành riêng cho đối tượng chính là cái nhà góc phố với cửa sổ xanh, các ngôi nhà khác được đánh màu xanh hoặc xám hoặc nâu nâu nhạt nhẽo, để “nhân vật chính” sáng bừng lên trong ánh đèn spotlight rọi vào. Ở đây, màu vàng của ngôi nhà này được nâng lên, thành một màu vàng sau khi đã lọc qua sự nhớ lại, là một màu vàng của quá khứ, không còn thật nữa, tương tự màu kỷ niệm của người đi xa nhớ về nơi cũ thì màu bao giờ cũng sai đi, rực rỡ hơn, khiến sau này quay lại ngỡ ngàng và cả bẽ bàng vì không nhận ra! Ta bắt chước Đoàn Phú Tứ gọi đó là thứ “màu thời gian“.


Chi tiết tranh

Đã là trí nhớ thì nhập nhoạng, cái nổi rõ nét quá đà, cái mờ đi tù mù. Trong “Tam Bạc”, những hàng phượng không nở hoa, bóng xanh chỉ là mảng xanh lẫn lộn lá với cành thành một khối. Trong khi ấy những thanh rào bên bờ sông lại rõ từng nét, và rõ cả đến xà bần, rác rến nơi mép sông, vết gạch vỡ ở trụ hàng rào, những bậc thang dẫn xuống bến đò. Họa sĩ vẽ rất tỉ mỉ những chi tiết ấy. Sự tỉ mỉ này chính là những cử động của ký ức, làm cho bức tranh này tuy không người mà vẫn có sự sống động của sinh hoạt.


Chi tiết bờ sông trong tranh

*

Đi Hải Phòng rất dễ dàng. Từ Hà Nội lấy xe khách ở Lương Yên hay lấy tàu ở Long Biên, ngồi đọc xong quyển sách nhỏ hoặc chơi game là đã tới thành phố hoa phượng đỏ, bình an và vẫn còn nét ngang tàng, kiêu hãnh của những “anh chị” sông nước một thời. Nhìn thấy sự trộn lẫn giữa cái bạo liệt một thuở với cái yên ả về hưu của thành phố này giúp tôi lý giải việc Mai Duy Minh chọn hướng đi hiện tại cho đường sáng tác của anh. Những bức tranh của Mai Duy Minh, giá như không quá to, vẫn đẹp như thế này nhưng khổ nhỏ đi, cô đọng nữa vào, thì sẽ dễ dàng đi vào các bộ sưu tập không cần của các tay mua tranh thế giới, mà của chính những tay chơi tranh Việt Nam. Sở hữu tranh của Mai Duy Minh chính là sở hữu ký ức về nước mình, ghi lại bằng tranh và nét tài hoa của một người đã định được hướng đi bền vững.




*

Nghĩa của tiếng Việt: từ cắm (hoa) cho tới sáp nhập



Cùng học tiếng Việt




Đây là một từ Hán-Việt, viết đúng chính là sáp nhập, nhưng hay bị viết sai thành sát nhập.



Cùng một bài báo mà lung túng giữa hai từ


Sáp có nghĩa là “cắm, cài, nhét, nhúng”. Để nhớ chữ này, bạn có thể nghĩ về chữ insert tiếng Anh hoặc trên bàn phím máy tính của bạn. Sáp còn có nghĩa là trồng hoặc cấy, vì phải nhét hạt giống hoặc cắm cây con vào đất. Nhập nghĩa là “vào”. Vậy sáp nhập có nghĩa là gom vào, cắm vào, cài vào, cho cái này vào trong cái kia.

Ví dụ câu thơ chữ Hán sau của Nguyễn Du trong Quỷ Môn Quan dùng chữ sáp nhập:

Liên phong cao sáp nhập thanh vân
(Núi liền nhau cao vút, lồng vào mây xanh)



Quỷ môn quan, Lạng Sơn. Hình từ trang này

Hay hai câu sau của Nguyễn Phúc Ưng Bình trong Lộc Minh đình thi thảo dùng chữ sáp nghĩa là cắm (hoa):

Sáp mai tảo ngụ tầm xuân ý,
Ngã tặng đồng nhân nhân tặng dư.
(Sáng sớm cắm hoa mai tìm chút hơi xuân
Ta tặng cho người, người lại tặng cho ta)



Cắm hoa. Tranh từ trang này

Ngoài sáp nhập, tiếng Việt hiện đại không dùng chữ sáp/cắm-cài này trong từ ghép nào nữa (Ngoài nghĩa “cài cắm”, sáp còn là nến). Vì thế, nghĩa gốc Hán-Việt của nó dễ bị những người không để ý lãng quên, và dùng sai thành sát nhập – một chữ vô nghĩa, do chữ sát này có một nét nghĩa khiến chúng ta bị lẫn lộn.

Sát đang nói ở đây là một từ Hán-Việt có nghĩa là chà, cọ, xoa vào nhau (ví dụ: ma sát = mài cọ). Sát được Nôm hóa thành xát, và dùng trong các từ ghép Nôm như cọ xát, xây xát, xát muối.

Chính nét nghĩa cọ vào nhau này khiến sát phát triển nghĩa thành “ở rất gần nhau” (ví dụ: sát sườn, sát rạt, đôi khi biến âm thành sít). Những người dùng chữ sai “sát nhập” có thể đã hiểu theo ý là “những cái ở gần nhau đem nhập vào nhau”.

*

Các bạn xem thêm về các từ khác ở FB Cùng học tiếng Việt nhé

IM LẶNG : một nghệ thuật sống





Im lặng là vàng. Có thực sự vậy không? Có những khi cần phải nói, thậm chí là nói nhiều, để khả dĩ mang lại lợi ích cho người khác, để giải hoà, để hoà hợp và cảm thông, hoặc để bảo vệ chân lý.
Tuy nhiên, có đôi khi lại cần im lặng, lúc đó sự im lặng có giá trị hơn nhiều. Và lúc này chính sự im lặng lại “nói” nhiều hơn. Đó là đặc ngữ của sự im lặng, một loại văn hoá kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện.

Nói hoặc im lặng đều phải đúng nơi, đúng lúc, đúng người, và chỉ sử dụng khi thực sự cần thiết. Lời nói có thể là lưỡi gươm, mà gươm chưa dùng thì cứ để trong bao. Im lặng là diệu kế nếu lời nói vô ích, nếu không thì có thể phản tác dụng.


Thật chí lý câu nói của T. Man: “Người khôn ngoan mang tất cả tài sản vào trong đầu”. Đó chính là giá trị của sự im lặng. Nhưng

​ khi nào nên im lặng?

1. Khi người khác buồn phiền, đau khổ 

Biết vui với người vui, buồn với người buồn. Đó là động thái của người có giáo dưỡng, tri thức, biết điều, biết cư xử và thấu cảm. Không gì vô duyên hơn khi người khác khóc mà mình lại cười – hoặc ngược lại. Sự “lệch pha” đó khả dĩ khiến chúng ta trở nên lố bịch, hợm hĩnh và kiêu ngạo.

2. Khi người khác suy tư, lao động trí óc 

Sự im lặng là “vương quốc” của hoạt động trí óc. Nhờ đó mà có những kiệt tác, sự cao thượng, sự hiểu biết, sự trưởng thành, sự hồi tâm… Văn hào W. Goethe xác định: “Tài năng được nuôi dưỡng trong cô tịch, còn chí khí được tạo bởi những cơn sóng dữ của giông tố cuộc đời”. Thấy người khác trầm tư mặc tưởng, đừng phá “khoảng riêng” của họ. Sự im lặng lúc đó thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

3. Khi người khác không hiểu mình 

Khi chưa được hiểu, chúng ta cần cởi mở và hoà đồng để người khác có thể hiểu mình hơn – dù không thể hiểu hết. Nhưng nếu bạn cảm thấy người ta thực sự không thể hiểu hoặc không muốn hiểu thì tốt nhất là im lặng. Nếu không, những gì bạn nói có thể gây “dị ứng” hoặc hiềm thù.

4. Khi người khác nói về vấn đề mình không am hiểu

Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Người khôn ngoan chỉ nói những điều mình biết rõ và hoàn toàn im lặng đối với những gì mình không biết hoặc mơ hồ. Đừng ảo tưởng mình là “bách khoa tự điển”. Nhà bác học A. Edison nói: “Điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, điều chúng ta không biết là cả đại dương”. Còn hiền triết Socrates thừa nhận: “Tôi không biết gì cả, đó là điều tôi biết rõ nhất”. Chỉ là người bình thường, chúng ta càng cần khiêm nhường mà biết im lặng.

5. Khi người khác khoe khoang, lý sự 

Thùng rỗng kêu to. Càng hiểu biết người ta càng ít nói, thâm trầm và cảm thông. Trong 4 phép toán, phép trừ là… “dễ” nhất, nhưng lại đầy ý nghĩa. Chỉ vì ngu dốt nên mới độc đoán, khắt
khe hoặc cố chấp. Khoe khoang và lý sự là “đặc điểm” của đầu óc nông cạn, thiển cận. Dốt thì hay nói chữ để cố che lấp khiếm khuyết của mình.

6. Khi người khác không cần mình góp ý kiến 

Đừng bao giờ “xía” vào chuyện của người khác hoặc tò mò chuyện của họ. Vả lại, nói nhiều thì sai nhiều. Nói thiên lệch thì mất lẽ chính, nói huênh hoang rồi đến chỗ đuối, nói xiên xẹo rồi đến chỗ sai trái, nói giấu giếm sẽ đến chỗ cùng.

Cibbon nói: “Đàm luận khiến người ta hiểu biết, nhưng im lặng là trường học của sự khôn ngoan”. Im lặng còn là yêu thương, tha thứ, và là cuộc sống.
Tuân Tử dạy: “Im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan là 5 cung bậc khác nhau của trí tuệ”. Có thể coi đây là ngũ-cung-sống của cuộc đời. Tóm lại, im lặng là một nghệ thuật kỳ diệu và là cách thể hiện văn hoá cao cấp.

Nói ra được thì tốt nhưng có khi im lặng lại tốt hơn. Ta nên học lắng nghe để hiểu, dừng lại để thương. Nhưng khó đấy, bài học này chỉ dành tặng cho những ai đã biết buông bỏ ngạo mạn, biết đời sống là vô thường bất chợt.

Vừa rồi trò chuyện với người bạn, anh ta nói: trong cuộc sống, rất ít người chịu học lắng nghe và im lặng. Bởi vì họ không muốn thua kém, không muốn khiêm cung để nghe rõ những gì người khác nói. Thậm chí, họ giành nói như để tận dụng hết thời gian gặp nhau, sợ thiệt thòi khi ra về mà đối phương chưa rõ hết câu chuyện. Thì vậy, cuộc sống là muôn màu!
Ngày xưa, ngay chính ta cũng ham nói, vào cuôc họp cứ uyên thuyên bất tận, ra café với bạn thì lắm nỗi niềm… Lúc nào cũng muốn nói ra, muốn trút xuống, có khi quá cao trào bi đát, khóc thương. Nghĩ lại, ngày xưa ta ích kỷ thật, chỉ muốn nói cho thỏa. Thậm chí, hay gân cổ cãi lại mỗi khi có vấn đề gì đó về quan điểm. Người sai rồi, ta đúng! Rồi… ta đã được gì trong “đúng – sai” đó?

Thật vậy, nhu cầu chia sẻ ai cũng có. Nhưng để làm người hứng chịu và biết lắng nghe, đếm được mấy người? Cảm xúc con người vô cùng phức tạp, tuổi càng cao, trái tim càng thu nhỏ, dù đã được bao bọc rất kỹ nhưng chỉ cần một lời nói vu vơ cũng có thể như mũi nhọn xé nát lòng người. Thành ra, người lớn chỉ nghĩ mà không cần nói, còn người trẻ thì cứ nói mà không cần nghĩ!

Người ta càng về già càng thấy cô đơn, hay hoài niệm về thời son trẻ rồi bới tìm, rồi thở dài… Có lẽ, họ tiếc nuối điều gì của ngày đã qua. Người trẻ thì nôn nao mong cho ngày mau tới, sẽ vứt bỏ nếu không thích, cần gì người khác hiểu. Và dĩ nhiên không bao giờ chịu im lặng!

Ta ví cuộc đời như trò chơi xếp chữ. Ai cũng được phát cho 1000 miếng, ai cũng có thời gian hoàn thành giống nhau. Chỉ có điều là con người ít khi kiên nhẫn chịu xếp cho mình đến mảnh cuối cùng để tận hưởng vẻ đẹp thực sự nằm bên trong đâu đó.

Đa phần người ta than thở hoặc nóng nảy và cố gắng chắp vá, chồng chéo tất cả vào nhau, rối tung, mệt mỏi, chán nản, trách đời bất công, sao ông trời khó khăn với người này, dễ dãi với người kia?

Chỉ có những ai đi đến cuối cùng của sự tận tụy mới nhận ra bức tranh cuộc sống thật đẹp, thật xứng đáng. Và có khi để hoàn thành nó, người ta đã âm thầm đi tìm, luôn kiên nhẫn và im lặng. Người ta phải nhẹ nhàng tìm kiếm, kể cả chẳng may ghép vài lần mà không đúng.

Thì đã sao? Ta có 1.000 cơ hội kia mà. Lần này chưa được, lần sau sẽ được, chỉ cần bạn đủ niềm tin. Vì tin sẽ thấy, tìm sẽ gặp. Nếu ta tin chắc chắn mình sẽ hạnh phúc thì đã có hạnh phúc rồi đấy.
Hạnh phúc ngay giây phút này đây, yên bình và thanh thản. Không một chút quấy rầy, không chết chóc hay chiến tranh. Đẹp quá phải không? Nếu có nhiều hạnh phúc hơn thế, hãy mang chia sớt nhé nhưng nhớ lặng thầm. Khẽ thôi, họ sẽ biết cảm nhận. Yên tâm…!!!

Vụ cá chết: Nhận định rùng mình của 3 nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài



Trong lúc chờ kết luận của cơ quan chức năng, chúng tôi đưa ra những bằng chứng sau để dự đoán khả năng hai trường hợp có thể xảy ra.

Để khẳng định một cách chính xác, các phương pháp phân tích hóa chất thường dùng trong các phòng thí nghiệm hóa học, phân tích chất lượng nước... có thể xác định chính xác hóa chất gây cá chết .
Thí dụ dùng phương pháp Atomic Absorption Spectroscopy (AAS) có thể tìm ra những kim loại nặng hấp thụ trong cá chết hoặc Gas Chromatography Mass Spectroscopy (GC-MS) xác định hàm lượng vết các chất hữu cơ.
Những thí nghiệm này không quá phức tạp chỉ cần trình độ cử nhân hóa học là làm được.
Tuy nhiên không hiểu lý do vì sao cho đến giờ chưa có một báo cáo nào công bố cụ thể các chỉ số cho toàn dân biết để phòng tránh.
Trong lúc chờ kết luận của cơ quan chức năng, chúng tôi đưa ra những bằng chứng sau để có thể đưa ra nguyên nhân cá chết do nhiễm độc kim loại nặng.
Trường hợp 1: Nhiểm độc kim loại nặng (KLN)
Chất có khả năng giết hàng loạt cá biển trên một diện rộng như thế phải là chất kịch độc như KLN và kể cả chất phóng xạ.
Theo thiết kế của khu công nghiệp, cổng xả thải được đặt ở vị trí 1,5 km ngoài khơi, nơi được cho là có khả năng làm loãng mọi hóa chất một cách nhanh chóng do dung lượng lớn của nước biển.
Tuy nhiên, đối với các KLN như chì thì một lượng rất nhỏ chỉ cần 1 g trong 1,000,000 litter nước cũng đủ chết người (Nồng độ IDLH (Immediately Detrimental to Life and Health) từ Environmental Protection Agency (EPA -Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ) và 1 g trong 10 triệu litter nước đủ nguy hại đến cá).
KLN khối lượng riêng nặng nên khi bị phát tán sẽ dần chìm xuống dưới nên mới gây chết rất nhiều cá ở tầng đáy.
Như các thông tin báo chí đăng có thể thấy cá sống ở lớp nước sâu bị ảnh hưởng nhiều hơn cá sống ở lớp nước mặt.
Điều đó có thể là dấu hiệu cho thấy do các hợp chất chứa KLN chìm xuống dưới làm chết các loại cá và sinh vật dưới đáy biển.
Kết luận kiểm tra của Sở NN&PTNT Thừa Thiên - Huế cho biết, nguyên nhân cá chết hàng loạt là do pH nước thay đổi đột ngột, chất lượng phú dưỡng (PO43-) tăng cao đột ngột.
Câu hỏi đặt ra “PO4 từ đâu ra và tại sao pH nước tăng đột ngột?”

So sánh đá ở khu vực Vũng Áng và đá phosphorite

Nước thải từ Formosa
Đá ở khu vực Vũng Áng rất giống loại đá phosphorite: có lỗ nhỏ và màu ngả vàng.
Ta có thể thấy nước thải của Formosa có màu vàng, rất giống với màu đặc trưng của nước thải khi khai thác phosphorite.
Cấu trúc của đá phosphorite điển hình thường có chứa gốc iôn kim loại nặng và PO43-

(Một số ít ion bạc trong cấu trúc này có thể được thay thế bởi các loại kim loại nặng khác nhau). Khi khai thác đá phosphorite sẽ giải thoát một lượng lớn PO4, ion Ag cũng như một số kim loại nặng vào nước thải.
Phosphoric acid là một acid yếu do đó với lượng lớn PO4 3- ion, theo nguyên tắc chuyển dịch cân bằng Le Chatelie, chiều phản ứng sẽ bị đẩy ngược để tạo nhiều OH ion hơn và do đó nâng cao độ pH của nước.
Theo nghiên cứu của Salamon, chỉ cần 0.1 ppb (part per billions) lượng ion bạc là đủ giết cá. 0.1 ppb tương đương với 1 g cho 10 triệu litter nước (hệ số biến đổi: 1 ppb = 1 g/1 triệu L).
Trường hợp 2: Nhiễm độc bởi cyanide
Trong kỹ thuật khai thác mỏ kim loại, NaCN thường dùng để chiết xuất vàng và các kim loại quí hiếm.
Thí dụ trong trường hợp chiết xuất vàng từ quặng, NaCN giúp biến vàng thành chất có thể tan trong nước theo phản ứng sau và đồng thời sản xuất NaOH, một bazơ mạnh theo phương trình sau:
4 Au + 8 NaCN + O2 + 2 H2O → 4 Na[Au(CN)2] + 4 NaOH
NaCN là một loại muối rất dễ tan trong nước. Do đó nếu không kết hợp với kim loại thì ion cyanua sẽ xuất hiện ở dạng ion trong nước thải.
Vì phản ứng hóa học thải ra NaOH do đó nồng độ pH của nước sẽ tăng phù hợp với báo cáo của Sở NN&PTNT Thừa Thiên - Huế.
Ion Cyanua (CN-) tan trong nước là một chất cực kỳ độc. Nó làm hệ thống hô hấp của động vật mất chức năng tiêu thụ oxy. Nồng độ IDLH của CN là 25 g/ 1 triệu L.
Tuy không độc bằng KLN nhưng với lượng lớn cyanua cũng có thể gây cá biển chết hàng loạt.
Khu vực miền Trung được biết có nhiều mỏ vàng. Do đó khả năng chất thải có từ việc khai thác vàng và kim loại quí hiếm cũng không phải là thấp
(Xem hình 2- so sánh nước thải của Formosa và nước thải từ quá trình khai thác vàng)
Tác hại có thể dự đoán trên diện rộng của sự việc ở Vũng Áng
Khi cống thải được đặt ở 1,5 km xa bờ biển thì cột nước thải có thể dài vài chục đến cả trăm mét.
Dòng hải lưu nơi đó đủ mạnh để phát tán chất độc trong diện rộng từ vài trăm đến ngàn km dễ dàng và nhanh chóng. Thực tế cho thấy tác hại đã lan ra trên 250 km bờ biển.

Cột nước thải và sơ đồ vùng biển nhiễm độc
Theo lí thuyết, những chất này nếu là KLN thì tác hại của nó có thể là khôn lường và rất khó ước đoán. Các loại hải sản ở khu vực nhiễm độc đều có thể bị nhiễm nặng.
Lượng độc tố có thể ngấm sâu xuống mạch nước ngầm và gây hại lâu dài.
Tình trạng ở Vũng Áng có tầm nguy hại đến sức khỏe và mưu sinh của dân chúng trên diện rộng do dòng hải lưu và phân phối hải sản tiêu thụ trên cả nước chứ không chỉ giới hạn ở Vũng Áng.
Lịch sử thế giới đã ghi nhận rất nhiều trường hợp thương tâm về việc nhiễm KLN từ môi trường và cuộc đấu tranh pháp lí không hề dễ dàng.
Một vài ví dụ đau thương được ghi nhận về nhiễm độc KLN:

Nạn nhân bị nhiễm bệnh Minamata
Bệnh Minamata là đại thảm họa môi trường của Nhật-như cái giá phải trả cho việc quá nôn nóng phát triển kinh tế mà bỏ qua việc bảo vệ môi trường.
Từ năm 1932-1968, công ty Chisso (Nhật) sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo.
Methyl thủy ngân là chất kịch độc, độc đến nỗi chỉ vài giọt rơi vào da có thể dẫn đến tử vong ngay lập tức.
Trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân được sinh ra và đổ thẳng xuống vịnh Minamata mà không qua bất kì một sự xử lý nào.
Thủy ngân phát tán trong môi trường nước, bám vào phù du và lắng xuống bùn. Cá hấp thụ oxy trong nước qua mang cá, tích lũy thủy ngân trong cơ thể.
Khi ăn phải những con cá bị nhiễm độc đó dần dần, người ăn sẽ tích lũy lượng thủy ngân đáng kể trong cơ thể.
Khi đi vào trong cơ thể người, thủy ngân tấn công thẳng vào hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết, và các cơ.
Thủy ngân làm con người trở nên loạn trí, các khớp xương bị co rút, dẫn đến biến dạng cơ thể.
Người mẹ nhiễm thủy ngân sẽ đẻ con ra quái thai, dị dạng hoặc bị nhiễm bệnh Minamata bẩm sinh. Hậu quả là hơn 17 000 người dân phải gánh chịu căn bệnh này suốt hơn 60 năm.
Tác hại của việc khai thác KLN cho môi trường có thể biểu hiện trực quan hơn ở chung quanh khu vực nhà máy khai thác KLN ở Baotou, Trung Quốc năm 2012 súc vật bị chết do nhiễm khí độc.
Ngay cả cây ăn trái cũng èo uột và trái có mùi hôi thối.
Nếu là NaCN thì sao?
Tuy tính độc hại lâu dài của cyanua không tàn khốc như KLN, chất độc này có thể phá hủy hệ thần kinh và bộ phận hô hấp, thay đổi hồng cầu.
Người bị nhiễm độc rất khó thở và dễ bị chảy máu mũi. Những triệu chứng này không phù hợp lắm với triệu chứng tìm thấy ở những người bị ngộ độc do ăn cá nhiễm độc báo chí đã đưa thời gian gần đây.
Không ăn cá chết thôi chứ hải sản sống thì ăn không sao? Tắm biển cũng không sao?
Đây là một nhận định sai lầm trầm trọng. Khi cá chết có nghĩa nồng độ chất độc đã vượt ngưỡng. Nhưng cá còn sống không có nghĩa là không có bị ngấm chất độc.
Tuy trường hợp cá chết do NaCN thì ít nguy hại hơn nhưng nếu là KLN thì hệ quả lớn hơn nhiều.
Xin nhắc lại tất cả hải sản từ vùng ô nhiễm có xác suất hấp thụ độc tố rất cao đặc biệt là những loại sinh vật sống sát đáy.
Những độc tố này tồn dư, tích luỹ qua chuỗi thức ăn. Do cơ thể con người không có khả năng thải KLN hiệu quả, nó sẽ tích lũy dần dần và gây tác hại lâu dài như nói trên.
Đã có nghiên cứu chỉ ra lượng nhiễm độc thuỷ ngân vào cơ thể người từ việc ăn cá lên đến 95%.
Ngay cả lí do lần này không liên quan đến KLN thì việc chất độc tồn dư ở những con cá chưa đủ liều lượng giết chêt cá là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Nếu những chất độc này đã gây ngộ độc cho một số người ở Quảng Bình (Bố Trạch), Hà Tĩnh (Kì Anh), thì có thể thấy rõ tác hại của nó.
Người ngộ độc KLN qua đường tiêu hóa thường có triệu chứng bụng quặng đau, buồn nôn, tiêu chảy, nhức đầu và kiệt sức.
Bên cạnh đó, như chúng tôi đã đưa ra trước đó bên cạnh sự nhiễm độc do hô hấp và qua đường thức ăn thì chất độc có thể đi vào cơ thể qua da (niêm mạc).
Do vậy, trong thời gian này hạn chế việc tắm biển, thậm chí các bạn tham gia điều tra nên có bảo hộ khi lặn sâu vào vùng nhiễm độc.
Không đưa ra lời cảnh báo để tránh việc chặn đi đường sống của hàng triệu dân nghèo?
Cũng có một vài ý kiến cho rằng, khi chưa có bằng chứng cụ thể chúng ta không đưa ra nhận định để tránh làm mất đi nguồn sống của người dân hay làm nhân dân hoang mang.
Theo chúng tôi đây là một nhận định hết sức sai lầm. Khoa học ngoài việc tìm ra bằng chứng còn có chức năng dự báo để đề phòng trường hợp xấu nhất.
Chúng ta đề phòng trường hợp xấu nhất nhưng mong đợi vào tình huống khả quan nhất.
Nếu chúng ta không cảnh báo kịp thời, hậu quả sẽ lan nhanh, sâu và rộng hơn cho cộng đồng đến mức độ không còn khả năng kiểm soát được.
Như ví dụ trên: vụ nhiễm độc Minamata cũng được phát hiện nhờ vào lời cảnh báo của viện trưởng Hosokawa của bệnh viện Kumamoto khi nghi ngờ nhiêm độc thủy ngân hữu cơ của các bệnh nhân.
Tại thời điểm đó, sự việc như này chưa hề có tiền lệ trước đó.
Chúng ta đi sau nên học những bài học của người đi trước để tránh sai lầm. Hơn nữa việc chúng ta được cảnh báo là để chúng ta biết và đề phòng chứ không hề vì thế mà sợ hãi.
Những phát ngôn thiếu trách nhiệm
Thời gian gần đây nhiều cơ quan chức năng nhà nước đưa ra kết luận “nguyên nhân cá biển chết hàng loạt là do độc tố”.
Về điều này, một người dân không có hiểu biết về khoa học cũng có thể kết luận được, đặc biệt là những nạn nhân trúng độc phải cấp cứu do ăn đồ biển ở khu có cá chết.
Có ba nguyên nhân cá biển chết hàng loạt:
1) báo hiệu sắp có thiên tai từ động đất hay núi lửa ở thềm lục địa (điều này xưa nay chưa bao giờ xảy ra ở Việt Nam),
2) có sự thay đổi lớn về số lượng vi sinh vật trong vùng nước (hiện tượng nước nở hoa, hay dịch bệnh);
3) chất kịch độc do con người thải ra trong nước biển. Kết luận của cơ quan chức năng chỉ khẳng định rằng chúng ta sẽ không có thiên tai.
Điều 90 triệu dân Việt cần biết từ cơ quan chức năng là xác định cá chết và người dân bị ngộ độc là do hóa chất gì để cộng đồng khoa học có thể hổ trợ tìm phương án giải quyết.
Lãnh đạo Formosa nói 300 tấn hóa chất nhập về sử dụng để tẩy rửa một số đường ống không gây hại và với khu công nghiệp thì chỉ “bé như hạt gạo”.
Kết luận của lãnh đạo Formosa rất mập mờ và khó hiểu, gây phẫn nộ cho rất nhiều người dân Việt Nam. Xin phép được hỏi hóa chất tẩy rửa đường ống đó có tên hóa học là gì?
Nếu lãnh đạo Formosa không trả lời được thì xin cho biết tên thương mại là gì? Chi cục Hải Quan Hà Tĩnh có thể cho dân biết thông tin cụ thể về 300 tấn hóa chất này không?
Mới đây lãnh đạo Formosa còn tuyên bố để phát triển kinh tế việc chết vài con cá biển là chuyện nhỏ và là cái giá phải đánh đổi.
Chỉ tiếc là việc chết cá biển không phải là chuyện “bé như hạt gạo” mà nó có thể là cảnh báo cho một tai họa đổ xuống các thế hệ tiếp theo của Việt Nam.
Kết luận
Có thể coi sự việc nghiêm trọng này là thảm họa khôn lường và lâu dài.
Với sự nguy hiểm của chất độc chúng tôi cho rằng cần có một nghiên cứu toàn diện với sự hỗ trợ của cộng đồng khoa học quốc tế như World Health Organization (WHO) và nên khẩn cấp trong thời gian này.
Chính phủ cần yêu cầu Formosa dừng ngay việc xả nước thải ra biển cho đến khi có kết quả điều tra chính thức.
Các cơ quan luật pháp cũng như các luật sư cần thu thập thông tin đầy đủ để có thể bắt buộc thủ phạm bồi thường thiệt hại cho dân về sức khỏe cũng như thiệt hại kinh tế.
Người dân ở vùng bị nhiễm, cần phải xét nghiệm mẫu nước sinh hoạt và sản xuất nơi mình đang sống. Chúng tôi đã có bài viết hướng dẫn cách lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm để có kết quả chính xác.
Nếu các bạn cần tư vấn thêm về cách xử lý nước hoặc trao đổi về các kết quả nhận được có thể gửi email cho chúng tôi.
Nếu có điều kiện hãy dùng máy lọc để lọc nước trước khi dùng kể cả đó là nguồn nước sinh hoạt.
Đồng thời chúng ta cũng nhanh chóng phổ biến đến người dân, để nhân dân an tâm, có biện pháp đề phòng và cũng cần đề phòng các lực lượng mê tín dị đoan lợi dụng hiện tượng này để tung tin đồn nhảm và trục lợi.
Hơn lúc nào hết người dân cần tự mình trang bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ cho chính bản thân và gia đình.
ThS Trần Thị Thanh Thoả - Thiều Mai Lâm - GS.TS Trương Nguyện Thành
Nguồn dẫn: Tạp chí Khoa học Việt Nam (Vietnam Journal of Science)
__________________
* ThS. Trần Thị Thanh Thoả (Khoa Sinh học, Trường Đại học Thủ đô Tôkyo, Nhật Bản)
Thiều Mai Lâm (Viện Khoa học Cao phân tử, Đại học Kỹ thuật Virginia, Mỹ)
GS.TS. Trương Nguyện Thành (Khoa Hóa Học, Đại Học Utah, Mỹ)
Theo: Cafebiz/Trí Thức Trẻ/Soha News

Sự bất an của chữ



Hai mươi năm trước cái chinh phục tuyệt đối độc giả tuổi 18-20 là những truyện ngắn lãng mạn về tình yêu, những trang viết nhẹ nhàng và thấm thía về cái đẹp của những mối quan hệ nhẹ nhàng, nhiều độc giả còn giữ những mảnh báo cắt lại, đăng tản văn tôi viết về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông, mùa mưa, mùa gió, mùa thi, mùa Giáng Sinh.

Bây giờ tôi đàn bà hơn và đời hơn, tôi đánh mất phần lớn những độc giả thích những cái đẹp êm đềm óng ả mà tôi đã cần cù lượm họ suốt hơn chục năm viết truyện ngắn, chịu khó chinh phục các giải thưởng văn học, dự trại sáng tác viết văn, náu mình trong những tổ nhóm sáng tác.



Cái làm đàn bà gục ngã lại là đám đông và thị phi, là một câu nói bâng quơ, là một lời trêu ghẹo, một cái nhìn ác cảm, bị gọi là gái ế, chồng chê mất trinh v.v… – Ảnh: Thinkstock

Giờ đây mỗi mùa báo Tết, các thư ký tòa soạn lại nhớn nhác hỏi Trang Hạ có cái truyện ngắn nào không? Tôi thường mỉm cười và nói, tôi đã không hề viết văn từ biết bao năm nay rồi! Giờ tôi viết một thứ chỉ mang vỏ bọc văn chương mà thôi, còn cốt lõi hoàn toàn không dính chút gì tới văn chương cả. Tôi đâm ra sợ những người viết văn chỉ lăm lăm viết văn. Có biết vì sao không?

Suốt mười năm trời từ 1993-2003 tôi vẫn nghĩ rằng mình viết cho cả xã hội đọc. Cứ ai có tiền mua sách báo là đều có quyền được đọc hết, đều thành độc giả hết. Tôi có trách nhiệm phải viết văn, hư cấu, thêm cảm xúc, thành một món ăn đặt tên là truyện ngắn Trang Hạ. Tất nhiên tôi có một số giải thưởng văn học cho món truyện ngắn Trang Hạ.

Năm 2005 có một nhân vật báo chí của tôi quay lại xin tôi một lời khuyên. Đó là một người phụ nữ cụt tay, không bằng cấp, nghèo, thất nghiệp, người nhà quê, xấu, ế chồng. Chị ta nói chị ta không tìm được chỗ của mình trong xã hội. Người lành lặn còn thất nghiệp nữa là chị, ở quê người ta đàm tiếu về cánh tay cụt của chị, không ai muốn lấy chị, chị muốn bị người khác lợi dụng cũng chẳng ai thèm lợi dụng, đi ra giếng giặt quần áo bị hàng xóm nói móc vài câu, chị ấy nghẹn ngào ôm chậu quần áo về và khóc, muốn chết vì bế tắc và không có tương lai. Chị nói, chị được nhận mấy chục triệu tiền bồi thường mất cánh tay, chẳng đủ tiền trả viện phí, mà còn bị làng xóm nói đổng là, bán trinh được có mấy triệu đồng, đằng này mất có một tay được hẳn vài chục triệu sao mà sướng thế!

Tôi nói, một là chị phải ra ngay Hà Nội, bán đồng nát hay làm thuê bưng phở, đứng máy photocopy cũng được, còn hơn ở lại quê nghèo không tương lai. Chị ra đây ôn thi một năm rồi thi đại học tại chức, đã không có sức khỏe thì càng phải có tri thức. Chịu nghèo khổ vài năm mà có tương lai sáng sủa của mình còn hơn ở mãi quê cả đời sẽ cúi gằm mặt giữa những thị phi. Tôi cũng nghèo nhưng có cho chị ít tiền đóng học phí thời gian đó. Nhưng trước khi chào bố mẹ ra Hà Nội, chị phải làm cho tôi một việc: Chị sang nhà hàng xóm, bảo họ rằng, có người chỉ cần thấy tí tiền là đào được cả mồ mả ông bà tổ tiên lên, phá chùa trộm chuông, nữa là ao ước mất một cánh tay!

Tất nhiên chị kia chẳng đủ bạo mồm nanh nọc mà sang trả đũa hàng xóm, nhưng chị lên Hà Nội chịu khó luyện thi rồi vào học đại học tại chức, trong thời gian học đại học, chị rất may mắn xin được công việc vào một tổ chức phi chính phủ. Lương cực kỳ thấp nhưng cũng tạm đủ ăn học, và tất nhiên hơn làm đồng trồng vườn ở quê. Vài năm sau, chị lấy một anh cùng quê nhưng cũng đang đi làm nhà nước. Sống được với sự lương thiện.

Tôi bị ám ảnh bởi câu chuyện này suốt vài năm ròng. Hóa ra đàn bà có thể mạnh mẽ đối diện và vượt qua nghèo, khổ, cực, xấu xí, vất vả, hoàn cảnh, bi kịch, nhưng cái làm đàn bà gục ngã lại là đám đông và thị phi, là một câu nói bâng quơ, là một lời trêu ghẹo, một cái nhìn ác cảm, bị gọi là gái ế, chồng chê mất trinh v.v… Tôi thích quan sát buồn vui sướng khổ của cuộc đời. Và vào tuổi ba mươi ba, tôi kết thúc hoàn toàn việc viết văn hư cấu, truyện ngắn, chỉ để dành thời gian viết về đời sống và đàn bà. Tôi tin rất nhiều người đàn bà đọc Trang Hạ xong đã tìm được lý lẽ để đối mặt với khó khăn, lý lẽ ấy là: Bởi vì bạn là phụ nữ, bạn không nên bị đánh gục bởi những thứ không xứng đáng, bạn sinh ra không phải là để cho kẻ khác chà đạp! Chẳng còn ai trao giải thưởng văn học cho Trang Hạ nữa. Vì đơn giản là tôi không còn viết văn đã lâu rồi, tôi chỉ còn viết về con người, càng viết thật càng tốt. Mà viết thật, không thể nào tránh được sự trần trụi.

Nhưng tôi tin rằng, sứ mệnh của người viết văn hoàn toàn không phải là để làm cho những tâm hồn rách nát trở nên yên tâm với sự rách nát của mình!


Trang Hạ

EM ĐỪNG BAO GIỜ BUỒN

ERNEST HEMINGWAY









Đừng bao giờ buồn nếu hiện thực vô cùng lạnh lẽ
Đừng đắng cay nếu không thấy chỗ đứng của mình.

Cuộc đời thực giống suối rì rầm chảy
và đôi khi đời mệt nhọc như muốn ngưng.

Nếu không thấy mục đích của mình, đừng tự dày vò,
thời gian sẽ hình thành mục đích, cái giờ chỉ là ý nghĩ.

Em hỏi, mình sống để làm gì, nhưng chẳng ai đáp lại,
vì mỗi ngày sống là một cuộc vật lộn, đến nhắm mắt mới thôi.

Nếu bị dối lừa, em cảm thấy trên đầu ngọn sóng ụp
nghĩ mà xem, bao nhiêu người, ước số phận như em.

Hãy nghĩ đến điều tốt đẹp, cái xấu hãy quên,
tự bằng lòng những gì mình có, đời em nhẹ nhõm.

Nếu chưa thấy Mặt Trời, gắng mở to đôi mắt,
giữa khó khăn sẽ tìm thấy niềm vui.

Hãy sống trong hiện tại, đừng quên điều bất diệt:
tương lai chỉ trong lành nếu hành động trong lành.





Nguyễn Hồng Nhung dịch theo bản tiếng Hungary
( Budapest. 2016. március 7.)

Đéo



Phan Huy Đường



Ai nghĩ gì về ta, ta rất quan tâm và chẳng quan tâm tí nào.

Ta đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu hay xấu xí, học zốt, nghèo nàn : ta chưa hề quan tâm.

Chưa ai yêu ta trên những tiêu chuẩn ấy. May thật.

Ta nghĩ sai hay đúng về những vấn đề cơ bản nhất trong kiếp người : ta rất quan tâm. Và không dễ dãi.

Ta dễ thương hay đáng ghét, vì đủ thứ lý do, cơ bản là phong cách ứng xử trong quan hệ xã giao với người đời : ta quan tâm nửa vời :

- Nếu ta cũng chỉ muốn có với người ấy một quan hệ xã giao đặc thù thôi, ta rất quan tâm, bỏ thời giờ tìm hiểu nét văn hoá đặc thù của người ấy. Tây Ta rất khác nhau. Ở Ta thôi, có nhiều tiểu môi trường zăng hoá. Thí dụ, những môi trường tư sản - tiểu tư sản Hà Nội trước 1954 và sau 1954, ở Bắc, Nam, và Mỹ, ta thuộc nó, e tutti quanti. Tuy có mặt ta không thích, ta dễ dàng thích ứng.

- Nếu, với ai khác, ta thèm có một quan hệ vượt quan hệ xã giao trên, thế nào ta cũng phải có ứng xử vượt nó, qua phong cách hay ngôn từ. Chỉ thế ta mới biết được quan hệ của ta với người ấy có thể thoát khỏi vành văn hoá đặc thù của người ấy tới mức nào.

Nhiều nghiệm sinh lý thú. Thí dụ.

Trước mặt người ấy, giữa đám đông đàng hoàng tử tế ở Paris, chứ không phải giữa đám nghệ sĩ vỉa hè, nhất là vỉa hè Hà Nội chính hiệu con nai, ta bỗng phát ra từ "đéo" về một chuyện hết sức tầm thường. Ta nghĩ, 90% người nghe thấy sẽ khinh ta, tránh mặt ta. Thực tế, không đến nỗi thế vì nhiều người quen biết ta từ lâu, biết ta có khả năng dùng từ không thay vì từ đéo, chỉ khi say mới văng tục : nó thế đó, khi nó say, nhưng nó không phải một thằng mất dạy, vô văn hoá. Đúng một nửa : giữa đám đông, ta chỉ dùng từ đéo khi ta tỉnh. Hè hè.

Sau khi người ấy đã nếm mùi "đéo" ấy trước mặt đám đông mà không tránh mặt ta, vẫn chấp nhận gặp ta, nói chuyện với ta, ta hiểu : người ấy đã vượt qua hàng rào văn hoá ở chính mình để coi ta như một người đáng quen biết, đáng gặp lại, đáng nói chuyện. Ta thèm người ấy làm bạn ta, toàn diện.

2016-03-12

Trịnh công Sơn và những ngày Văn khoa



TỪ THỨC









Gởi những người bạn Sài gòn ngày xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ? (HĐL)





Một ngày đầu tháng tư (2001), tôi lên phi trường Charles de Gaulle đón một người bạn từ Việt nam qua. Trên xe về Paris, anh ta hỏi : cậu có nghe tin về Trịnh công Sơn ? Tôi gật đầu ; mấy hôm trước, có người gọi dây nói cho hay TCS vừa từ trần.

Anh bạn nói đám tang Sơn rất đông. Người ta ở đâu đổ về như kiến, chật cả đường phố. Quen có, lạ có. Không đủ chỗ đặt vòng hoa phúng điếu .Tôi nói với ông bạn : như vậy, cái xứ của ông vẫn còn văn minh, vẫn còn thuốc chữa.

Đó là cái tin lạc quan nhất về Việt nam mà tôi được nghe từ nhiều năm nay. Dostoievski nói : cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. C’est la beauté qui va sauver le monde.Bỏ công ăn việc làm, đến tiễn đưa một thi sĩ-TCS là một thi sĩ-chứng tỏ người ta còn nghĩ đến cái đẹp, người ta còn có tâm hồn.

Tự nhiên tôi nghĩ đến bác sĩ Jivago của Boris Pasternak. Cũng như Sơn, Jivago là một thi sĩ. Cũng như Sơn, Jivago bị cuốn hút trong cơn lốc của lịch sử, bị quẳng vào một bi kịch kinh thiên động địa từ trời giáng xuống. Như hàng triệu người Nga, Jivago bị đánh bạt ra khỏi gia đình, quê hương khi cách mạng vô sản Nga ập xuống nước Nga, cuốn trôi tất cả : gia sản, vợ con, bè bạn, tình ái trong một xã hội thay đổi tận gốc rễ.

Chỉ có một điều không bao giờ thay đổi : là một thi sĩ, Jivago tiếp tục làm thơ. Lấy thơ làm nhân chứng, lấy thơ làm cái phao. Lấy thơ làm một nguồn hy vọng để vươn lên. Khi Jivago chết, người ta ở đâu đổ về rất đông, nhiều người không hề quen biết. Pasternak viết : người Nga yêu thơ, yêu thi sĩ. Nghĩa là yêu cái đẹp, nghĩa là chưa hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ hoàn toàn tuyệt vọng khi người ta không còn thiết tha đến điều gì, ngay cả cái đẹp. Đó là nét lạc quan nhất trong một cuốn sách đầy thảm kịch : chiến tranh, tang tóc, chia lìa, đổ vỡ. Một tia sáng loé lên trong bầu trời đen tối.



MƯA VẪN MƯA RƠI…


Khi Charles Trenet chết, hàng chục ngàn người kéo về đưa tang một thi sĩ hiện đại nổi tiếng nhất của Pháp. Đưa tang Trenet, người Pháp, trong vài giờ, quên mình đang sống trong một xã hội vật chất, suốt ngày túi bụi dành giựt. Trong vài giờ, thấy mình vươn lên, thấy đời có ý nghĩa hơn, bởi còn yêu cái đẹp. Trenet viết : Những thi sĩ đã qua đời, nhưngtiếng hát của họ vẫn bay nhẩy trên khắp đường phố.

TCS đã qua đời, nhưng tiếng hát của anh vẫn bay nhẩy trong các hang cùng, ngõ hẹp. Không phải chỉ ở Việt nam , mà trên khắp địa cầu. Người Việt, tan tác như một đàn gà mất mẹ, nương thân trên khắp nẻo đường thế giới, mang theo những kỷ niệm quê hương, mang theo mùi nước mắm, mùi sầu riêng, mùi phở, mang theo tiếng hát TCS.

Tôi đã nghe TCS qua tiếng hát nhừa nhựa khói thuốc của Khánh Ly ,tiếng hát thánh thót, không có tuổi của Thái Thanh, tiếng hát truyền cảm của Lệ Thu ; và rất nhiều tiếng hát vô danh, tiếng hát của những người sống ở ngoại quốc nhưng chỉ nói tiếng Việt, của những người thuộc thế hệ sau này, hát TCS với một thứ tiếng Việt pha giọng Mỹ, giọng Pháp, giọng Đức. Tôi đã nghe tiếng hát TCS vọng ra từ những căn nhà ở New-york, Tokyo, Budapest, Athène hay Palerme…Một buổi chiều tàn, trong một bìa rừng ở Brésil, cách Rio de Janeiro hàng ngàn cây số một nơi khỉ ho cò gáy, tưởng như không có hơi người, tôi nghe 1 giọng khàn khàn vọng ra từ 1 căn nhà gỗ. Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em với những thoáng mây bay…Người hát là một ông già gốc Ấn Độ, sống ở Việt nam từ nhỏ.Vượt biển, thuyền đắm, ông già được tầu Ba tây vớt, ở lại Ba tây, làm nghề canh rừng. Suốt ngày, lủi thủi một mình, tháng năm dài đằng đẵng, ông già Ấn mơ đến những cơn mưa trên tầng tháp cổ ở một xứ ông đã nhận làm quê hương.

Một ngày ở ngoại ô La Havanne, trong một tiệm ăn nhỏ trên bờ biển, nơi người ta bán lậu tôm hùm cho du khách (tôm hùm là tài sản quốc gia, chỉ để xuất cảng hay bán trong những tiệm ăn quốc doanh), tôi nghe một giọng hát đàn bà, rất trong, rất ngọt từ trong bếp vọng ra .Ngày gió lớn, tai nghe môi gọi thầm. Gọi tên em, tên Việt nam, trong tiếng nói da vàng. Người hát là một bà Bắc kỳ, từ Hà nội tới Cuba, trong một chương trình hợp tác gì đó giữa hai nước ‘xã hội anh em’, có lẽ đã mệt nhoài sau nhiều năm thề ăn gan uống máu quân thù .

Tác phẩm TCS đã đi sâu vào tâm hồn dân tộc.Nước ta có trên 80 triệu dân. Trừ trẻ con và những người không biết đọc, biết viết, có khoảng 50 triệu người làm thơ. Sự thực, không cần phải biết đọc, biết viết mới biết làm thơ : tác giả những câu thơ đẹp nhất trong văn chương Việt nam – ca dao - là những người nông dân không biết đọc biết viết .Trong số 50 triệu người làm thơ, mỗi thế hệ cho vài ba thi sĩ. Những thi sĩ đi sâu vào tâm khảm đám đông, gặp gỡ tâm hồn một dân tộc còn hiếm hoi hơn nữa. TCS thuộc cái số hiếm hoi đó.



SAIGON, NHỮNG NGÀY XÁO TRỘN



Tiếng hát TCS đến với Sài gòn vào những năm 60, ở trường đại học Văn khoa Sàigon , nằm trên góc đường Gia Long-Nguyễn trung Trực, ngay trung tâm thành phố ; Sơn ở Bảo Lộc trôi giạt về, lai vãng thường xuyên vì cái sinh hoạt trẻ ở đó rất náo nhiệt. Trường đang rục rịch di chuyển một phần về cơ sở mới gần sở thú Sài gòn vì số sinh viên tăng rất nhanh, trường cũ không đủ chỗ. Văn khoa là trường đông sinh viên nhất ở Việt nam. Xa rồi, cái trường Văn khoa đầu tiên ngoài Bắc, do giáo sư Cao xuân Huy sáng lập năm 1949, với số sinh viên vỏn vẹn có bẩy người, gọi là thất hiền.(1).

Trường di chuyển, nhiều gỉảng đường bỏ trống. Gọi là giảng đường cho sang, sự thực đó chỉ là những căn nhà tiền chế. Tất cả những gì gọi là sinh hoạt văn hoá xã hội của giới trẻ Sai gòn kéo về, chiếm đóng những căn nhà tiền chế. Một phần dành cho CPS ( Chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường ), một phần dành cho hội hoạ sĩ trẻ, đoàn văn nghệ Nguồn Sống. Phần còn lại, một số sinh viên chúng tôi tịch thu làm Nơi tâp trung, hội họp. Hồi đó người ta tự hào thuộc giới trẻ, có lẽ vì thất vọng với những gì «lớp già » để lại. Gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ, một nước Việt buồn : hoạ sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ… quên rằng người ta sớm muộn gì cũng …già. Các « cụ » trong nhóm Người Việt, Thế kỷ 21 ngày nay đều là những người trẻ ngày xưa ở sân trường Văn khoa.

Phải sống ở Văn khoa những ngày ấy mới thấy sinh hoạt văn nghệ, sinh hoạt xã hội là một nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ, và nếu có cơ hội , sinh hoạt ấy bùng lên, tuổi trẻ bùng lên, đất nước không còn là một nước Việt buồn

Sống ở đó rất tiện : Văn khoa nằm ngay trung tâm thành phố, đi vài bước là tới những tiệm cà phê nổi tiếng trên đường Catinat, vài bước tới Khai Trí, tiệm sách lớn nhất Sài gòn, tha hồ đọc sách cọp. Ông chủ Khai trí là một người mê sách, muốn phát triển văn hoá, ông ấy khuyến khích sinh viên đọc sách cọp. Nhà cửa điện nước đều của chùa, rất tiện, trong khi hầu hết chúng tôi đều nghèo kiết xác, từ những ông hoạ sĩ trẻ, những ông văn nghệ sĩ có tiếng nhưng không có miếng ở đất nước của Tản Đà (văn chương hạ giới rẻ như bèo), những ông ký giả đầu tháng đã hết lương, những ngày cuối tháng khó khăn, nhất là 30 ngày cuối tháng (Coluche), đến đám sinh viên trong đầu đầy những mộng đổi đời, cải tạo xã hội và trong túi không có đủ tiền uống một ly cà phê.



ĐẠI BÁC ĐÊM ĐÊM VỌNG VỀ…



Từ 1963, sinh hoạt giới trẻ Sài gòn cực kỳ náo nhiệt. Chúng tôi sống ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà hay trong lớp học. Hết biểu tình, hội thảo chống đàn áp Phật giáo dưới thời ông Diệm, đến hội thảo, biểu tình chống các chính phủ thi nhau lên xuống. Xuống đường trở thành một sinh hoạt thường nhật. Giữa những cuộc biểu tình, những buổi hội thảo, thỉnh thoảng ghé vào giảng đường học vài chữ cho phải phép. Đó là giai đoạn giới trẻ tham gia tích cực vào đời sống chính trị xứ sở. Với lòng nhiệt thành, và cố nhiên với đôi chút ngây thơ. Ngây thơ tin vào sức mạnh vạn năng của tuổi trẻ, nhất là khi thấy chỉ vài buổi xuống đường cũng đủ lật đổ một chính phủ, một ông tướng, một chính khách ; quên rằng trong cái hỗn loạn của đất nước, người Việt chỉ là những quân cờ thí.

Trước tết Mậu thân, lớp trẻ Sài gòn còn tin tưởng, chưa hoàn toàn mệt mỏi, tuyệt vọng. Những ngày đầu thập niên 60, chiến tranh chưa thưc sự len vào thành phố, mặc dù hàng ngày vẫn đọc trên báo những cuộc đụng độ nẩy lửa ở Pleiku, Cà mau, Đồng Xoài, Bình giã ; thỉnh thoảng chứng kiến những vụ pháo kích ; thỉnh thoảng họp nhau, nhậu vài két la de, lạc rang, củ kiệu, tiễn một người bạn lên đường nhập ngũ. Chiến tranh còn ở xa, đại bác đêm đêm vọng về, người phu quét đường dựng chổi đứng nghe. Dân Sài gòn chưa thấy tận mắt những xác người nằm chết như mơ, những xác người nằm dưới mái sân chùa, trên giáo đường thành phố.

Sinh hoạt trẻ Sai gòn ồn ào, sinh hoạt trẻ Văn khoa còn náo nhiệt hơn nữa. Bên cạnh những hoạt động chính trị, những cuộc xuống đường, còn rất nhiều những đêm không ngủ, những hội Tết, những đêm văn nghệ Nguyễn Đức Quang, Nguồn Sống, những ngày túi bụi làm báo Xuân, nguyệt san Đối Thoại. Ở đó, (và ở trụ sở Tổng hội Sinh viên SG), Phạm Duy ra mắt trường ca Mẹ Việt nam, Vũ thành An ra mắt bài hát đầu tay. Chúng tôi, tuổi 20, kề vai nhau nghe Lệ Thu ngủ đi em, mộng bình thường ; ru em những tiếng thuỳ dương đôi bờ, nghe Thái Thanh ca tụng mẹ Việt nam không son không phấn, mẹ Việt nam chân lấm tay bùn ( Phạm Duy ); và thực tình xúc động với cái viễn ảnh Việt nam quê hương đất nước sáng ngời . Cái viễn ảnh ấy, trong những đêm không ngủ, tựa vai nhau, chỉ tưởng tượng cũng đã muốn khóc. Trước cái trống rỗng của hiện tại, và cái lo lắng cho một tương lại mù mịt, người ta ngồi sát lại nhau, người ta nắm tay nhau, xin chờ những rạng đông. Những câu hát đẹp như thơ của Sơn đã đi thẳng vào lòng người.

Phong trào hoạt động xã hội cũng phát triển rầm rộ. Ảnh hưởng của phong trào thanh niên chí nguyện quốc tế của Kennedy, những hội doàn như CPS, Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Chí Nguyện vv … mọc ra như nấm. Tuổi trẻ tích cực tham gia nhũng cuộc cứu lụt ngoài Trung, cải trang những xóm nghèo ở thành phố, leo lên những làng Thượng dạy học, đào giếng, chữa bệnh. Có anh tham dự những ngày cuối tuần, có anh bỏ học , hoạt động hai ba tháng, nhiều khi cả năm. Đó là một tuổi trẻ còn đầy lý tưởng, còn yêu đời, yêu người, còn đầy tình người trong mạch máu, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

Điều đó chứng tỏ tuổi trẻ rất tha thiết dến dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho đất nước. Nếu họ thờ ơ với đất nước như người ta than phiền, lỗi không phải ở họ : người ta đã không tạo cơ hội cho tuổi trẻ tham gia. Họ bị gạt ra ngoài lề. Đất nước không còn là đất nước của họ.



ĐƯỜNG PHƯỢNG BAY



TCS đến với Văn khoa trong bối cảnh đó. Sơn không phải sinh viên VK ; anh ở Huế vào, bỏ học vì hoàn cảnh gia đình. Những đêm trăng, chúng tôi ngồi trên baĩ cỏ trước quán Văn, nghe Sơn đàn, nghe Khánh Ly hát. Khánh Ly sinh ra để hát TCS, cũng như Thái Thanh sinh ra để hát Phạm Duy.

Quán Văn là một ngôi nhà tiền chế, nằm giữa sân trường VK. Một nhóm thổ công VK sửa sang lại, biến thành môt quán cà phê, làm nơi tụ họp, gặp gỡ. Đúng là môt cái quán, đơn sơ, nhưng đầy tình bè bạn. Giống như một cái quán ở miền quê, nơi người nông dân ghé qua, uống một bát chè tươi, hút một điếu thuốc lào, ngâm vài câu thơ, vài câu ca dao, tán gẫu với nhau sau những giờ lao động. Ở đó, chúng tôi khám phá ra cái đậm đà của tình bạn, cái thi vị của những buổi hẹn hò. Ở đó đã nở ra những mối tình, đôi khi dang dở, nhưng có nhiều cặp còn keo sơn tới ngày nay.

Người nhỏ bé, gầy gò, ăn nói nhỏ nhẹ, ôn tồn (tôi chưa hề thấy một TCS giận dữ, gây gổ ), Sơn trở thành bạn của mọi người một người một cách rất tự nhiên.

Đôi mắt tinh anh, láu lỉnh, nụ cười hiền lành như một thầy tu, Sơn có cái phong thái của một thi nhân, cái khiêm tốn của một người có thực tài. Từ cách nâng ly uống một ly rượu, tiếp truyện với bạn bè, cách trang phục, giản dị nhưng trang nhã, cái phong thái thi nhân ấy hiện diện ở Sơn, thường trực, tự nhiên. Đừng tưởng ông thi sĩ nào cũng có phong thái thi nhân. Sartre nói về Heidegger, một triết gia hàng đầu mà chính ông chịu nhiều ảnh hưởng : « có những người ta chỉ nên biết tác phẩm, không nên biết đến con người, nếu không muốn thất vọng ». Heidegger là một triết gia lỗi lạc, lại cũng là ngươi theo chủ nghĩa nazi. Tôi đã quen những ông thi sĩ, tác giả những câu thơ rất đẹp, ăn uống , cư xử như một con heo đực.

TCS ở ngoài đời rất giống TCS người ta tưởng tượng khi nghe những bản nhạc tình của anh.

Chúng tôi, mới đầu, ngạc nhiên thấy một gã người Huế, rất thanh nhã, rất ung dung, từ tốn ; không phải cái từ tốn của 1 ông già, mà là cái ung dung quí phái của một con mèo ; với nụ cười hiền hoà thường trực trên môi. Sơn học chương trình Pháp, nhưng xử dụng tiếng Việt một cách tài tình. Nhiều chữ rất tầm thường, với Sơn, chợt trở nên truyền cảm ; nhiều chữ do Sơn bịa ra, nhiều hình ảnh đến từ một trí tưởng tượng phong phú, nếu không nghe Sơn giải thích, chắn chắn không ai hiểu. Mặc dù vậy, người ta cũng vẫn rung động, vẫn thấy cái Sơn nói đến rất thực, rất gần gũi. Đó là cái ma lực của chữ nghĩa, của thơ. Khi thơ đạt, khi chữ nghĩa có duyên nợ với nhau. Nhiều chữ, nhiều câu rất cũ, đột nhiên ở Sơn trở thành rất mới. Nhiều chữ nhiều câu rất cầu kỳ, đột nhiên gần gũi. Khi thất tình - người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ-, khi tuyệt vọng , mùa thu không về, mùa xuân cũng ra đi,ngay cả khi nói đến chiến tranh tang tóc- xác người nằm như mơ-, TCS không lúc nào quên mình là thi sĩ.

TCS nói về những cái rất riêng tư, những kỷ niệm rất riêng tư, qua một ngôn ngữ rất riêng tư. Và lạ lùng, cái riêng tư ấy của thi sĩ thấm vào lòng người nghe. Người ta xúc động mặc dù không hiểu từng câu, từng chữ. Nhất là trong những bản nhạc tình. Nói về chiến tranh, ngôn ngữ TCS là ngôn ngữ của mọi người ; chiến tranh là một tai hoạ chung, một thảm kịch của cả một dân tộc, không phải là thảm kịch của một cá nhân, mặc dù mỗi cá nhân là một thảm kịch.

Một người bạn tôi nói khi nghe Sơn hát đường phượng bay mù không lối vào, anh thấy hình ảnh rất đẹp, rất mới , nhưng không biết tác giả nói gì, cho đến một hôm, ở một tỉnh nhỏ, anh thấy hoa phượng rơi, bị gió cuốn mịt mù, đỏ rực cả con đường trước mắt.

Nếu không quen Sơn, ít ai biết ngày mai nối bước Sơn khê, nói đến một người bạn gái tên Khê ; ngàn cây thắp nến hai hàng, mầu nắng bây giờ trong mắt em mô tả những tia nắng cuối cùng của một buổi chiều tà đọng trên những ngọn cây, giống như ngàn cây thắp nến. (2)

Ngôn ngữ TCS khác với ngôn ngữ Phạm Duy (PD). Ngôn ngữ PD là ngôn ngữ ca dao. Hình ảnh của PD là hình ảnh của ca dao. Nhiều câu, nhiều hình ảnh trong nhạc PD không hiểu là của PD hay mượn từ ca dao. Đó không phải một lời chỉ trích ; đó là một lời ca ngợi. Bởi vì dùng ngôn ngữ của một dân tộc, nói lên tình tự của dân tộc không phải ai cũng làm được, là một điều rất đáng tự hào. Lời ca của PD ai cũng hiểu, hình ảnh của PD ai cũng đã từng thấy, vì trong tiềm thức, chúng ta đã sống với ca dao từ hàng ngàn năm nay. Trong môt bài báo ngày xưa ở trong nước (3), tôi viết tiếng hát Thái Thanh không có tuổi, vì đã làm say mê ba thế hệ. Tôi nghĩ thêm : tiếng hát Thái thanh qua nhạc PD không có tuổi vì chúng ta vẫn nghe từ hàng ngàn năm nay. Tiếng hát ấy gợi ra trong đầu người nghe những cánh đồng lúa xanh, tiếng cười rúc rích cúa cô thôn nữ, những làn khói lam trên những mái nhà tranh, tiếng chuông chùa ngân nga, tiếng hò hát của người nông dân những ngày được mùa, tiếng nghẹn ngào của bà mẹ mù mắt chờ con đi chinh chiến, tiếng than vãn của những đời lầm than, đen tối.

PD sống với ca dao, thở với ca dao, cười khóc bằng ca dao. Ít có người Việt nam nào Việt nam hơn PD. Có lẽ có một người : Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là ca dao, ca dao là NB .



HAI NGHỆ SĨ, HAI CUỘC CHIẾN


Trên bãi cỏ trường VK, trước quán Văn, TCS và Khánh Ly hát trước hàng ngàn người hay chỉ năm, bẩy anh em. Không phải chỉ hát cho tình yêu. Sơn càng ngày càng bị ám ảnh bởi chiến tranh. Từ hình ảnh lãng mạn của người phu quét đường dựng chổi đứng nghe, chiến tranh trở thành cụ thể hơn, ghê rợn hơn :

Một buổi sáng mùa xuân
Một đứa bé ra đồng
Một trái mìn nổ chậm
Xác không còn đôi chân.


Nhạc tình TCS là những tiếng thở dài, có buồn cũng chỉ buồn thoang thoảng : mùa đông vời vợ, mùa hạ khói bay, có trách cũng chỉ trách nhẹ nhàng : người tình bỏ ta đi, như những giòng sông nhỏ. Một thái độ rất thiền, rất ‘zen’ ; trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi xuống trăm năm một cõi đi về.

Nói về chiến tranh, TCS kêu gào, phẫn nộ. Chiến tranh không còn từ xa vọng về như những ngày đầu, nó ở trước mắt : Xác người nằm trôi sông ; phơi trên ruộng đồng ; trên nóc nhà thành phố ; trên những đường quanh co. Cùng với cuộc chiến càng ngày càng dữ dội, tiếng kêu gào của Sơn càng ngày càng thảm thiết. Anh nói đến những em bé loã lồ, suốt đời lang thang, đếnnhững xác người nằm bơ vơ, dưới mái hiên chùa, đến những trái mìn nổ chậm, người chết hai lần. Chiến tranh trở thành khốc liệt, tang tóc đổ xuống dân tộc kinh hoàng . Từng vạn chiếc xe , claymore lựu đạn. Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành. Từng vùng thịt xương, có mẹ có em. TCS của chiến tranh trở thành một người dở điên, dở dại, thất thểu, chiều đi trên đồi cao, hát trên những xác người. Hình ảnh bi thảm, ma quái . Một thi sĩ thất thểu trên bãi dâu, hát bên những xác người . Đi trên đồi cao, bên cạnh xác người là một hình ảnh bi thảm, nhưng hát bên những xác người, hình ảnh mang thêm một cái gì ma quái, điên dại. Bi đát như chiến tranh với những con ngựa hý điên cuồng trong tác phẩm Guernica của Picasso.

Ngôn ngữ TCS về chiến tranh khác với ngôn ngữ TCS về tình yêu. Chiến tranh trong nhạc TCS cũng khác chiến tranh trong nhạc Phạm Duy.


PD có ‘’ cái may ‘’ sống trong một cuộc chiến tranh chống Pháp, có địch, có thù, chiến tuyến phân minh. PD, 24 tuổi lên đường tham gia kháng chiến, như hàng ngàn hàng vạn thanh niên khác. Chiến tranh trong nhạc tiền chiến của PD nó hào hùng, nó bừng bừng khí thế. PD tiền chiến không có cái cấu xé, cái dằn vặt. Cái chọn lựa của PD nó hiển nhiên. Nhạc PD không có cái lưỡng lự, nó là một tiếng quân ca, tiếng gọi lên đường. Bên cạnh cái hào hùng là cái lãng mạn của một trí thức tiểu tư sản ở tuổi 20, của một nghệ sĩ giầu tình cảm. Đó là cuộc chiến của những cô nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, của những chiến sĩ dừng chân trên chiếc cầu biên giớitưởng tới người yêu ở quê xa.

Điều đó không có nghĩa là trong nhạc PD không có cái bi thảm của chiến tranh. Nhạc PD có bà mẹ Gio Linh lên đường đi kiếm xác con bị giặc chặt đầu, có bà mẹ đón người con thương binh trở về, tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ. PD nói ông làm tới ba bài người thương binh vì ông sống qua ba cuộc chiến. Tác giả Con Đường Cái Quan nói ông khác xa những nghệ sĩ khác thời tiền chiến vì họ chỉ làm nhạc hùng ; trong khi ông nói cả đến cái bi thảm của chiến tranh. Nhưng cái tàn phá của chiến tranh, cái thảm hoạ đổ lên đầu dân tộc càng khiến PD thấy cuộc chiến tranh của mình có ý nghĩa hơn. PD thuộc những người, như Malraux nói, không thích chiến tranh, ( bởi vì có những người thích chiến tranh, coi đó là lẽ sống) nhưng tham chiến một cách dứt khoát vì là chuyện phải làm.

Cuộc chiến của TCS khác, cái nhìn của TCS khác. Đối với Sơn, đó chỉ là một cuộc nội chiến tương tàn. Nạn nhân là nước Việt, người Việt :

Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt nam cháy đỏ cuối thôn

Lật xác người chết, chỉ thấy đồng bào, cha mẹ, anh em :

Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi
Dưới hố hầm này
Trong vùng lửa cháy
Bên những vườn ngô khoai

Những câu hát làm người ta nghĩ đến chiến tranh của Quang Dũng :

Mẹ già tôi em có gặp đâu không
những xác già nua ngập cánh đồng
tôi cũng có đàn em nhỏ dại
bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông


Ngay cả ở cùng một thời điểm, cái nhìn về chiến cuộc của hai nhạc sĩ cũng khác nhau. Với TCS, đó là một cuộc nội chiến mà người Việt nam là nạn nhân. Với PD, đó là cuộc chiến Quốc Cộng nối dài, mặc dù sau này, Phạm Duy, vì cơm ăn áo mặc, hay vì một lý do gì khác, đã vứt bỏ cái hình ảnh của một nghệ sĩ dấn thân, đánh đổi vai trò thần tượng của một thế hệ để đóng vai trò ‘hàng thần lơ láo’.

Ca ngợi cái chết của một phi công-Phạm phú Quốc-PD gọi tên anh, anh là Quốc. Gọi tên anh, anh là nước. Đặt tình yêu nước vào nôi. Viết cho một phi công khác tử trận, TCS không nói đến chiến công, không ca ngợi anh hùng, chỉ nói đến một kiếp người : anh đã đến, đã bay cao trong vòm trời này, đã vui chơi trong cuộc đời này.

Trong « Em hỏi anh bao giờ trở lại » PD viết anh trở về bại tướng cụt chân. Nếu Sơn là tác giả, tôi nghĩ chắc Sơn viết anh trở về vì đã cụt chân. Đối với Sơn, không có chiến có bại ; chỉ có người Việt nam bị cuốn hút vào một cuộc chiến tương tàn. Nếu chưa bị cụt chân thì còn đánh nhau. Đó là một cái nhìn cực kỳ bi đát về cuộc chiến.



NGHỆ SĨ VÀ CUỘC CHIẾN


Trong cuộc chiến ấy, TCS không có chỗ đứng.

Người Cộng sản không chấp nhận anh là chuyện đương nhiên. Với người CS không có chuyện lưng chừng, lưỡng lự, phân vân.   Những người chống Cộng lên án Sơn đã trở cờ. Nhưng đọc kỹ những lời ca anh viết sau 75, không thấy một lời ca chứng tỏ anh về hùa, tâng bốc nhà cầm quyền. Nó vẫn chỉ là những lời ca ngợi tình yêu ; kêu gọi tình anh em, nghĩa đồng bào. Không hề thấy hô hào thù hận, như Xuân Diệu chẳng hạn, khi « nhà thơ của tình yêu ’’ ( ! ) kêu gọi đấu tố năm nào :

Lôi cổ bọn chúng ra đây
bắt quỳ gục xuống, dập đầu chết thôi
bắt chúng đứng, cấm cho ngồi…




Còn nhạc gọi là phản chiến trước 75 ? TCS chỉ làm công việc của một nghệ sĩ : diễn tả cái thảm kịch của chiến tranh, cái đoạ đầy của một dân tộc. Ai không chia sẻ giấc mộng của Sơn : khi đất nước tôi không còn giết nhau ,trẻ em đi hát đồng dao ngoài đường.


Một câu hỏi đáng được đặt ra : TCS có ảnh hưởng xa gần đến việc miền Nam thua trận ? Có thể. Rất có thể. Một người lính xúc động vì hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng ; từng vùng thịt xương có mẹ có em chắc chắn không chiến đấu hăng say bằng những người cuồng tín. Một người lính than vãn ‘ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè, ngựa hồng đã mỏi vó, chết trên đồi quê hương’, chắc chắn không hữu hiệu chém giết bằng một người lính suốt đời chỉ đưọc dạy ăn gan uống máu quân thù. Một quân đội suốt ngày nghe (trên dài phát thanh nhà nước !) những câu người già co ro, buồn nghe tiếng nổ. Em bé loã lồ, khóc trẻ thơ đi, chắc chắn không xả súng tưng bừng bằng một cán bộ suốt đời chỉ biết vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù.( Hò Kéo Pháo )Nhưng nếu cuộc chiến đấu của miền Nam có ý nghĩa, cái ý nghĩa ấy chính ở chỗ nó cho phép mọi người, trong đó có nghệ sĩ, được tự do diễn đạt tư tưởng của mình. Đó là cái yếu của một chế độ dân chủ, ngay cả dân chủ tương đối. Năm người mười ý, trống đánh xuối, kèn thổi ngược. Đó cũng là lẽ sống của một nền dân chủ. Cái giá phải trả ; bởi vì không có chọn lựa nào khác. Nói theo kiểu Winston Churchill : dân chủ là chế độ dở nhất, nếu không kể các chế độ khác.

Khó trách người nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình trước cái đau thương của đồng bào. Ngay cả Phạm Duy, tác giả bài ca tụng Phạm phú Quốc, người đã tử nạn trong chuyến oanh tạc Hà nội, gọi tên anh anh là Quốc, gọi tên anh là nước, gọi tình yêu nước vào nôi, cũng đã kêu giết người đi thì ta ở với ai ? Khó trách nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình. Cái điều lạ, cái cảnh khó tin nhưng có thực, là những đêm không ngủ chống chiến tranh ở Văn khoa ngày xưa diễn ra ngay ở trung tâm Sài gòn, với … cảnh sát, quân đội giữ an ninh chung quanh sân trường.



HUYỀN THOẠI DA VÀNG



Nhiều người trách cái ngây thơ chính trị của TCS. Nhưng cái ngây thơ chính trị của nghệ sĩ, của trí thức là chuyện rất phổ thông. Chỉ cần nêu trường họp Jean Paul Sartre, suốt đời hô hào ủng hộ cách mạng vô sản, nhắm mắt trước cái dã man, chà đạp nhân quyền trong những goulag. Chiến tranh, chính trị phức tạp hơn là tình cảm của nghệ sĩ.

Chẳng hạn, TCS day dứt về ‘thân phận da vàng’, đến kiếp nô lệ da vàng ; hết tiếng nói da vàng đến dư khúc da vàng. Làm như cái bất hạnh của dân tộc nằm trong cái nghiệp sinh ra từ mầu da, quên rằng nhiều dân tộc khác, cũng vàng khè không thua gì người An nam ta, đang tiến nhanh, tiến mạnh. Nhật Bản đã làm Tây phương thất điên bát đảo trên mọi phương diện, Đại hàn trở thành một cường quốc, Trung Hoa sẽ là một trong hai lãnh tụ thế giới, và những nước phát triển nhất trên địa cầu, Đài Loan, Singapore là những nước da vàng. Một triết gia nói : ‘có hai loại người, những người chấp nhận làm nô lệ và những người không chấp nhận’. Vàng, xanh, trắng, đỏ không liên hệ gì đến thân phận của một dân tộc. Ai đã gặp một người Nhật có mặc cảm da vàng ? Họ không muốn thua ai, không muốn bằng ai, họ muốn trên mọi người, đứng đầu thiên hạ, họ không biết hai chữ thân phận, vàng hay xanh.

Những câu hát phản chiến của TCS là những tiếng nói của tình cảm, không phải là một phân tách chính trị, không phải những hô hào chính trị. Đó chỉ là những giọt nước mắt, Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm, giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong, thoát ra từ trái tim, mặc dù những giọt nước mắt đó, vì khả năng truyền cảm của nó, chắc chắn đã có ảnh hưởng đến chính trị, đến chiến cuộc.


CHỮ NGHĨA ÍCH GÌ


Từ nhũng năm 64-65 chiến tranh càng ngày càng dữ dội. Xã hội càng ngày càng xáo trộn, tình hình chính trị càng ngày càng nát bét. Ngay cả trong bối cảnh đó, trường Văn khoa vẫn sinh hoạt mạnh. Số sinh viên càng ngày càng đông. Ban giảng huấn đã rất tận tuỵ góp phần vàp việc phát triển Văn khoa Sai gòn. Cố nhiên, đó chưa phải là một trường đại học tân tiến, kiểu mẫu. Phương pháp giáo huấn còn cổ hủ, từ chương khoa cử, chưa thực sự có đối thoại, trao đổi giữa thầy và trò. Nhưng ngay cả ở Sorbonne, cũng vẫn còn cái cảnh ông thầy ngồi trên giảng đường, thao thao bất tuyệt, đám sinh viên ngồi dưới hí hoáy biên chép như các cụ đồ ngày xưa dạy học

Nền giáo dục Việt nam thời đó hoàn toàn miễn phí, từ mẫu giáo đến đại học. Trong một nước chiến tranh, thực hiện một nền giáo dục hoàn toàn miễn phí là một cố gắng đáng kể. Người ta có thể chê trách chế độ rất nhiều điểm, nhưng đó là một điểm son phải ghi nhận. Điểm son đó là nhờ ý thức của những người có trách nhiệm, hay nhờ truyền thống tôn trọng học vấn của 1 xã hội Khổng giáo ? Khổng giáo, ít nhất trên phương diện đó, có khía cạnh tích cực với xã hội VN. Điều chắc chắn : nếu không có nền giáo dục hoàn toàn miễn phí, hầu hết chúng tôi đã bỏ học từ lâu.


Một câu hỏi luẩn quẩn trong đầu tôi từ nhiều năm : một trường Văn khoa đóng vai trò gì trong một nước chiến tranh ? Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy ? (Nguyễn Khuyến). Bên cạnh bom nổ, thịt rơi, cái sống cái chết gần kề, có phi lý không khi ngồi đó mổ xẻ Tứ thư ngũ kinh, phân tích tư tưởng Socrate, tìm hiểu nguồn gốc chữ nôm. Bên cạnh cái nghèo đói của một xã hội lạc hậu, có vô nghĩa không khi ngồi đó tụng niệm kinh điển bách gia, rung động với Lord Byron hay Beaudelaire ? Sartre nói bên cạnh một đứa trẻ chết đói, cuốn La Nausée không có một giá trị gì.

Câu hỏi ấy lởn vởn trong đầu, rất nhiều năm, và tôi đã thực sự nhiều lúc hoài nghi, không tìm được câu trả lời.

Câu trả lời, mãi sau này tôi mới tìm ra. Câu trả lời tên là Céline, một cô bạn Pháp. Một buổi chiều thứ bẩy, tôi lên phi trường đón Céline từ Sarajevo về. Céline là một thiếu nữ thông minh, có bằng cấp, có chỗ làm tốt trong một công ty lớn, sống nhàn hạ trong cái xã hội hưởng thụ là cái xã hội Pháp. Weekend bay qua Madrid hay Marakech. Mùa đông trượt tuyết ở Courchevel, mùa hè nghỉ mát ở Bali hay Bora Bora. Tóm lại, cô nàng có đủ thứ để hạnh phúc. Nhưng thay vì hạnh phúc, Céline lúc nào cũng tất tả ngược xuôi, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần ; nhất là tinh thần. Rồi thuốc ngủ, thuốc an thần, hết Lexomil đến Prozac.

Một buổi, Céline dẹp hết, bỏ việc, bán nhà, bán xe. Và biệt tăm. Adieu Céline. Cho đến cái hôm ở phi trương, tôi gặp lặi Céline, nhưng một Céline khác, má rất hồng và miệng rất tươi. Céline nói sau khi vứt bỏ mọi chuyện, cô nàng gia nhập một ban hợp tấu, lưu diễn khắp nơi. Céline là một tay violon thiện nghệ, từ nhỏ vẫn mơ thành nhạc sĩ. Céline lãnh một số lưng tượng trưng, đủ cà- phê, thuốc lá, vì ban nhạc thường đi trình diễn ở những nước nghèo. Họ vừa ở Sarajevo về. Trình diễn hoà tấu ở Sarajevo, nơi người ta giết nhau như ngoé, nơi người ta thí mạng để cướp một ổ bánh mì, một cái mền ? Ở đó, người ta chờ bột mì, thịt cá, đường muối, bột giặt, aspirine, ai chờ Beethoven với Mozazt ? Ban đầu, Céline cũng nghĩ như vậy. Nhưng đêm trình diễn nào cũng đông nghẹt.

Trong một ngôi nhà thờ đổ nát, một trường học còn đang cháy dở, mưa dột vì mái nhà bị pháo kích loang lổ, người ta chen lấn nhau tới nghe nhạc. Ban ngày, người ta chạy bom, dành giựt nhau miếng ăn, một mớ củi để sưởi. Đêm xuống, người ta kéo nhau đi nghe nhạc. Đàn bà lục hành lý, lôi ra những nữ trang, những bộ quần áo đẹp. Có ông thắt cà vạt chỉnh tề. Có bà vừa nghe nhạc vừa lặng lẽ khóc. Céline vừa chơi nhạc vừa cầm nước mắt. Cô nàng vừa tìm thấy hạnh phúc. Chưa bao giờ cô nàng thấy yêu đời như vậy, yêu mình như vậy. Lần đầu tiên, Céline thấy mình có ích. Cô ta tìm thấy hạnh phúc của mình trong cái hạnh phúc của người khác. Y chang tâm trạng của lớp người trẻ chúng tôi ngày xưa khi đi cứu lụt, đào giếng.

Céline nói có thấy tận mắt cái cảnh người ta lấy tờ báo che mưa nghe nhạc trong một ngôi nhà đổ nát, mới thấm thía cái câu quen thuộc của người Pháp : On ne vit pas que du pain. Người ta không phải chỉ sống bằng bánh mì. Ngay cả trong những lúc khốn cùng, cái đẹp, cái thẩm mỹ không phải là một xa xỉ, vô ích. Cái đẹp sẽ cứu nhân loại, không phải Marx hay Lénine, không phải Ben Laden hay Bush.

Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Người ta đã từng giết nhau, hành hạ nhau, bỏ tù nhau nhân danh thượng đế , nhân danh chính nghĩa, nhân danh giáo điều, nhân danh đất nước, nhân danh đồng bào, nhân danh chân lý. Chưa bao người ta giết nhau nhân danh cái đẹp. Người ta giết nhau vì thánh kinh, vì Coran, vì Hitler, vì Mao, vì Mác, chưa bao giờ người ta giết nhau nhau vì Picasso, Beaudelaire, Nguyễn Du. Sau này, khi giận hờn sẽ quên, những gì người ta nhớ lại về TCS là những bát hát, những câu thơ đẹp.

Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Cái đẹp không phải chỉ là những tác phẩm văn hóa. Cái đẹp còn là, cũng là, nhất là tình người, một xã hội của những người tử tế, lương thiện. Đem cái dối trá, đểu cáng, bất nhân làm tiêu chuẩn cho đời sống là cách hữu hiệu nhất để làm tiêu vong dân tộc. Biến tác giả của ‘tôi khờ dại quá, ngây thơ lắm. Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì’, của ‘ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì ’, thành một người gào thét, căm hờn lôi cổ bọn chúng ra đây, là một thành quả ghê rợn nhất của công cuộc huỷ diệt cái đẹp.

Ismail Kadaré nói ngay cả trong những lúc cực kỳ khó khăn vẫn phải có thái độ nghiêm trọng đối với văn hoá. Kadaré sinh ra, lớn lên và viết văn trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ở một nước Cộng sản độc tài bực nhất thế giới : Albanie. Kadaré viết văn trong một xứ kiểm duyệt khắt khe, một nước vỏn vẹn ba triệu dân, nghèo đói, người mù chữ đông hơn người biết đọc, biết viết. Và viết bằng tiếng Albanie. Mặc dầu vậy, ông viết văn với một thái độ cẩn trọng. Ngày nay, Kadaré được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế giới.

Nghệ thuật, cái đẹp có công dụng gì ? Chẳng có công dụng gì. Nhưng đời sống không có cái đẹp sẽ buồn tẻ biết bao nhiêu. Bức tượng của Michel Ange, bức tranh của Van Gogh không có công dụng gì, nhưng hãy tưởng tượng một thế giới không có Michel Ange, Van Gogh. Hãy tưởng tượng Paris không có tháp Eiffel, New-York không Nữ thần Tự do.

Nghe cô nàng Céline kể chuyện về những buổi trình tấu ở Sarajevo, tôi hiểu rằng trong một xứ chiến tranh, nghèo đói, một trường Văn khoa chẳng có ích lợi thiết thực gì, nhưng nó là cái cốt yếu cho một dân tộc còn muốn vươn lên .



ĐỜI SAO IM VẮNG



Tôi gặp lại TCS những ngày cuối cùng của năm 1999, khi về thăm Việt nam. Sơn ngồi trước một cái bàn nhỏ, trong sân Hội Văn nghệ sĩ gì đó ở Sai gòn. Vẫn nụ cười hiền lành, nhưng buồn bã, vẫn thái độ từ tốn, phong nhã,vẫn đôi kính đồi mồi nhưng trước mắt tôi là một TCS lục tuần bịnh hoạn, mệt mỏi, mặc dầu đôi mắt vẫn sáng lên khi nghe đến tin bè bạn. Sơn hỏi thăm tin tức về người này ở bên Tây, người kia ở bên Mỹ. Sơn nói về những người ở lại, kẻ mất, người còn.

Bơi trong cái áo sơ mi rộng thùng thình, Sơn nói :mình chỉ còn 39 kí. Sơn nói rượu đã tàn phá lá gan đến độ không có thuốc gì chữa nổi. Có người sẵn sàng đưa anh đi ngoại quốc giải phẫu gan nhưng anh từ chối. Sơn nói anh rất mệt, nhiều khi xây xẩm mặt mày vì bịnh áp huyết thấp (hypotension).

Vừa nói chuyện, Sơn vừa chào hỏi của những người qua lại. Vị nhạc sĩ lão thành, tác giả bài Dư Âm nổi tiéng hồi nào ở Hà nội (đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn mơ bao tiếng tơ…) kể chuyện đi thăm bác sĩ, chuyện thuốc men. Nhạc sĩ Trần Tiến nói về đêm ca nhạc thành công tuần trước. Ông Vũ Hạnh chạy qua chạy lại hối bài cho một đặc san kỷ niệm ‘cuộc chiến chống Mỹ cứu nước’.

Sơn ngồi đó, mỉm cười hiền lành, buồn bã. Tôi hỏi Sơn có tính đi ngoại quốc chơi một chuyến, nhân tiện chữa bệnh, dù tôi biết Sơn đang sống những ngày tháng cuối cùng. Nếu người nghiện rượu tiếp tục uống, dù có thuốc thánh, dù có gỉai phẫu gan cũng không thay đổi gì. Sơn không muốn nghỉ rượu, hay không nghỉ được. Sơn nói mình uống ít hơn trước nhiều. Sơn mỉm cười : mình sang đó, sợ các ông ấy đập mình. Rồi tiếp : sự thực thì ở bên Pháp không có vấn đề gì, bên Pháp ít có người quá khích ; kỳ trước mình qua Pháp, anh em đãi ngộ rất tử tế.

Sơn tiếp : nói cho đúng, mình mệt lắm, có muốn cũng không đi được. Sơn nói, từ tốn, không lộ một chút xúc động. Anh đang ở một cõi khác, những cái lăng nhăng ở cuộc đời này không liên hệ gì đến anh nữa. Nghe tôi sắp đi Nhật, Sơn nói đến một cô sinh viên Nhật Bản làm một luận án về nhạc của Sơn, về ngôn ngữ và chiến tranh trong nhạc TCS.

Khi tôi ra về, Sơn đưa cho tôi số điện thoại ở nhà riêng : « ráng đến chơi, mình có chuyện muốn nói. Thằng em mình, biết cậu về, chắc nó mừng lắm ». Em Sơn ngày xưa cũng la cà ở quán Văn.

Tôi nghĩ Sơn muốn nói những gì không thể nói được ở một nơi có nhiều người qua lại. Tôi ân hận vì không có thì giờ tới nhà Sơn như đã hứa, vì phải rời Việt nam ngày hôm sau. Tôi rời Sai gòn ngày mùng 1 tháng giêng năm 2000. Thế giới đang bước sang một thế kỷ mới. Tôi gọi điện thoại chào Sơn. Anh hỏi : cậu đi ngày đầu năm 2000, không sợ ‘’ sự cố ‘’ à ? . Tôi nói sự cố nó sợ tôi chứ tôi sợ gì nó. Hồi ấy, ở Sai gòn, người ta kỵ đi máy bay ngày đầu năm 2000. Sơn nói, gịong buồn : nếu gặp lại X,Y cho mình gởi lời hỏi thăm ; chắc mình không có dịp gặp lại anh em nữa. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè. Ngựa hồng đã mỏi gối chết trên đồi quê hương.

Mỗi lần nghe nhạc TCS, tôi nghĩ đến cái cô đơn cùng tận của người nhạc sĩ ngồi trước cái bàn nhỏ ngoài sân, mỉm cười với người này người kia, nhưng đầu óc ở một nơi khác. Sơn ngồi đó, cô độc. Một mình tôi về với tôi. Đem cái cô đơn của kiếp người nhân lên gấp 10, bạn có cái cô đơn của người nghệ sĩ, nhân lên trăm lần có cái cô đơn của người nghệ sĩ Việt nam, nhân lên ngàn lần có cái cô đơn của TCS. Cái cô đơn của một người suốt đời ca ngợi tình yêu, tình đồng bào – ngày mai sỏi đá cũng cần có nhau-mà cuối cùng bị chỉ trích từ mọi phía. Sơn ngồi đó, nâng niu cô đơn từng ngày. Cuộc đời còn nhiều đắng cay. Sơn ngồi đó, một mình, giữa nhiều người

Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang
Người về soi bóng mình
giữa tường trắng lạnh câm


Cái sân chỗ Sơn ngồi đông người qua lại, và ngoài đường xe hơi, xe gắn máy chạy loạn xà ngầu, nhưng Sơn ngồi đó, giữa tường trắng lạnh câm.


ANH ĐÃ ĐẾN, ĐÃ VUI CHƠI…



Sơn ra đi ngày 1 tháng tư 2001, hưởng thọ 62 tuổi. Sáu mươi hai tuổi , đời người như gió qua. Ở bên Pháp, ngày 1 tháng tư là ngày ‘ cá tháng Tư ,(poissons d’Avril), ngày người ta đùa nhau bằng những chuyện hoàn toàn bịa đặt. Báo cho một ông nhà văn hạng bét là ông ta vừa chiếm giải Goncourt. Thú với cô fiancée là đã có vợ với ba con, rồi sau đó cho hay đó chỉ là những cá tháng Tư, những chuyện đùa chơi.

TCS ra đi thật hay chỉ thả một một con cá tháng Tư ?

Sơn đã đến, đã vui chơi trong cuộc đời này. Bây giờ có lẽ anh đang bay cao trong bầu trời này. Nhưng, nhiều lúc, tôi tự hỏi có quả thật anh đã vui chơi trong cuộc đời này. Có bao nhiêu người Việt nam đã thực sư vui chơi trong cuộc đời này ?



(1)Tư tưởng Phương Đông / Cao Xuân Huy.- Nhà xuất bản Văn Học. Hanoi, 1995

(2)Trịnh Cung, Phan Thanh Tâm. Thế kỷ 21, May 2001

(3)Đất Mới. Saigon, 1966

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2016

Bàn Về Trung Cộng





Phan Hưng Duy



Gần đây tôi cũng thường theo dõi báo đài, các bản tin từ vietnamnet, BBC, VOA đến tận mạng sina, mạng fenghuang, mạng renmin của Trung Quốc. Bản thân cũng đã thu lượm được một bức tranh tương đối hoàn chỉnh với nhiều ý kiến khác nhau từ những bên khác nhau. Và dường như tôi càng đọc, tôi chỉ thấy được một điều rằng: mọi hành động của Trung Quốc là rất quá đáng, hung bạo, mang tính chất của một tên xâm lược còn mang nặng tư tưởng Đại Hán.



Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga (trái), bà Khương Du, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc (ảnh ghép - RFI)

Nếu ai biết tiếng Trung đọc một số bài gần đây nhất của một số học giả Trung Quốc, chúng ta còn thấy họ chửi VN thậm tệ, không ra gì.. Nhưng đã có ai trong số các bạn thử suy ngẫm xem đằng sau mọi hành động, mọi phát ngôn của Trung Quốc từ bà Khương Du đến các học giả được coi là “chính danh” của họ ẩn chứa mục đích gì? Đã bao giờ bạn liên hệ với thực tế trước đó với hành động & phát ngôn TQ hiện tại để phát hiện ra được điều gì chưa? Như trong một bài Note gần đây, tôi đã dịch một bài trên mạng “Quân sự thiên thiên” của Trung Quốc – một trong những trang mạng được coi như cứng rắn và “dân tộc chủ nghĩa” nhất tại TQ, bài viết có tên là “TQ sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề biển Đông, nước nào là đối tượng đầu tiên”.

Trong bài viết này, dù là những đối tượng ôn hòa hay hiếu chiến nhất cũng đều công nhận “4 điểm bất lợi khi TQ tiến hành tấn công các đảo tại biển Đông của VN”, và những người này đều khẳng định rằng: cái lợi mà TQ thu về không bằng những thiệt hại mà TQ phải hứng chịu khi tiến hành cuộc tấn công. Và trên những trang mạng như sina hay fenghuang, người TQ (những quan chức quân sự) cũng đã thừa nhận mục đích của những hành động mà họ gây ra với Việt Nam hay Phillipines đều nhắm vào một thỏa thuận có lợi với Mĩ tại diễn đàn quân sự Shangri La.

Ngoài ra TQ còn có mục đích khác chính là muốn thử thái độ cuả Việt Nam chúng ta và còn để thỏa mãn một bộ phận tại TQ “muốn dùng vũ lực giải quyết tranh chấp” tại biển Đông. Chứ thực sự những nhà lãnh đạo cũng còn lâu mới dám phát động một cuộc chiến tranh tổng lực tại biển Đông trong điều kiện TQ chưa phải là số một của thế giới và nên nhớ thực lực của TQ còn thua xa Mĩ. Còn nếu những nhà lãnh đạo này mù quáng thực thi một chính sách diều hâu thì chắc chắn tự họ sẽ chôn vùi dưới đáy biển Đông không chỉ tính mạng của binh sĩ, tàu bè, đạn dược mà còn là thành tựu kinh tế của quá trình Cải cách mở cửa trong suốt hơn 30 năm qua.

Thực lực của TQ cũng không cho phép TQ quá tự tin tiến hành những hành động quân sự đơn phương như Mĩ, không phép cho TQ thoát khỏi tình trạng“thao quang dưỡng hối”. Bởi nếu họ từ bỏ những gì mà họ đã tuyên bố, họ từ bỏ lời răn dạy của Đặng Tiểu Bình, từ bỏ một nước “TQ phát triển cùng thế giới” để trở thành một “cường quốc xét lại” thì họ chỉ đi theo vết xe đổ của các nước phát xít trước kia. Mà nên nhớ ngày xưa Phát xít còn có cả 1 phe Trục, còn nay TQ chỉ có một mình!

Các bạn à! Chúng ta đều là những con người yêu nước, đều là những con người có học, chúng ta cũng không thể phát ngôn hay hành động một cách thiếu suy nghĩ trước những vấn đề nhạy cảm như vậy. Bạn nên nhớ trong chính trị, trong quan hệ quốc tế, để giải quyết một vấn đề thì cái đầu luôn đi trước trái tim. Chúng ta phải nhìn cho thấu cho rõ sự việc rồi mới hành động. TQ thực sự vi phạm chủ quyền của VN và có những tuyên bố phi đạo lý. Đúng là như vậy! Nhưng những người làm những điều này là những kẻ mang nặng đầu óc Đại Hán của Trung Quốc – chỉ là một bộ phận nhỏ trong hơn 1 tỷ 3 dân TQ.

Chúng ta chống ở đây là chống tư tưởng cường quyền, Đại Hán, chống những hành động phi đạo lý chứ chúng ta không chống nhân dân TQ, không phỉ báng tiếng Trung, không phỉ báng những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã gian khổ lao động để cống hiến cho nhân loại.

Nhân dân TQ họ cũng giống như nhân dân VN vậy, họ cũng là những con người bình dị, cần cù, chịu khó và trọng lễ tín. Những con người TQ đó bạn phải tiếp xúc thực sự mới hiểu được họ! Trong xã hội nào cũng vậy thôi bạn ạ, cũng có người tốt kẻ xấu. Ngay cả ở VN ta cũng vậy. Vẫn còn tồn tại những kẻ miệng thì nói tôi chống “Tàu khựa”, tôi yêu đồng bào tôi lắm trên Facebook, nhưng còn ra bên ngoài sẵn sàng chửi bới, đánh những người đồng bào của mình sứt đầu mẻ trán chỉ vì những vụ việc nhỏ nhặt trên đường, vẫn còn những kẻ sống hoang tàn, phá hoại, là con sâu ăn bám của xã hội.. Và đó chỉ là những kẻ muốn mượn thời cuộc để đánh bóng bản thân, thực sự đó chỉ là những kẻ bỏ đi mà thôi.

Vẫn có những kẻ ở hải ngoại muốn lợi dụng tinh thần chống Trung Quốc của người Việt Nam để chia rẽ dân tộc, muốn áp đặt lại cái tư tưởng “Nam- Bắc kỳ”. Hay chính những tay gián điệp của TQ muốn kích động, lợi dụng quần chúng tại VN, nhằm thực hiện những mục tiêu phá hoại.

Bạn ạ, thái độ nhẫn nhịn của ta với TQ là có nguồn gốc truyền thống rồi, từ thời Trần Hưng Đạo khi triều đình chịu cảnh sứ giả "uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ", rồi thời Lê Lợi, giết được Liễu Thăng, nhưng mà vẫn phải cống cho nhà Minh 1 tượng Liễu Thăng bằng vàng.. TQ rõ ràng chỉ thử chúng ta, TQ nếu mà đánh thì bản thân TQ cũng không được lợi gì đâu.. Nên ở đây nói là nhẫn nhịn chứ không phải là nhục! Chúng ta chỉ hành động khi nào TQ có những hành động thực sự xâm phạm. Làm ngoại giao hay chính trị cái quan trọng là giữ được bình tĩnh và đừng nôn nóng.



Bạn à, hãy nhìn vào dân tộc Nhật Bản. Tại sao xuất phát điểm của họ từ một nước ngang hàng VN từ trước thế kỷ XIX mà họ đã vươn lên trở thành một cường quốc. Tôi cũng đã gặp gỡ nhiều người Nhật Bản và cái tôi nhận ra ở họ chính là sự điềm tĩnh, lòng can đảm.

Ở Nhật, trẻ em được dậy, trầm tĩnh là biểu hiện của can đảm, không để bị giao động vì những bất ngờ, không có gì có thể làm giao động, bình thản trong trận mạc, giữ bình tĩnh trước tai ương. Động đất không làm Samurai xao xuyến, Samurai cười trước bão tố, giữ được tự chủ làm thơ khi đợi cái chết đến.. Người Nhật Bản khiến tôi phải khâm phục, họ đã chỉ cho tôi những bài học về lòng can đảm, về sự bình tĩnh. Phải chăng chính lòng cam đảm, sự bình tĩnh đó đã giúp họ vượt qua được sự mặc cảm thấp kém, vượt qua được ảnh hưởng của những “ông thánh Trung Hoa” và trở thành một thực thể độc lập hòan toàn với Trung Quốc!

Bạn à! Hãy đừng có dễ dàng và vô tâm nói đến hai chữ “Chiến tranh”. Hãy đừng nói hai chữ đó, khi bản thân bạn chỉ là một kẻ suốt ngày ngồi trong phòng máy lạnh và giết thời gian một cách vô ích. Hãy đừng nói hai chữ đó khibản thân bạn chưa hiểu việc binh đao là như thế nào! Cũng đừng nói hai chữ đó khi bạn chưa hiểu độ thảm khốc của “Chiến tranh”. Bạn nên giữ bình tĩnh, bạn nên tỉnh táo! Bạn hãy yêu nước một cách thiết thực nhất, hãy biến những gì bạn suy nghĩ thành những hành động cụ thể và lí trí hơn. Theo tôi, những hành động đó tùy theo suy nghĩ của mỗi người nhưng mà đều có chung một cái nền tảng đó là “lí trí” và “trí tuệ”!

Chiến tranh không phải là điều mà 87 triệu con ngườ VN mong muốn, cũng không phải là điều mà 1,3 tỷ người TQ mong muốn. Chiến tranh chỉ là sản phẩm bẩn thỉu của những kẻ bá quyền mà thôi! Bản thân tôi, tôi yêu những người thân quanh tôi, tôi yêu con phố nơi tôi sống, tôi yêu mái trường nơi tôi học, tôi yêu đất nước nơi tôi sinh ra, tôi cũng có thể sẵn sàng bình thản chấp nhận cái chết khi đánh đổi bản thân tôi với những gì mà tôi yêu quí. Bản thân tôi cũng rất coi trọng, quí mến những con người TQ bình dị, những người bạn TQ của tôi, gia đình bác Diệp Kiến Quân- giảng viên trường Bắc Đại, những người đã gắn bó với gia đình tôi trong suốt 15 năm qua.. Và với tôi, để thể hiện tình yêu đó, nhiệm vụ duy nhất của tôi vẫn chỉ là học tiếng Trung thật tốt, nghiên cứu TQ thật sâu và luôn mong muốn một nền hòa bình thực sự lâu bền.

Phan Hưng Duy (098.797.3053)

“Trong trần ai, ai dễ biết ai?” hay chuyện Gieo và Gặt







Võ Hương An
Nhà Nghiên cứu, Hoa Kỳ.

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?
Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”


Người Việt Nam chơi câu đối đều biết đến đôi câu đối trứ danh này bởi vế ra mang nghĩa thách thức cả về nội dung lẫn hình thức với 4 chữ ai nhiều nghĩa, và vế đối đã hiên ngang trả lời chan chát không một chút do dự, nhún mình. Người ra câu đối là Đặng Trần Thường, thuộc phe chiến thắng; người đối lại là Ngô Thì Nhậm, thuộc phe chiến bại. Nhưng vì đâu nên nỗi?

Ai dễ biết ai” – Hồi một

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) – từ năm 1848 trở đi đổi gọi là Ngô Thời Nhiệm vì kiêng húy của vua Tự Đức là Nhậm và Thì – vốn thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc của đất Bắc, con của Ngô Thì Sĩ, quê làng Tả Thanh Oai, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội. Vốn thông minh, học giỏi nên năm 21 tuổi đỗ giải nguyên (thủ khoa hương cống, 1768), rồi tiến sĩ (1775), và ra làm quan vào đời chúa Trịnh Sâm (1763 – 1782) đến chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc, sau qua Thái Nguyên.

Năm 1788, vâng lệnh Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Văn Nhậm (rể Nguyễn Nhạc) đem quân ra Bắc, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đuổi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc. Cũng trong năm đó, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, giết Vũ Văn Nhậm, thu lại binh quyền, trực tiếp cai trị Bắc hà và kêu gọi các cựu thần nhà Lê ra hợp tác. Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Ngô Thì Nhậm… là ba trong số những người hưởng ứng lời kêu gọi của tân triều.

Vốn đã nghe tiếng Ngô Thì Nhậm nên khi được ông này ra hợp tác, Bắc Bình Vương rất lấy làm mừng, coi Nhậm như là của trời dành cho. Nhậm được phong ngay làm Tả Thị lang bộ Lại và chỉ một thời gian sau đó, thăng làm Thượng thư bộ Lại rồi Thượng thư bộ Binh. Khi Bắc B.nh Vương về lại Phú Xuân thì Ngô Thì Nhậm là một trong những người được tin cậy giao nhiệm vụ hợp tác với Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Nội hầu Phan Văn Lân lo việc cai trị Bắc hà. Quả thật, Ngô Thì Nhậm đã không phụ lòng tin tưởng của Bắc Bình Vương. Khi quân Thanh ồ ạt xâm lăng Việt Nam dưới chiêu bài “phù Lê”, chính Ngô Thì Nhậm đã đưa ra kế hoạch bỏ ngỏ Thăng Long, rút đại quân về giữ đèo Tam Điệp để bảo toàn lực lượng trong khi chờ viện binh từ Phú Xuân ra. Rồi sau khi đại thắng quân Thanh, cũng chính nhờ ngòi bút tài ba của Ngô Thì Nhậm qua những văn thư ngoại giao khôn khéo mà tránh được can qua có thể tiếp diễn giữa hai nước, biến nỗi tức giận thua trận của vua khi vua Quang Trung thăng hà (1792) thì ông không còn được tín nhiệm như trước nữa nên cáo lão về hưu.

Còn Đặng Trần Thường (1759 – 1813) là ai?

Đại Nam liệt truyện (sau đây gọi tắt là Liệt truyện) viết khá chi tiết về cuộc đời của ông này. Theo đó, Đặng TrầnThường người huyện Chương Đức, trấn Sơn Nam (nay thuộc Chương Mỹ, Hà Nội) cũng thuộc con nhà dòng dõi, đậu Sinh đồ (Tú tài) cuối đời Lê, có quen biết với Ngô Thì Nhậm từ hồi ở huyện Thanh Oai. Vốn học rộng và tự biết mình có tài nhưng chưa được ai biết đến nên khi thấy Ngô Thì Nhậm ra cộng tác với Tây Sơn và được trọng dụng thì ông tìm đến gặp Nhậm để nhờ tiến cử.

Theo Wikipedia, thấy thái độ khúm núm nhờ vả của Thường làm mất phong độ kẻ sĩ, Nhậm đã nói rằng:

“Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác”.1

Riêng Liệt truyện thì thuật lại rằng, trong cuộc gặp gỡ này, Nhậm đã không nhiệt tình giúp đỡ mà còn lên mặt kẻ cả đang lên voi, cho Thường một bài học khi hai người bàn về việc đời.

Nhậm nói: “Người quân tử quí ở chỗ biết thông biến mới có thể làm nên được công nghiệp, chứ kẻ thất phu chỉ biết tự tin mình, rồi có ích gì.”

Thường nghe vậy, rũ áo đứng dậy ra về. Về đến nhà, ông nói với người nhà:

Ta sẽ giết tên giặc ấy”2 và quyết chí tìm đường vào Nam để tiến thân với Nguyễn Vương nhưng chưa có cơ hội.

Tại miền Nam, sau khi tái chiếm Gia Định năm 1787, thế lực Nguyễn Vương ngày một mạnh.

Năm 1793, Nguyễn Vương lấy lại thành Diên Khánh và cuối năm đó, giao cho Đông cung Cảnh (tức Hoàng tử Cảnh) trấn giữ thành này. Vương cũng đồng thời cử một cận thần là Nguyễn Đình Đắc bí mật ra Bắc tìm người có tài để thuyết phục vào Nam giúp sức.

Đang muốn vào Nam, nay gặp được Nguyễn Đình Đắc là người có thẩm quyền được ủy nhiệm tìm đến cầu hiền thì còn cơ hội nào tốt hơn, đúng là vận hên đã tới, nên sau cuộc gặp gỡ này, Đặng Trần Thường rủ Nguyễn Bá Xuyên và vài người đồng chí hướng khác nữa vượt biển vào Nam.

Đặng Trần Thường đầu tiên cập bến Diên Khánh, nơi Đông cung Cảnh đang trấn nhậm. Yết kiến Đông cung, Thường không lạy mà chỉ vái ba cái (hành tam khấu lễ) với lời thưa rằng chưa gặp quân vương (Nguyễn Vương) nên chưa dám lạy Thái tử. Có lẽ đã được Nguyễn Vương hay Nguyễn Đình Đắc thông báo trước, lại thêm cái phong độ ra mắt của Thường hơi khác người – tôn kính nhưng không hạ mình, sợ sệt – nên Đông cung Cảnh sinh biệt nhãn, tiếp đón Đặng Trần Thường khá niềm nở, vui vẻ, tặng tiền lộ phí rất hậu để Thường dong buồm đi tiếp vào Gia Định.

Mùa xuân năm Giáp Dần (1794), thuyền đến cửa Cần Giờ. Ông cho người đi trước, mang biểu dâng lên Nguyễn Vương. Chúa Nguyễn xem biểu, thấy đây là người có tài nên ra lệnh cho tả hữu rằng khi Thường đến thì đưa vào ra mắt ngay. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, qua đối đáp rất trúng , Nguyễn Vương nhận ra đây là người mà Vương đang cần để giúp chóng hoàn thành nghiệp lớn nên tỏ rõ trọng đãi, ban ngay 300 quan tiền và 100 phương gạo để làm phương tiện định cư ban đầu.

Thấy được Nguyễn Vương biết tài và tin cậy nên từ đó Đặng Trần Thường ra sức bày mưu hiến kế để đem lại chiến thắng cho quân Gia Định. Ngay trong năm đầu tiên (1794) ở miền Nam, ông đã được đi theo đạo quân do Nguyễn Vương chỉ huy, giữ việc tham mưu, ra giải vây thành Diên Khánh cứu Đông cung Cảnh.

Với thành tích này, Đặng Trần Thường được thăng làm Hữu Tham tri bộ Lại (chỉ đứng sau Tả Tham tri và Thượng thư). Từ đó, ông thường được phái theo các đạo quân lớn của các tướng kỳ cựu như Tôn Thất Hội, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, khi th. giữ vai tham mưu, khi thì giữ chức phó tướng, chỉ huy một cánh quân, phối hợp chiến đấu, lập được nhiều công trạng.

Năm 1802, vua Gia Long tiến quân ra Bắc, chấm dứt nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước. Chức Tổng trấn Bắc Thành được lập ra, giao cho Nguyễn Văn Thành trông coi việc cai trị và trị an miền Bắc (gồm 11 trấn) với sự giúp đỡ của ba cơ quan lớn là Tào Binh, Tào Hộ và Tào Hình. Đặng Trần Thường coi Tào Binh. Năm 1809, ông được thăng Thượng thư bộ Binh nhưng vẫn coi Tào Binh, mùa đông năm 1810 được triệu về Kinh.

Trở lại, vào mùa Xuân năm 1803, ba cựu Thượng thư của triều Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan, sau một thời gian trốn tránh đã ra đầu thú vì nghe có lệnh tha. Cả ba được giải về Kinh.

Đặng Trần Thường nhân dịp này, dâng sớ, nói: “Bọn Nhậm là bề tôi nhà Lê, nỡ cam tâm thờ giặc [Tây Sơn], đặt lời dối trá để lừa bịp nước Thanh, hãm đồng loại vào con đường bất nghĩa… Thực là người có tội trong danh giáo, nếu không giết đi, lấy gì để răn bảo người sau”.3

Vua giao vụ việc cho các quan nghị tội. Nguyễn Văn Thành nói rằng tội của bọn Nhậm thật quá đáng chết nhưng vì đã có chiếu chỉ tha tội cho người ra đầu thú, nên nếu bây giờ giết đi, hóa ra nhà vua thất tín. Vì vậy, triều đình quyết định chỉ đem ba người ra trước Văn Miếu Thăng Long đánh đòn rồi tha về.

Đặng Trần Thường là người chủ trì việc thi hành án phạt. Chính trong cuộc giáp mặt sau mười lăm năm không gặp này đã làm nảy sinh đôi câu đối bất hủ. Ngồi trên ghế nơi công đường oai vệ. Đặng Trần Thường hất hàm hỏi Ngô Thì Nhậm đang quỳ dưới sân:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?

Họ Ngô không chút e dè, lấy mệnh trời đáp ngay:

Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!

Thấy tới bước đường cùng này mà kẻ thù xưa vẫn không chịu hạ mình thua cuộc, Đặng Trần Thường lấy làm giận lắm, sai lính đánh đòn. Sau khi cả ba cựu thần Tây Sơn chịu đòn xong thì được về nhà, hai người kia bình thường, riêng Ngô Thì Nhậm về nhà mấy hôm sau thì mất. Liệt truyện nói rằng, vì Nhậm bị đau quá, chịu không nổi mà chết nhưng nguồn tin khác lại ghi nhận rằng vì thù xưa quyết trả nên Thường đã bí mật ra lệnh cho lính tẩm thuốc độc vào roi, đánh thật đau, gây thành thương tích, thuốc ngấm vào người, về nhà thì tất Nhậm phải chết.

Wikipedia dẫn nguồn tài liệu không rõ kể rằng, trước khi chết, Ngô Thì Nhậm có làm bài thơ, sai người nhà chuyển đến cho Đặng Trần Thường, như sau:

Ai tai Đặng Trần Thường
Chân như yến xử đường
Vị Ương cung cố sự
Diệc nhĩ thị thu trường.

Nghĩa là:

Thương thay Đặng Trần Thường. Nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao tổ, rồi bị Hán Cao tổ giết ở cung Vị Ương. Kết cuộc của ngươi rồi cũng thế đó.

Tạm dịch:

Thương thay Đặng Trần Thường
Tổ yến nhà xử đường
Vị Ương cung chuyện cũ
Tránh sao kiếp tai ương?”

Quả nhiên bài thơ ứng nghiệm như một lời tiên tri hay một lời nguyền. Nhưng đó là câu chuyện thuộc “Ai dễ biết ai” – Hồi hai. Riêng tôi, không mấy tin chắc rằng đó là thơ của Ngô Thì Nhậm; biết đâu sau này có người hiếu sự, sau khi biết rõ cuộc đời hai người trong cuộc đã làm ra bài thơ đó cho đậm đà câu chuyện!

“Ai dễ biết ai” – Hồi hai
Tây Sơn có một tướng tài, người huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định là Lê Chất (1774 – 1826), hễ quân Gia Định của Nguyễn Vương đụng trận với Lê Chất thì thường thua đậm.

Chất làm đến chức Đô đốc, dưới quyền của Tư lệ Lê Trung. Từ năm 1797, khi thấy nội tình bất ổn và suy yếu của Tây Sơn, Chất đã có ý hàng Nguyễn Vương nhưng chưa có dịp.

Khi Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh giết, Lê Chất sợ bị vạ lây, bèn giả chết bằng cách đem một người có khuôn mặt giống mình cho uống thuốc độc, rồi phao lên Chất đã sợ mà tự tử, làm ma chay xong, ông bí mật đem mẹ và vợ con trốn vào núi Trà Bồng để tránh sự truy nã.

Màn kịch diễn ra hay đến nỗi ai cũng lầm, ngay cả mẹ Lê Chất lúc đầu cũng tưởng con mình chết thật, thương khóc thảm thiết. Sau đó, nhờ người giới thiệu, Lê Chất trốn vào Quy Nhơn đầu quân dưới trướng Đại Tổng quản Lê Văn Thanh.

Năm 1799, khi Võ Tánh đem quân đánh thành Quy Nhơn, Lê Chất đem 200 thuộc hạ về hàng, Nguyễn Vương cho đặt dưới quyền điều khiển của Võ Tánh, lập được nhiều chiến công ban đầu. Thu phục được thành này, vua đổi tên làm Bình Định, cho Lê Chất làm Tả đồn Thống chế. Sau đó thành bị Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu đem quân thủy bộ vào vây đánh rất ngặt, Võ Tánh phải vào thành cố thủ, phái Lê Chất về Gia Định.

Năm 1801, Nguyễn Vương đem đại binh giải vây Bình Định, Lê Chất giữ vai tiên phong, đánh rất hăng nhưng trước lực lượng bao vây hùng hậu của Tây Sơn, không làm gì được. Theo đề nghị của Võ Tánh, đạibinh Nguyễn Vương tiến ra đánh Phú Xuân. Lê Chất và Lê Văn Duyệt dẫn quân đi trước, đã phối hợp nhịp nhàng chọc thủng được phòng tuyến Tư Hiền, mở đường tái chiếm cố đô, lập công đầu.

Khi Lê Văn Duyệt, Lê Chất và Nguyễn Văn Thành được lệnh đem quân vào giải vây cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở thành Bình Định thì thành này đã thất thủ và cả hai đều tuẫn tiết.

Năm 1802, Nguyễn Vương ban bố niên hiệu Gia Long tại Phú Xuân, mở đầu một triều đại mới, sau đó cùng Lê Văn Duyệt, Lê Chất và các tướng khác đem quân ra Bắc, truy quét Tây Sơn, bắt được vua tôi Cảnh Thịnh, hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước.

Với công trạng này, Lê Chất được phong tước Quận công, mang ấn Bình Tây Tướng Quân.

Thấy Chất là bầy tôi mới, thuộc loại hàng thần mà được chức lớn, Đặng Trần Thường nói với những người thân cận rằng:

“Chất mà bình Tây thì ai bình Chất? Chất mà quận công thì ta nên 10 quận công”.

Lê Chất nghe vậy rất hận Đặng Trần Thường nhưng để bụng và cũng biết đang có sự ganh ghét ngấm ngầm nên trong lòng không yên, bèn dâng biểu nói:

“… tôi bất tài, mới phụ, ví với các quan lao khổ vạn phần, tài không kịp một phần, đã tước quận công, lại chưởng hậu quân, lạm ở cao quý, không dám tự đương, xin xuống đứng cùng hàng với đô thống chế”4 nhưng vua không chịu.

Trong thời gian vua Gia Long trị vì (1802 – 1820), Lê Chất đã được giao những nhiệm vụ quan trọng sau:

– Năm 1803, cùng Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm đốc xuất hàng vạn quân binh xây dựng Kinh thành Phú Xuân.

– Cũng trong năm đó, đang khi hộ tống vua Gia Long ra Bắc nhận sắc phong của nhà Thanh, đã theo lệnh vua cùng Nguyễn Văn Trương đem quân dẹp yên giặc biển ở Quảng Yên. Khi trở về, tiếp tục cùng các đại thần khác trông coi việc xây dựng cung điện, hoàng thành, tu sửa các lăng.

– Năm 1810, được cử làm Hiệp Tổng trấn Bắc thành.

– Năm 1813, làm Giám đốc Cục Bảo tuyền, cơ quan đúc tiền của Bắc thành.

– Năm 1818, làm Tổng trấn Bắc thành.

Năm 1826, Lê Chất xin nghỉ phép về quê Bình Định thì phát bệnh và mất tại đấy, hưởng thọ 53 tuổi(ta). Vua Minh Mạng nghỉ chầu 3 ngày, ban các loại gấm, sa, đoạn và 3.000 quan tiền để làm đám, tặng hàm Thiếu phó, thụy Trung Nghị.

Bi kịch “Ai dễ biết ai” – Hồi hai diễn ra khi Lê Chất lên nắm quyền ở Bắc Thành. Bấy giờ là năm Gia Long thứ 10 (1811), Lê Chất giữ chức Hiệp trấn Bắc thành (Phó Tổng trấn). Từ chỗ nghe phong thanh có sự man trá trong việc phong sắc thần thời Đặng Trần Thường làm việc, Lê Chất tìm hiểu, điều tra, phát giác ra có đến 560 đạo sắc phong cho thần linh là giả mạo (sắc phong của vua là thật nhưng thần giả, không đáng làm thần). Liên quan đến vụ này có Đặng Trần Thường, Tham tri Bộ Lễ Nguyễn Gia Cát cùng với con là Nguyễn Dục và Thiêm sự Vũ Quý Dĩnh. Điển hình là Vũ Quý Dĩnh đẫ làm sắc phong cho cha cố và bố mẹ vợ làm phúc thần và làm gian cho người khác nữa, còn Đặng Trần Thường dư biết Hoàng Ngũ Phúc là tướng họ Trịnh, người đã đem đại quân vượt lũy Trường Dục đánh chiếm Phú Xuân năm 1774, tiêu diệt cơ nghiệp chúa Nguyễn ở Đàng Trong mà vẫn che giấu, xin phong làm Thanh Danh Văn Võ Thánh Thần Đại Vương,… Khi bị xét hỏi, các người liên hệ đều thú tội. Vua Gia Long nói:

… Bọn ngươi làm gian trá, dối người khinh thần, không tội nào lớn bằng. Và cuộc biến loạn năm Giáp Ngọ (1774) Hoàng Ngũ Phúc là thủ ác, nay lại cất lên mà cho là thần, thế chẳng phải là bán nước sao? Việc ấy còn nỡ làm thì việc gì lại chẳng nỡ!”.5
Tất cả đều bị hạ ngục và vua giao án cho Bộ Hình nghị tội. Phạm Như Đăng cho là tội của Đặng Trần Thường nên cách chức, còn tội Gia Cát thì xử tử. Lê Bá Phẩm cho rằng cả hai cùng tội như nhau, sao hình phạt lại khác, vậy phải xử tội chết cả hai mới công bình. Vua chưa quyết định, đưa án nghị của Bộ Hình ra cho triều đình xét lại. Các quan lớn như Nguyễn Văn Thành, Lê Quang Định, Nguyễn Đức Huyên, Nguyễn Hữu Thận viện dẫn việc Thường và Cát đều có công, xin được theo bát nghị (8 hạng người được chiếu cố, xem xét giảm nhẹ hình phạt luận tội) mà xét xử.

Nhóm các quan lớn khác như Trịnh Hoài Đức, Trần Văn Trạc theo lời nghị của Phạm Như Đăng. Vua Gia Long quyết định:

Vũ Quý Dĩnh bị án trảm (chém), Thường và Gia Cát bị án trảm giam hậu (giam lại, chém sau).

Vào dịp duyệt xét các vụ án vào mùa thu (thu thẩm) năm Gia Long thứ 12 (1813), vua nghĩ thương tình cả hai đều có công trong thời gian phục quốc nên tha tội chết cho Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát, chỉ xóa tên trong sổ bộ các quan (quan tịch) và cho phép lưu ngụ tại Kinh.

Việc thoát chết của Thường không làm cho Lê Chất hài lòng, ông nén lòng chờ cơ hội khác.

Năm Gia Long thứ 18 (1819), Lê Chất lên giữ chức Tổng trấn Bắc thành, quyền uy tột bậc. Ông (hay thuộc hạ theo lệnh ông?) phát hiện ra những việc làm sai trái khác của Đặng Trần Thường, chẳng hạn che giấu thuế đầm ao, che giấu việc kê khai sổ đinh và sổ điền thổ (ẩn lậu đinh điền) liền tâu xin trị tội. Đặng Trần Thường liền bị hạ ngục để điều tra. Trong ngục, ông làm bài Hàn Vương tôn phú, lấy chuyện Hàn Tín giúp Lưu Bang dựng nên nhà Hán rồi bị vu tội để ví với mình, và khi có rượu vào thì phát ngôn bừa bãi, có ý oán hận. Bởi vậy, khi vua giao vụ án cho đình nghị, ông bị kết án giảo (thắt cổ ngay) và gia sản bị tịch thu.

Thế là màn kịch Đặng Trần Thường hạ màn nhưng chưa hạ màn với Lê Chất, dù đã chết.

“Ai dễ biết ai” – Hồi ba

Lúc sinh thời, Lê Chất giao du thân mật với Lê Văn Duyệt. Hai người rất ăn ý với nhau; năm 1824, ông cùng Lê Văn Duyệt rủ nhau xin từ chức Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, gây khó xử cho vua Minh Mạng không ít.

Lê Văn Duyệt mất vào năm 1832. Năm 1833, vua Minh Mạng bỏ chức Tổng trấn Gia Định thành, đổi các trấn ở phía Nam làm tỉnh và đặt các chức Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát. Cũng trong năm 1833, do sự hà khắc của Tổng đốc Bạch Xuân Nguyên, con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn khôi nổi loạn chiếm thành Phiên An và các tỉnh Nam Kỳ, triều đình mất ba năm hao binh tổn tướng mới dẹp yên.

Vua Minh Mạng rất giận về việc này. Biết ý vua, người ta mới truy cứu trách nhiệm đến Lê Văn Duyệt, làm thành án. Từ vụ Lê Văn Duyệt, Lại bộ Tả Thị lang Lê Bá Tú dâng sớ hạch Lê Chất phạm 17 tội (vì khi còn sống, cả hai người này chơi thân với nhau và ngầm cùng có ý không phục tùng vua). Khi vua giao triều đình nghị án, các quan lớn khác như Tổng đốc Nguyễn Công Trứ, Tuần phủ Hà Thúc Lương, Hộ phủ Trần Văn Tuyên lại tố cáo thêm tội khác và các đồng lõa khác.

Triều đình kết án Chất 6 tội xử lăng trì (xẻo thịt cho tới chết), 8 tội trảm (chém đầu) và 2 tội giảo (thắt cổ). Khi bản án dâng lên, vua Minh Mạng quyết định: vì Chất đã chết (1826) nên sai Tổng đốc Võ Xuân Cẩm san bằng mộ phần, dựng bia đá nơi mộ, đề mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xử” (Đây là nơi gian thần Lê Chất chịu hình phạt) để răn đời, truy thu các sắc phong, tịch thu gia sản (được hơn 22 ngàn quan tiền), đem cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ. Vợ là Lê Thị Sa bị đày làm nô tì, các con là Cận, Trương, Thường, Ky đều bị trảm quyết.

Năm 1848, đời Tự Đức, Đông các Đại học sĩ Võ Xuân Cẩn (nhạc gia của vua) xin vua truy lục công của Chất, nhờ vậy cháu là Luận được làm Cai đội. Năm sau, Tổng đốc Tạ Quang Cự xin vua rửa sạch tội cho Chất vua không chấp thuận, vì rằng về tư cách và công trạng, không thể đem Chất sánh với Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành. Vua xem việc tha dựng bia kể tội và thu dụng cháu tên là Luận vào hàng ngũ quan lại là đã tỏ ân điển của triều đình rồi.

Đến đây thì chuyện Trong trần ai, ai dễ biết ai? tạm kết thúc. Quả thật danh lợi làm điên đảo lòng người,gây ra biết bao thảm cảnh cho người, cười đó rồi khóc đó. Nguyễn Công Trứ, sau mấy chục năm quay trong cơn lốc xoáy ấy, đến khi thoát ra mới thấm thía mà hát rằng:


Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

V.H.A.

Tạp chí Nghiên cứu-Trao đổi số 56-8

CHÚ THÍCH
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Th%C3%AC_Nh%E1%BA%ADm
2, 3, 4 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Tập 2, Bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học (Huế: Thuận Hóa, 1997), 491, 494, 444.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1. Bản dịch của Tổ phiên dịch, Viện Sử học (Hà Nội: Giáo dục, 2002), 815.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Quốc sử quán triều Nguyễn. 2002. Đại Nam thực lục.Tập 1. Bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học. Hà Nội: Giáo dục.
Quốc sử quán triều Nguyễn. 1997. Đại Nam liệt truyện. Tập 2. Bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học. Huế: Thuận Hóa.
V. Hương-An. 2012. Từ điển Nhà Nguyễn. Califonia: Nam Việt.
http://vi.wikipedia.org/